Tiểu luận môn tài chính tiền tệ THỰC TIỄN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM - Pdf 22



ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
BỘ MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài :
THỰC TIỄN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
THỰC TIỄN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH
VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

GVHD
GVHD
:
:
TS. Diệp Gia Luật
TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 1
Nhóm 1
: Nguyễn Thị Trà My
: Nguyễn Thị Trà My
Nguyễn Hữu Thắng
Nguyễn Hữu Thắng
Đinh Quang Thuần
Đinh Quang Thuần
Đinh Lệ Mỹ Trang

/$%&'!012 /
/&%3' 4
1.5. SƠ NÉT VỄ THỰC TRẠNG CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 16
4567 "89:;*<=>
4:,0?@ !A "BCDE
4(F =D1GHI0JAK'!LFE
4/ ":,0?*A&"B#
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TR7NH CPH DNNN Ở VIỆT NAM: 19
M"'NOPLFFFQ5F2R
K'*< &!OPLFFFR
S7-T,89F*<R
?L7UCDLFFFPO V
WG V
(X1N&D&*'NPOLFFF5F2
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
2
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
&D 01N&D&*2 
?FBY /
/$GC,&Z=NPO2 
4FBD'NPOE
F=TU[&1B *<\PO*<2(
2.2. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HÓA DNNN VIỆT NAM 32
5!KANNC]FF*<2(
5!KLFF*<2 (#
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
3
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật

5
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Chương 1:
THỰC TIỄN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. GIỚI THIỆU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA MỘT DOANH NGHIỆP
Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp thường được tiếp cận dưới 2 góc độ khác nhau, đầu tiên là
cấu trúc về các loại tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ và tiếp đến là cấu trúc của các nguồn
tài trợ để hình thành nên các tài sản đó.
1.1.1. Cấu trúc tài sản doanh nghiệp
Xét trên bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp thì đây là những chỉ tiêu nằm bên trái của
bảng, chúng phản ánh quy mô, kết cấu, đặc điểm của những tài sản đang trực tiếp tham gia vào
quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như là tiền mặt, hàng tồn kho, các khoản phải
thu…
Cụ thể gồm những chỉ tiêu như sau:
 Tài sản lưu động: là loại tài sản có thời hạn sử dụng dưới 1 năm, thuộc nhóm này gồm có:
- Tiền mặt: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư có thời hạn dưới 1 năm như
chứng khoán có tính thanh khoản cao, gửi tiết kiệm ngắn hạn tại ngân hàng…
- Các khoản phải thu: là các khoản nợ của khách hàng mua hàng, hoặc tiền ứng trước cho
nhà cung cấp hoặc các dịch vụ của công ty cung cấp cho khách hàng theo phương thức
tín dụng thương mại (trả chậm) …
- Hàng tồn kho: gồm các loại tài sản như công cụ dụng cụ, nguyên vật liệu, sản phẩm sản
xuất dở dang, thành phẩm, hàng hóa …
- Ngoài ra, còn có 1 số loại tài sản lưu động khác như là các khoản thế chấp, ký quỹ, ký
cược, các khoản tạm ứng, các chi phí trả trước ngắn hạn …
 Tài sản cố định: là những tài sản tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và thỏa mãn được
các tiêu chuẩn của tài sản cố định, bao gồm:
- Tài sản cố định hữu hình: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải …
- Tài sản cố định vô hình: quyền sử dụng đất, bằng phát minh, sáng chế, quyền tác giả …
- Tài sản cố định thuê tài chính: là những TSCĐ doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài

doanh của doanh nghiệp. Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài
hạn, có thể huy động được số vốn lớn tức thời. Tuy nhiên, sử dụng vốn vay phải hết sức
chú ý đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lý, đúng
mục đích; quản lý tốt quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ và kỳ thu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh
phải được lập bám sát thực tế nếu không vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với
doanh nghiệp.
- Trái phiếu doanh nghiệp: Là một hình thức tài trợ nợ dài hạn. Một trái phiếu là là một
hợp đồng nợ dài hạn, trong đó người phát hành trái phiếu hứa trả cho người giữ trái phiếu
nột khoản lãi cố định và vốn gốc vào thời điểm đã định.
- Thuê mua tài chính: (Finance lease) hay còn gọi là thuê vốn (Capital lease) là một
phương thức tín dụng trung và dài hạn, theo phương thức này, người cho thuê cam kết
mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản
đó. Người thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được
thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn. Khi kết thúc hợp đồng thuê, bên
thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện
thỏa thuận khi ký kết hợp đồng.
- Tín dụng thương mại: Đây cũng là một nguồn vốn tương đối quan trọng trong doanh
nghiệp. Nguồn vốn này xuất phát từ việc doanh nghiệp chiếm dụng tiền hàng của nhà
cung cấp (trả chậm), việc chiếm dụng này có thể phải trả phí (lãi) hoặc không phải trả phí
nhưng lại đáp ứng được việc doanh nghiệp có nguyên vật liệu, điện, nước, để sản xuất
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
7
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
kinh doanh mà chỉ phải bỏ ra ngay lập tức một số tiền ít hơn số tiền đáng lẽ phải bỏ ra
ngay lập tức để có được số nguyên vật liệu, điên, máy móc, để tiến hành sản xuất. Như
vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ tiền mặt của mình cho mục đích khác. Tuy nhiên,
sử dụng nguồn vốn này cần lưu ý: không nên chiếm dụng quá nhiều hoặc quá lâu một
khoản nợ nào đó vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp với đối tác, với thị
trường hoặc kiện tụng pháp luật, tốt nhất nên có sự thoả thuận về việc chiếm dụng vốn.
- Các nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp khác: Thuế và các khoản phải nộp NSNN, lương

- Phân phối theo cổ tức: Doanh nghiệp không bắt buộc phải chia cổ tức cho các cổ đông
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
8
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
hành năm. Khi doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả, Ban hội đồng quản trị của doanh
nghiệp sẽ đưa ra biểu quyết nên chia cổ tức cho cổ đông là bao nhiêu, hay giữ lại toàn bộ
lợi nhuận dùng cho việc tái đầu tư hoặc thực hiện các dự án mới với tỷ suất lợi nhuận
cao.
- Ưu tiên thanh toán thấp nhất: Trong tình trạng doanh nghiệp lâm vào trạng thái phá sản
thì các khoản tiền nợ cổ đông là phần được ưu tiên trả sau cuối cùng bởi vì khi nhà đầu tư
quyết định mua cổ phần một doanh nghiệp nào tức là nhà đầu tư cũng như đã tham gia
điều hành doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là họ cũng phải gánh chịu một phần rủi ro của
doanh nghiệp.
- Dễ dàng huy động: Việc niêm yết cổ phiếu lên sàn sẽ được tiến hành dễ dàng hơn là đề
trình chính phủ phát hành trái phiếu cho một doanh nghiệp. Một lý do nữa, khi công ty
làm ăn phát đạt thì thị trường định giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó cao hơn rất nhiều
giá trị nội tại của nó. Điều này làm tăng lợi nhuận tài chính cho doanh nghiệp và khoản
lợi nhuận do chênh lệch giá cho các cổ đông hiện hữu.
Tuy nhiên trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam thường là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Do đó, thật sự không dễ dàng cho các doanh nghiệp nếu muốn tiếp xúc được với nguồn
vốn dồi dào này.
 Khuyết điểm của việc sử dụng vốn cổ phần:
- Chi phí sử dụng vốn cao: Vì không người đầu tư nào bỏ tiền đầu tư vào doanh nghiệp
gánh chịu những rủi ro về họat động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà lại chịu
nhận tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này cùng với tính chất không được miễn trừ
thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn.
- Chịu sự kiểm soát của nhà đầu tư: Khi vốn chủ sở hữu càng cao, số lượng người chủ sở
hữu càng nhiều, thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý, giám sát của
họ lên các nhà điều hành doanh nghiệp càng lớn.
b. Nợ:

overinvestment – đầu tư thái quá. Nếu doanh nghiệp không có hội đồng quản trị giám sát
chặt chẽ thì hiệu ứng đầu tư thái quá này này sẽ xảy ra nhiều. Nhưng nếu doanh nghiệp
mượn nợ để tài chánh cho những khoản đầu tư, thì việc phải trả lãi định kỳ, cũng như trả
vốn theo định kỳ sẽ ngăn, hoặc giảm việc đầu tư thái quá này.
- Giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý: Các chủ nợ của doanh nghiệp sẽ không
được tham gia điều hành và quản lý doanh nghiệp. Doanh nghiệp có trách nhiệm trả nợ
(gốc và lãi) cố định hàng tháng, hàng quý hay hàng năm theo sự thoả thuận giữa doanh
nghiệp và chủ nợ. Trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, đây chính
là khoản tiền ưu tiên thanh toán trước.
 Khuyết điểm của việc sử dụng nợ:
- Nợ tạo ra chi phí “hao mòn” doanh nghiệp và phá sản: Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ
phá sản. Một công trình nghiên cứu tại Mỹ cho thấy chi phí phá sản chiếm khỏan 3% thị
giá của tất cả các doanh nghiệp niêm yết. Nghiên cứu còn cho thấy chi phí “hao mòn”
doanh nghiệp (cost of business erosion) còn cao và nghiêm trọng hơn nhiều. Những
doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao, sẽ "nhát tay” trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tư.
Chúng cũng có khuynh hướng giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tương lai như
chi phí nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựng thương hiệu. Kết quả là những
doanh nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp. Mức nợ cao
còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp. Nguy cơ càng
cao hơn khi sản phẩm của doanh nghiệp có vòng đời phục vụ và bảo hành lâu dài. Một ví
dụ rõ nhất là doanh nghiệp xe hơi Chrysler đã bị giảm 40% doanh số khi phải đối diện
nguy cơ phá sản vì nợ nần vào năm 1979.
- Nợ ưu tiên thanh toán cao nhất - tạo ra mâu thuẫn giữa chủ nợ và nhà đầu tư: Khi có
nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn ngoan” sẽ tìm cách đầu tư dưới mức –
underinvestment. Tức là họ sẽ tập trung đầu tư vào nhhững dự án, rủi ro cao, tạo ra giá trị
thấp trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay
lúc này. Trong khi đó những chủ nợ lại muốn doanh nghiệp đầu tư vào những dự án ít rủi
ro và tạo được giá trị cao trong tương lai. Và mâu thuẫn vì thế phát sinh.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
10

Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh
nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi
doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ.
 Lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory):
Lý thuyết này do Kraus và Litzenberger đề xuất dựa trên ý tưởng cho rằng việc một công ty lựa
chọn tài trợ bao nhiêu nợ, bao nhiêu vốn cổ phần là phụ thuộc vào sự đánh đổi giữa chi phí và lợi
ích do phương án đó mang lại, cụ thể là sự đánh đổi giữa lợi ích tiết kiệm thuế nhờ vay nợ (do lãi
vay được khấu trừ thuế) và chi phí kiệt quệ tài chính do nợ gây ra. Từ đó, lý giải vì sao các DN
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
11
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Bởi vì bên cạnh sự hiện
hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển
hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp (chẳng
hạn như việc nhân viên rời bỏ công ty, nhà cung cấp sẽ yêu cầu các điều khoản thanh toán bất lợi
hơn, kể cả xảy ra xung đột giữa cổ đông và chủ nợ ) của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ.
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt
quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi
ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn
mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng
giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và
bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình.
Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì :
PV(tấm chắn thuế) = PV(chi phí kiệt quệ tài chính).
 Vấn đề chi phí đại diện (Agency costs):
Thuyết chi phí đại diện cũng đưa ra 1 số tình huống giải thích cho việc lựa chọn cấu trúc vốn
của doanh nghiệp:
- Chuyển dịch tài sản (asset substitution): khi tỷ lệ nợ tăng lên, tài sản của công ty lúc này
đa phần thuộc về các chủ nợ, ban quản trị thường có xu hướng thực hiện những dự án rất
rủi ro (thậm chí có NPV âm). Bản chất ở đây là cổ đông đã sử dụng tài sản của các chủ

không vay
nợ
+
Hiện giá tấm
chắn thuế

Hiện giá chi
phí kiệt quệ
tài chính

Hiện giá
chi phí đại
diện
Khi đó, cấu trúc vốn tối ưu sẽ đạt được bằng cách lựa chọn một tỷ lệ nợ thích hợp sao cho lợi
ích thu được tiết kiệm thuế sẽ bù đắp vừa đủ cho những thiệt hại do chi phí kiệt quệ tài chính và
chi phí đại diện gây ra.
 Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking order theory)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984), dự
đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các
nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức
độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát
hành chứng khoán (nguồn tài chính bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn
bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì
vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban
quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị
đi theo những thị trường vốn này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ
phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ
được đánh giá cao.

vốn đều xoay quanh 1 chiến lược kinh doanh đã định sẵn. Cho nên, việc thay đổi kế hoạch kinh
doanh tất yếu sẽ dẫn đến những điều chỉnh trong kế hoạch tài trợ và cơ cấu vốn.
Sự phát triển của thị trường vốn: Mức độ phát triển của thị trường vốn có ảnh hưởng rất lớn
đến việc huy động các nguồn tài trợ của doanh nghiệp. Bởi vì thị trường vốn càng phát triển thì sẽ
có nhiều sản phẩm tài chính cung cấp cho nhà đầu tư, chẳng hạn như về vốn cổ phần, bên cạnh các
loại cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi,… còn có các công cụ tài chính phái sinh như quyền
chọn, hợp đồng mua bán kỳ hạn, giao sau …; thị trường nợ còn có nợ cấp 2, nợ cấp 3, các công cụ
hoán đổi lãi suất, tiền tệ… Nhờ đó, sẽ thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư, giúp cho
việc huy động vốn trở nên dễ dàng hơn.
Thuế suất: Do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế, giá trị doanh nghiệp sẽ gia tăng do được
hưởng lợi từ tấm chắn thuế. Hàm ý là nếu thuế suất càng cao thì hiện giá tấm chắn thuế (Tc.D)
càng lớn, càng làm tăng giá trị doanh nghiệp. Cho nên trong môi trường có thuế, doanh nghiệp
càng được khuyến khích sử dụng nợ vay miễn là kiểm soát tốt khả năng thanh toán và các chi phí
kiệt quệ tài chính.
Ở góc độ khác, thuế suất thuế thu nhập cá nhân tác động đến chính sách chi trả cổ tức của các
doanh nghiệp. Các cổ đông không chịu thuế thu nhập cá nhân cho phần lợi nhuận doanh nghiệp
của họ, nhưng phải nộp thuế cho phần lợi nhuận chia cho họ khi nhận cổ tức. Vì vậy, gia tăng thuế
suất thuế thu nhập cá nhân có xu hướng khuyến khích một số doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận và sử
dụng nhiều hơn lợi nhuận giữ lại để tài trợ tăng trưởng. Cân đối giữa nợ và vốn cổ phần sẽ tuỳ
thuộc một phần vào các mức thuế suất tương ứng của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu
nhập cá nhân.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
14
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Những biến động tình hình kinh tế vĩ mô: việc tiến hành thực hiện kế hoạch tài trợ không phải
do chủ quan từ phía doanh nghiệp quyết định mà còn chịu tác động từ nhiều yếu tố khác, trong đó
trực tiếp nhất là chịu sự chi phối của những biến động rất khó lường trong nền kinh tế. Chẳng hạn
như trong năm 2008 vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua 1 giai đoạn hết sức cam go, thị
trường chứng khoán rơi vào khủng hoảng, chỉ số VN Index giảm xuống mức thấp nhất, dưới 250
điểm (235.5 điểm tại ngày 24.02.09), mất gần 80% so với mức đỉnh 1170 điểm (được xác lập tại

kinh doanh… mà các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau thường có cấu trúc vốn mục tiêu khác
nhau. Thường thì đối với các ngành sử dụng nhiều tài sản hữu hình (như là các doanh nghiệp sản
xuất) thì có xu hướng sử dụng nhiều nợ, trong khi đó các doanh nghiệp thuộc các ngành phát triển
dựa trên các tài sản vô hình có nhiều rủi ro (như là các doanh nghiệp ngành dược, các ngành liên
quan đến công nghệ,…) thì sẽ tài trợ chủ yếu bằng vốn cổ phần.
Tính ổn định của dòng thu nhập: Đối với các khoản nợ vay, lãi suất phải trả định kỳ nên nó
gây ra áp lực lên dòng tiền và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp
có những biến động lớn trong doanh số (có thể là do sản phẩm có tính mùa vụ, do tác động thay
đổi chính sách, hoặc là do công ty đang thực hiện chiến lược gia tăng doanh số, chiếm lĩnh thị
phần, dành cho khách hàng những khoản tín dụng thương mại lớn,… dẫn đến việc dòng tiền thu
về không ổn định) thì sẽ khó duy trì một tỷ lệ nợ cao. Nếu không sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng mất
khả năng chi trả trong ngắn hạn.
Quy mô doanh nghiệp: có thể dễ nhận thấy là các doanh nghiệp nhỏ gặp rất nhiều bất lợi trong
việc tìm kiếm các nguồn tài trợ. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ quản trị doanh nghiệp, năng
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
15
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
lực am hiểu chính sách còn hạn chế, nhất là thiếu kinh nghiệm tiến hành các thủ tục vay vốn, nên
trong nhiều trường hợp, họ chưa biết cách xây dựng dự án, phương án khả thi, đúng quy định của
pháp luật để làm cơ sở vay vốn. Hơn nữa, cũng rất khó cho các doanh nghiệp này trong việc huy
động vốn cổ phần do không đủ uy tín, năng lực.
Quyền kiểm soát: cấu trúc vốn của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi tác động của việc
chia sẻ quyền kiểm soát. Trong trường hợp các cổ đông hiện hữu không thích chia sẽ quyền điều
hành công ty với những người mới, thì họ sẽ ưu tiên sử dụng nợ trong cấu trúc tài chính của doanh
nghiệp mình.
Hình thức tổ chức doanh nghiệp: loại hình doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến chính sách tài
trợ của doanh nghiệp. Nhờ vào khả năng dễ dàng chuyển nhượng vốn góp mà doanh nghiệp cổ
phần sẽ có ưu thế hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc lựa chọn nguồn tài trợ.
Đối với công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty liên kết khác, do những
ràng buộc về việc chuyển nhượng vốn cho nên rất khó để kêu gọi các nhà đầu tư mới tham gia, vì

hàng nhà nước, mà ở nước ta thì các ngân hàng của nhà nước lại là những ngân hàng lớn,
có khả năng cấp tín dụng cao.
- Bên cạnh đó phải nói đến hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành của công ty cổ phần
chặt chẽ hơn một số doanh nghiệp nhà nước, có tình trạng có thể nói là “cha chung không
ai khóc” nên không có trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, ít ảnh hưởng đến lợi ích của
từng cá nhân nên cứ vay nợ mà ít có sự xem xét kỹ lưỡng…
(Bảng số liệu minh họa cho cấu trúc vốn của 1 số tập đoàn nhà nước).
Tập đoàn Tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu
Tổng công ty xây dựng CTGT1 21.6
Tổng công ty Lắp máy Việt Nam 17.4
Tổng công ty xây dựng CTGT 4 14
Tổng công ty Thành An 13.9
Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt
Nam
12.9
Tổng công ty CP XNK và Xây dựng Việt
Nam
12.2
Tổng công ty xây dựng CTGT 8 12
Tổng công ty thuỷ tinh và gốm XD 11.3
Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam 10.9
1.5.3. Nợ vay dài hạn chiếm một tỷ trọng khá nhỏ trong cơ cấu tài chính của nhiều DN
Có thể lý giải vấn đề này như sau:
- Thứ nhất là do vay dài hạn thường tốn chi phí cao hơn vay ngắn hạn.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
17
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- Thứ hai là do hiện nay vốn huy động được của hệ thống ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn
hạn, nếu đem cho vay dài hạn sẽ vi phạm nguyên tắc tự phòng ngừa, dẫn đến rủi ro thanh
khoản.

Y tế 0.46
18
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Chương 2:
QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH CPH DNNN Ở VIỆT NAM:
2.1.1. Bối cảnh của quá trình CHP DNNN ở Việt Nam:
Đổi mới tư duy quản lý kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986. Một trong những tư duy quản lý đã
thay đổi đó là cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tăng quyền tự chủ cho các doanh
nghiệp, yêu cầu phải chuyển sang hình thức kinh doanh hạch toán kinh tế, lời ăn lỗ chịu.
Để có thể tiến hành cải cách kinh tế bắt đầu từ nửa sau của thập kỷ 1990, Việt Nam đã đề nghị
sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của các thể chế tài chính toàn cầu như Nhóm Ngân hàng Thế
giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á và các nhà tài trợ mà hầu hết là những
nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Một trong những cái giá Việt Nam phải trả là phải tiến
hành một số cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ - những cải cách mà vào thời
điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết và do đó rất miễn
cưỡng thực hiện. Trong số những cải cách miễn cưỡng này có tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà
nước. Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ và nhân dân lo ngại về sự phát triển
của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ Việt Nam đã quyết định sẽ không bán đứt các doanh
nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành
doanh nghiệp cổ phần. Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ
công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu. Tùy từng doanh nghiệp, phần
cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%.
2.1.2. Chính sách của nhà nước trong vấn đề CHP DNNN
a. Mục tiêu thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
Theo nghị định số 64/2002 NĐ-CP, ngày 19/6/2002, của chính phủ về việc chuyển doanh
nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, mục tiêu của việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ
phần nhằm:

số cổ phần của doanh nghiệp hoặc cổ phần đặc biệt, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
căn cứ vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp quyết định Nhà nước giữ cổ phần mức thấp
hoặc không giữ cổ phần.
 Những doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá, Nhà nước không nắm giữ cổ
phần chi phối nhưng nắm giữ cổ phần đặc biệt:
- Đó là những doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong một số lĩnh vực quan trọng, khi cổ
phần hoá, Nhà nước không nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp, nhưng
sẽ nắm giữ cổ phần đặc biệt để quyết định một số vấn đề quan trọng, theo quyết định của
Thủ tướng Chính phủ.
- Ngày 24.8.2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 155/2004/QĐ-TTg để quy định
cụ thể các tiêu chí, danh mục phân loại các công ty nhà nước cần giữ 100%, 51% vốn và
tiêu chí các TCty, đối chiếu với QĐ 58/2002/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2002 của Thủ
tướng Chính phủ thì không còn DNNN hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước và
bỏ những DNNN hoạt động công ích.
c. Lộ trình
Thay vì chỉ cổ phần hoá (CPH) những DN nhỏ, yếu kém và đơn vị phụ thuộc của các Công ty,
Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ban
hành ngày 24.12 đã bổ sung thêm đối tượng CPH là Cty nhà nước có quy mô lớn không thuộc
diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn. Như vậy, các Tổng công ty, công ty, ngân hàng thương mại và
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
20
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
các tổ chức tài chính nhà nước đều nằm trong diện CPH.
Nghị định mới cũng xoá bỏ việc xác định giá trị DN theo cách tổ chức hội đồng để nâng cao
tính chuyên nghiệp và minh bạch trong hoạt động định giá, đẩy nhanh tiến độ CPH. Việc xác định
giá trị DN sẽ do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện.
Tuy nhiên, với DN quy mô nhỏ, tổng giá trị tài sản dưới 30 tỉ đồng, nếu không thuê định giá thì
cơ quan quyết định CPH có thể giao cho DN tự xác định giá trị DN.
Việc bán cổ phần sẽ thực hiện thông qua đấu giá. Nếu tổng mệnh giá cổ phần dưới 1 tỉ đồng,
Ban chỉ đạo CPH sẽ tổ chức bán. Từ trên 1 tỉ đồng đến 10 tỉ đồng phải qua đấu giá tại các tổ chức

thành viên và chuyển các doanh nghiệp thành viên còn lại sang hoạt động dưới hình thức công ty
một chủ sở hữu là Nhà nước, đồng thời chuyển tổng công ty sang hoạt động theo mô hình công ty
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
21
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật
mẹ – công ty con.
Những tổng công ty còn lại có thể tiến hành cổ phần hóa toàn tổng công ty, sau đó hình thành
cơ cấu công ty mẹ – công ty con hoặc chuyển tổng công ty sang hoạt động theo mô hình công ty
mẹ – công ty con, trong đó công ty mẹ không do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Trong khi đó, những tổng công ty không giữ được vai trò tổng công ty Nhà nước, căn cứ vào
tiêu chí phân loại công ty Nhà nước chuyển các doanh nghiệp thành viên thành công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên.
2.1.3. Kết quả đạt được của quá trình CPH DNNN Việt Nam:
a. Các giai đoạn và kết quả đạt được:
 Giai đoạn thí điểm rụt rè
Cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện theo đường lối thử và sửa. Năm 1990, Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một
số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử chuyển đổi thành công ty cổ phần. Kết quả là có 2 doanh
nghiệp trong năm 1990-1991 được cổ phần hóa. Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra
Quyết định số 202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành
chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa.
Kết quả là đến tháng 4 năm 1996, có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2
doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa. Trừ Công ty dịch vụ vận tải mà
Nhà nước chỉ còn giữ 18% tổng số cổ phần, 4 công ty khác Nhà nước đều giữ khoảng 30% tổng số
cổ phần. Các nhà đầu tư bên ngoài chỉ mua được cao nhất là gần 35% tổng số cổ phần trong
trường hợp Công ty cổ phần Giày Hiệp An, còn lại đều ở khoảng 20%.
 Giai đoạn thí điểm mở rộng
Từ kinh nghiệm của 7 trường hợp cổ phần hóa nói trên, năm 1996 Chính phủ quyết định tiến
hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn. Nghị định 28/CP được Chính phủ ban hành ngày 7
tháng 5 năm 1996 yêu cầu các bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc

ương này, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2002 về
việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, và Chính
phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 về chuyển doanh nghiệp nhà
nước thành công ty cổ phần. Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần
hóa - giai đoạn tiến hành ồ ạt.
Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.
- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
- Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.
Đối với cổ phần phát hành lần đầu, các nhà đầu tư trong nước được phép mua không hạn chế.
Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30%.
Tháng 1 năm 2004, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp phiên
thứ IX, tại đó có thảo luận và quyết định đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cuối năm
2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ
phần, theo đó cả các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cả chính tổng công
ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trở thành đối tượng cổ phần hóa.
Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này là quy định việc bán cổ phần lần đầu phải được
thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán nếu là công ty có số vốn
trên 10 tỷ đồng, tại các trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷ đồng, và tại công ty
nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng. Bán đấu giá khiến cho giá cổ phiếu phát hành lần đầu
của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên, đem lại những nguồn thu rất lớn cho Nhà nước.
Chẳng hạn, đợt đấu giá cổ phần của 5 công ty nhà nước được cổ phần hóa là Công ty cổ phần kỹ
nghệ thực phẩm, Nhà máy thiết bị bưu điện, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh, Công ty
điện lực Khánh Hòa, Công ty sữa Việt Nam, Nhà nước đã thu vượt dự kiến 450 tỷ đồng. Mặt
khác, bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa còn trở thành một động lực cho sự
phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam. Trong số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
23
Đề tài tiểu luận GVHD: TS. Diệp Gia Luật

dàn trải nay được tập trung vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
 Nâng cao vai trò làm chủ của người lao động
CPH đã tạo ra các điều kiện cả về vật chất và cả về cơ sở chính trị pháp lí cho người lao động
thực hiện việc nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp. Người lao động trong DNNN CPH
được mua cổ phần và trở thành cổ đông của công ty. Một mặt, quyền lực, nghĩa vụ cuả người lao
động gắn kết hơn với công ty, mặt khác, thông qua tư cách cổ đông của mình, người lao động (ở
mức độ nào đó) được tham dự quản lí công ty, kiểm tra, giám sát hoạt động cuả công ty, thông qua
cơ chế dân chủ công khai, minh bạch ở các DNNN CPH góp phần nâng cao vai trò làm chủ thực
sự cuả doanh nghiệp.
 Huy động thêm vốn
Thông qua tiến trình CPH, mục tiêu ban đầu cuả CPH là huy động thêm vốn cho các DNNN
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cuả DNNN, giảm gánh nặng bao cấp đối với vốn từ ngân sách
nhà nước cho các doanh nghiệp đã thực hiện được một bước. Qua CPH đã thu hút được hơn
13000 tỉ đồng từ cán bộ, công nhân viên, các nhà đầu tư, tổ chức, doanh nghiệp ngoài xã hội đầu
tư vào doanh nghiệp CPH.
Trung bình vốn điều lệ của doanh nghiệp tăng 44%, đặc biệt có những doanh nghiệp vốn tăng
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
25

Trích đoạn Về phía Cơ quan quản lý Nhà Nước : Về phía Doanh nghiệp Nhà Nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status