Cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25


I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KINH T

NG THANH TM
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà n-ớc
ở việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
LUN VN THC S KINH T I NGOI
NG

I H

NG DN KHOA HC: TS. V C THANH
H Ni - 2012


Danh mục các chữ viết tắt…………………………………………………… i
Danh mục các bảng………………………………………………………… iii
Danh mục các biểu đồ……………………………………………………… iii
 1
 1:          
 6
 6
1.1.1. Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. 6
1.1.2. Bản chất và vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 8
1.1.3. Phân biệt cổ phần hóa và tư nhân hóa 10

 13
1.2.1. Cổ phần hóa, một yêu cầu bức thiết của các DNNN 13

  61

. 61
3.1.1. Quan điểm tiếp tục cổ phần hóa DNNN 61
3.1.2. Phương hướng tiếp tục CPH DNNN 62
ong
 64
3.2.1. Giải pháp chung 65
3.2.2. Giải pháp về cơ chế chính sách 67
 78
 80 - i -











 STT


NDT
Nhân dân tệ
10

Nghị định
11
NSNN
Ngân sách Nhà nước
12
NN
Nhà nước
13
SCIC
(State Capital Investment
Corporation)
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn
Nhà nước

- ii -

14
TCT
Tổng công ty
15
TTCK
Thị trường chứng khoán
16
TW
Trung ương
17

đồng
42
Bảng 2.3.
Một số chỉ tiêu cơ bản của DNNN sau cổ phần hóa
45




 







Trang
Biểu 2.1.
Tỷ lệ vốn Nhà nước trong tổng số vốn điều lệ (%) của
các DNNN đã cổ phần hóa qua các năm

cao hiệu quả quá trình CPH, nhưng các nghiên cứu đều chỉ nhìn nhận ở một
góc độ, phạm vi hạn chế hoặc khái quát chung, chưa đi sâu nghiên cứu để
đánh giá hết những khó khăn vướng mắc của quy trình CPH DNNN khi hội

- 2 -

nhập. Do đó, việc thực hiện đề tài C  c  
 c để đánh giá
tổng hợp và chi tiết về thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
quá trình CPH các DNNN trong điều kiện hiện nay là hết sức quan trọng và
cấp thiết.
2. c
Nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về quá trình cổ phần hóa các DNNN.
Có thể chỉ ra một số sách và bài viết về cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà
nước đến nay như sau :
Về sách chuyên khảo, tạp chí có thể nêu: Giáo trình “Quy định mới về
cổ phần hoá doanh nghiệp” của Lê Phú Hoành – Nhà xuất bản Tài chính,
2005. Cuốn sách tập trung làm rõ về cơ sở lý luận, những quy định về CPH
doanh nghiệp. “Cổ phần hóa – Kinh nghiệm thế giới” do Hoàng Đức Tảo chủ
biên – Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội năm 1993. Cuốn sách đánh giá thực
trạng cổ phần hóa thành công của một số nước trên thế giới. Sách chuyên
khảo “Cải cách DNNN ở Trung Quốc so sánh với Việt Nam” do TS Võ Đại
Lược, GS.TS Cốc Nguyên Đường chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học, Hà Nội
năm 1977. Cuốn sách khái quát một số vấn đề về cổ phần doanh nghiệp ở
Trung Quốc và bài học cho Việt Nam thời kỳ đầu. “Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” của Trần Sửu – Nhà xuất bản Lao
Động, 2006 bàn về cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa. Các yếu tố nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
“Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp sau Cổ phần
hóa” – “Kinh tế và Phát triển” số 9/2002, của Nguyễn Hoàng Anh nêu lên một

- 4 -

3. c cc.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá về những vấn đề lý luận, thực trạng cổ phần hoá,
chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình cổ phần hoá các doanh
nghiệp Nhà nước.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ
phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tổng hợp những vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước.
- Phân tích các chế độ, chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước trong các giai đoạn khác nhau ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt
Nam những năm qua.
- Tìm kiếm và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ
phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế trong thời gian tới.
c.
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình cổ phần hoá các doanh
nghiệp Nhà nước ở nước ta.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước từ năm 1992 cho đến nay và
định hướng những năm tới – khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào kinh
tế thế giới.

- 5 -


CHNG 1
C S L LU V TH TI C PH H DOANH NGHI
NH N TRONG B C H NH KTQT

1.1. Kh ni, b ch c.
1.1.1. Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước.
Cổ phần hóa (với nghĩa là chuyển thành công ty cổ phần(CTCP)) có thể
hiểu là việc chuyển bất cứ loại hình doanh nghiệp nào thành CTCP, từ doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đến DNNN hay hợp tác xã, là
một hình thức chuyển đổi sở hữu kéo theo việc chuyển đổi mô hình doanh
nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệm này chỉ được hiểu là việc chuyển
DNNN thuộc sở hữu Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông thuộc nhiều
thành phần kinh tế khác nhau. Ban đổi mới, phát triển DNNN cho rằng: “Cổ
phần hóa là quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần” [31, tr 32]. Quá
trình này được tiến hành bằng nhiều cách như: Giữ nguyên sở hữu Nhà nước
gọi thêm vốn góp từ các thành phần kinh tế khác nhau để thành lập công ty cổ
phần, tách một bộ phận DNNN đủ điều kiện cổ phần hóa và cuối cùng là bán
một phần hay toàn bộ doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước dưới hình thức cổ
phần cho các cổ đông.
Về mặt pháp lý, CPH DNNN là quá trình chuyển đổi mô hình doanh
nghiệp từ DNNN sang công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là một DNNN sau
khi đã hoàn tất qui trình CPH thì doanh nghiệp đó sẽ không còn tồn tại dưới
loại hình DNNN mà chuyển sang loại hình công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh
của Luật Công ty (nay là Luật Doanh nghiệp). Khi đã chuyển đổi hình thức
hoạt động sang CTCP thì địa vị pháp lý của DN đó phải hoàn toàn tuân theo
qui định của pháp luật về công ty cổ phần. Có nghĩa là toàn bộ các vấn đề liên

- 7 -


Vì vậy, từ những khái niệm trên có thể khái quát và đưa ra khái niệm
đầy đủ về cổ phần hóa DNNN như sau: Cổ phần hóa các DNNN là biện pháp
có tính đặc thù của quá trình đổi mới các DNNN, là quá trình chuyển các
DNNN thành công ty cổ phần. Đó là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một
chủ sở hữu Nhà nước sang sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó tồn tại một
phần sở hữu của Nhà nước; là quá trình huy động các nguồn vốn đầu tư phát
triển sản xuất, xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của DNNN; tạo điều
kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp. Tất
cả nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và giảm nhẹ gánh nặng của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Chương trình CPH bắt đầu được Việt Nam chính thức thực hiện từ năm
1992, được đẩy mạnh từ năm 1996, cơ bản hoàn thành năm 2010 và dự kiến
hoàn tất năm 2015 theo như mục tiêu đề ra khi gia nhập WTO.
1.1.2. Bản chất và vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
CPH DNNN là sau khi xác định giá trị doanh nghiệp theo giá thị
trường, giá trị đó được chia ra thành các cổ phần có giá trị bằng nhau. Số cổ
phần đó được đem bán cho các đối tượng có nhu cầu mua: các tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, các công ty tài chính, các quỹ đầu tư và người dân. Nhà
nước với tư cách là người bán có thể giữ lại một số cổ phần trong tổng số cổ
phần của doanh nghiệp. Sau khi bán xong, những người mua cổ phần, những
người chủ mới của doanh nghiệp họp lại và thông qua Điều lệ của công ty,
bầu Hội đồng quản trị, quyết định chiến lược và các phương án, kế hoạch kinh
doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, quá trình CPH DNNN ở nước ta thực chất là quá trình chuyển
đổi sở hữu một phần hoặc toàn bộ DNNN cho các thành phần kinh tế khác và
các cá nhân đầu tư. Xét về mặt bản chất, CPH DNNN chính là phương thức

- 9 -

thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu

qua việc mua cổ phần của doanh nghiệp, đồng thời cũng xác định được người
chủ của doanh nghiệp sau khi CPH, thúc đẩy người lao động hăng say làm
việc góp phần vào việc tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả doanh nghiệp.
- Cổ phần hoá sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thành lập thị
trường chứng khoán. Trong quá trình CPH, DNNN sẽ phải phát hành thêm
nhiều cổ phiếu để huy động vốn. Vì vậy, để cho các cổ phiếu được mua bán,
lưu chuyển thuận tiện trên thị trường cần phải có một thị trường chứng khoán
phát triển, một thị trường chứng khoán ổn định, lành mạnh và công khai. Việc
một thị trường chứng khoán đi vào hoạt động bền vững sẽ là điều kiện tốt để
thúc đẩy quá trình CPH, thu hút được nguồn vốn trong và ngoài nước.
1.1.3. Phân biệt cổ phần hóa và tư nhân hóa
Tư nhân hóa theo nghĩa rộng được hiểu theo mức độ điều tiết nền kinh
tế. Dưới góc độ này cần xem thị trường như một sân chơi trong đó mỗi nhà
đầu tư chiếm lĩnh một khoản nhất định và chi phối thị trường theo tiềm lực
thực chất của mình; Nhà nước lúc này với tư cách là nhà đầu tư khi đó cũng
bình đẳng và tuân theo quy luật này. Tư nhân hoá sẽ biểu hiện theo từng mức
độ: Tăng cường khả năng tự chủ về vốn và tổ chức hoạt động của DNNN;
Chuyển các ngành sản xuất trước kia do Nhà nước nắm giữ sang khu vực kinh
tế tư nhân; Giảm sự can thiệp kinh tế bằng cách nới lỏng hoặc bỏ bớt các quy
định của Nhà nước can thiệp vào thị trường. Quá trình này đồng nghĩa với sự
biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của
một nước theo hướng ưu tiên thị trường. Theo nghĩa này tư nhân hoá là toàn
bộ những chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích, mở rộng và phát
triển kinh tế tư nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt

- 11 -

sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của đơn vị kinh tế,
dành cho thị trường vai trò điều tiết đáng kể.
Tư nhân hoá theo nghĩa hẹp được xem như quá trình chuyển sở hữu

động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh
nghiệp, đồng thời thông qua CPH mà phát huy vai trò làm chủ thật sự của
người lao động. Trong khi đó, tư nhân hóa mục tiêu là xóa bỏ hẳn những
DNNN mà Nhà nước xét thấy không cần thiết nắm giữ. Về hình thức, CPH
đối với các DNNN được thực hiện tùy thuộc vào hình thức cụ thể mà DN lựa
chọn trong những hình thức mà Nhà nước hướng dẫn rồi đề xuất lên cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt ra quyết định. Hình thức tư nhân hóa
DNNN lại chỉ là bán toàn bộ tài sản thuộc sở hữu Nhà nước ở các DNNN cho
tư nhân và xóa bỏ luôn DNNN này. Về nội dung, tư nhân hoá là chuyển sở
hữu tài sản của Nhà nước vào tay tư nhân hay nói rộng hơn là chuyển các lĩnh
vực hoạt động trước đây do Nhà nước độc quyền sang khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh. Cổ phần hoá là chuyển sở hữu tài sản và lĩnh vực trước đây do
Nhà nước nắm giữ vào tay các thành phần kinh tế khác nhau, trong đó có cả
thành phần kinh tế Nhà nước. Qua phân tích trên chúng ta nhận thấy rằng giữa
cổ phần hoá và tư nhân hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng luôn là
các khái niệm có ranh giới phân biệt. Sự phân biệt này phụ thuộc vào mức độ
chuyển đổi sở hữu một phần hay toàn bộ (vốn và tài sản) của DNNN khi
CPH. Kết quả cuối cùng của CPH là chuyển từ một doanh nghiệp thuộc sở
hữu Nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước thành một Công
ty cổ phần hoạt động theo Luật công ty (nay là Luật Doanh nghiệp).

- 13 -

Với cách làm của Việt Nam, CPH các DNNN hoàn toàn không phải tư
nhân hoá. Với những DNNN nắm giữ trên 50% vốn sau khi cổ phần, thì theo
Luật Doanh nghiệp, nó vẫn là DNNN. Qua khảo sát thực tế, đến thời điểm hết
năm 2010, chưa có doanh nghiệp nào rơi vào tay một hoặc một nhóm cổ
đông, mà đang là của tập thể người lao động. Phần lớn loại hình doanh nghiệp
mà Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ thì đều có thành viên trong Hội
đồng quản trị là đại diện phần vốn Nhà nước.

gian qua, nhiều DNNN tập trung đầu tư theo diện rộng, thậm chí cả lĩnh vực
không phải thế mạnh của mình, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh kém.
Chính vì vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại hệ thống DNNN là một đòi hỏi
tất yếu. Việc định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường, hội nhập
KTQT đòi hỏi phải tạo ra cho nền kinh tế sức mạnh thực sự, trong đó DNNN
là nòng cốt, để đủ khả năng dẫn dắt, điều tiết và đinh hướng các thành phần
kinh tế khác.
Từ thực tiễn tiến hành phát triển nền kinh tế đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và những kinh nghiệm thu được qua quá trình chỉ đạo, điều
hành sản xuất kinh doanh chúng ta đã xác định được rằng cải cách DNNN
một cách triệt để, là yêu cầu có tính chất quyết định để tăng cường động lực
phát triển sản xuất và thúc đẩy DNNN hoạt động có hiệu quả hơn. Trong
nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã tập trung tiến hành công tác sắp xếp
đổi mới các DNNN và đã đạt được một số kết quả nhất định như giảm mạnh
số lượng DNNN, nâng cao quy mô vốn bình quân, giảm bớt được sự tài trợ
của ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các
DNNN, bước đầu đã phát huy quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế
cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

- 15 -

Tuy nhiên do đặc điểm và thực trạng DNNN vẫn còn phải tiến hành
một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phức tạp
trong các lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt được kết quả
mong muốn. Hiện nay ngoài những khó khăn xuất phát từ nội bộ nền kinh tế,
thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và thế giới đang
tiếp tục lan rộng và theo chiều hướng xấu đến nền kinh tế nước ta, điều này
cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng cao hiệu quả và sức mạnh của
nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nước một cách ổn định, vững
chắc không những cho năm trước mà còn tương lai lâu dài. Nghị quyết hội

và bền vững. Qua thực tiễn tiến hành CPH DNNN ở nước ta và qua kinh
nghiệm của một số nước xung quanh, điển hình là Trung Quốc chúng ta thấy
việc CPH đáp ứng được yêu cầu bức thiết của công cuộc cải cách DNNN
trong việc giải quyết một số vấn đề gay cấn như :
Khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của DNNN. Còn về nhận
thức, tài sản Nhà nước vẫn là tài sản chung nên tình trạng vô trách nhiệm,
lãng phí của công vẩn chưa được khắc phục. Khi DNNN trở thành công ty cổ
phần thì mặc nhiên điều này sẽ không còn tồn tại. Huy động được nguồn vốn
trong xã hội, cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển
của doanh nghiệp, một mặt vừa góp phần tháo gỡ được khó khăn cho ngân
sách Nhà nước. Mặt khác vốn và tài sản của DNNN nhờ CPH thu hồi lại sẽ
được đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng thêm tài sản cố định, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Tạo động lực mới trong quản lý doanh nghiệp. Ở CTCP
người chủ mới của DN gắn chặt với sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh
doanh, vì thế họ rất đoàn kết gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tìm
kiếm và đưa ra phương hướng hoạt động phù hợp nhằm tăng sự cạnh tranh
của sản phẩm họ sản xuất ra, quan tâm tới công ty, lao động với tinh thần
trách nhiệm cao. Mặt khác đây là công việc rất nhạy cảm, song ta lại chưa có

- 17 -

kinh nghiệm để khi triển khai CPH vừa mang lại tăng trưởng kinh tế vừa giữ
vững hướng XHCN vì vậy phải tiến hành thận trọng phải dần dần qua thực tế
để hoàn thiện.
Về nhận thức: Một số bộ và địa phương, Tổng công ty Nhà nước chưa
nhận thức đầy đủ ý nghĩa chủ trương CPH một bộ phận DNNN, do đó thiếu
tính chủ động và chưa kiên quyết trong việc tổ chức triển khai thực hiện.
Công tác tuyên truyền vận động từ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước từ
trung ương đến địa phương chưa được đẩy mạnh.
Tồn tại trong bộ phận DNNN khi tiến hành CPH: Nói chung các

quyền hạn được phân công.
1.2.2. Yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Cổ phần hoá DNNN là tiêu chí chủ đạo trong xu thế hội nhập. CPH sẽ
không làm mất đi vị thế thống soái của DNNN vì thực tế 49% cổ phần của
các cổ đông vệ tinh sẽ không phải là vai trò độc quyền. Nhưng một khi các
DNNN đã CPH, mục tiêu và gánh nặng tăng trưởng cổ tức sẽ phá tan lề lối
làm việc cố hữu, không mấy hiệu quả của những DNNN.
Hội nhập kinh tế quốc tế, các DNNN sẽ phải nâng cao chất lượng sản
phẩm, dịch vụ, cạnh tranh xuất hiện. Sau khi trở thành thành viên của WTO,
Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực để đẩy nhanh quá trình sắp xếp và đổi mới
DNNN, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, cắt giảm các hình thức trợ cấp
không phù hợp và xóa bỏ sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp tư
nhân trong nước và nước ngoài. Các DNNN không còn nhận được trợ cấp
trực tiếp từ Ngân sách Nhà nước hoặc ưu đãi chính sách, kể cả các nghĩa vụ
đối với NSNN cũng như tiếp cận với hệ thống tín dụng. Áp lực cạnh tranh
ngày càng tăng và những thay đổi thể chế đối với DNNN do việc gia nhập

Trích đoạn Yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đối tượng CPH DNNN Các hình thức cổ phần hóa DNNN Khái quát về cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc Giải pháp về cơ chế chính sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status