BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THÙY DUNG
CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGÔ THỊ HƢỜNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn em xin đƣợc gửi lời cảm ơn
và lòng kính trọng tới cô giáo hƣớng dẫn TS. Ngô Thị Hƣờng, Tổ trƣởng Tổ bộ môn
Pháp luật hôn nhân và gia đình, cùng các thầy giáo, cô giáo trƣờng Đại học Luật Hà
Nội, gia đình, ngƣời thân và bạn bè đã dành nhiều sự quan tâm, hƣớng dẫn, động
viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Em xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng mình. Trong quá
trình thực hiện và hoàn thành bài viết em có đƣợc sự hƣớng dẫn, tƣ vấn của cô giáo,
có tham khảo một số bài viết, bài nghiên cứu của các tác giả, các nguồn trích dẫn,
tham khảo đã đƣợc chỉ ra trong danh mục tài liệu tham khảo. Các số liệu, ví dụ và
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM ............... 5
1.1. KHÁI NIỆM TRẺ EM, QUYỀN TRẺ EM, QUYỀN CƠ BẢN CỦA
TRẺ EM ........................................................................................................... 5
1.1.1. Trẻ em .................................................................................................... 5
1.1.2. Quyền trẻ em ....................................................................................... 6
1.1.3. Quyền cơ bản của trẻ em..................................................................... 7
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUYỀN TRẺ EM 8
1.2.1. Cơ sở lý luận .......................................................................................... 8
1.2.2. Cơ sở thực tiễn ..................................................................................... 12
1.3. BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM ......................................................... 13
1.4. SƠ LƢỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ QUYỀN TRẺ EM .................................................................................... 16
1.4.1. Pháp luật về quyền trẻ em trƣớc Cách mạng Tháng Tám (1945) ....... 17
1.4.2. Pháp luật về quyền trẻ em giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975....... 18
1.4.3. Pháp luật về quyền trẻ em từ năm 1975 đến nay................................. 19
Chƣơng 2: CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM THEO LUẬT BẢO
VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM NĂM 2004 ............................ 23
2.1. QUYỀN ĐƢỢC KHAI SINH VÀ CÓ QUỐC TỊCH ............................ 23
2.2. QUYỀN ĐƢỢC CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG .................................... 26
2.3. QUYỀN SỐNG CHUNG VỚI CHA MẸ .............................................. 28
2.4. QUYỀN ĐƢỢC TÔN TRỌNG, BẢO VỆ TÍNH MẠNG, THÂN THỂ,
NHÂN PHẨM VÀ DANH DỰ ..................................................................... 30
2.5. QUYỀN ĐƢỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE........................................... 32
2.6. QUYỀN ĐƢỢC HỌC TẬP.................................................................... 34
2.7. QUYỀN VUI CHƠI, GIẢI TRÍ, HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, NGHỆ
THUẬT, THỂ DỤC, THỂ THAO, DU LỊCH .............................................. 36
2.8. QUYỀN ĐƢỢC PHÁT TRIỂN NĂNG KHIẾU ................................... 40
2.9. QUYỀN CÓ TÀI SẢN ........................................................................... 42
của Đảng và Nhà nƣớc với mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là do con
ngƣời, cho con ngƣời và vì con ngƣời, trong đó, vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em đƣợc đặt vào vị trí ƣu tiên hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội
của đất nƣớc.
Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nƣớc ta chú trọng xây
dựng và phát huy nguồn nhân lực, trong đó quyền con ngƣời đƣợc quan tâm và đề cao,
đặc biệt là quyền trẻ em. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Hồ Chủ tịch đã nói:
“Vì lợi ích mƣời năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng ngƣời”. Trẻ em là một trong
những thành phần xã hội có những đặc điểm riêng, về thể chất và trí tuệ còn nơn nớt,
nhận thức chƣa phát triển hoàn thiện, dễ bị tổn thƣơng và bị xâm phạm. Vì thế, trẻ em
là đối tƣợng cần đƣợc ƣu tiên bảo vệ. Để trẻ em là một nguồn nhân lực tốt, dồi dào và
hữu ích cho đất nƣớc sau này thì ngay từ lúc này trẻ em cần đƣợc Nhà nƣớc, xã hội,
các cấp, ngành và gia đình quan tâm, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục một cách đầy đủ,
đúng đắn và toàn diện. Điều này cũng phù hợp với truyền thống nhân đạo, yêu thƣơng
con cháu của dân tộc Việt Nam ta từ bấy lâu nay.
2
Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, tích cực trong việc xây dựng và hoàn chỉnh hệ
thống luật pháp về trẻ em, cũng nhƣ đạt đƣợc những thành tựu trong công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Việt Nam là nƣớc đầu tiên của châu Á và là nƣớc thứ
hai trên thế giới phê chuẩn Công ƣớc của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (sau đây
gọi là Công ƣớc quyền trẻ em). Luật BVCS&GDTE đƣợc Quốc hội thông qua ngày
15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (thay thế Luật BVCS&GDTE năm 1991).
Tuy nhiên, Việt Nam là nƣớc có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp, tỷ lệ đói
nghèo đang ở mức độ cao, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng đang ảnh hƣởng
trực tiếp đến sự phát triển của trẻ em. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cùng với sự
khủng hoảng của kinh tế thế giới, nạn lũ lụt, thiên tai... đã làm gia tăng tình trạng trẻ
em lang thang, trẻ em suy dinh dƣỡng, trẻ em mồ côi, trẻ em bị tai nạn thƣơng tích,
trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại tình dục... Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm quyền
em theo Luật BVCS&GDTE năm 2004.
3. Phƣớng pháp và phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phƣơng
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Để đạt
đƣợc nội dung nghiên cứu, tác giả có sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp nhƣ phân
tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học…
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu pháp
luật về quyền trẻ em ở Việt Nam và đánh giá thực tiễn thực hiện quyền trẻ em và
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trong những năm gần đây.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quyền trẻ em;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về quyền trẻ em;
- Tìm hiểu thực tiễn và đánh giá khách quan những kết quả đạt đƣợc và những hạn
chế trong việc thực hiện quyền trẻ em những năm gần đây;
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các biện pháp đảm bảo quyền trẻ em.
Hy vọng rằng những kết quả của bài viết sẽ có một chút đóng góp hữu ích cho quá
trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền trẻ em và quá trình áp dụng chúng đạt
hiệu quả cao, là tài liệu tham khảo bổ ích cho toàn thể sinh viên, ngƣời nghiên cứu
khoa học, giảng dạy, học tập và ngƣời làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em.
4
5. Kết cấu
Luận văn gồm có các phần: Lời mở đầu, kết luận và 03 chƣơng.
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em
Chƣơng 2. Các quyền cơ bản của trẻ em theo Luật BVCS&GDTE năm 2004
Chƣơng 3. Thực tiễn thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và một số kiến nghị
là căn cứ để quy định.
Tại một số quốc gia Bắc Âu nhƣ Thụy Điển, Đan mạch, Hà Lan… là những
nƣớc có nền kinh tế phát triển ổn định, chú ý nhiều hơn đến vấn đề an sinh xã hội
6
cho con ngƣời thì có quy định lớn hơn về mức tuổi trẻ em, cụ thể luật pháp các quốc
gia này quy định trẻ em là ngƣời dƣới hai mƣơi tuổi. Ở Việt Nam, theo Luật
BVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em quy định trong luật này là những công
dân Việt Nam dƣới 16 tuổi” (Điều 1).
Luật pháp quy định trẻ em dựa trên căn cứ là độ tuổi nhất định có ý nghĩa trong
việc thống nhất xác định một nhóm đối tƣợng, thành phần trong xã hội đƣợc coi là
trẻ em, để trao cho họ những quyền và lợi ích nhất định, cần thiết đảm bảo cho sự
phát triển, phù hợp với nhận thức, tâm - sinh lý của đối tƣợng này. Từ khi sinh ra đến
khi trƣởng thành, trẻ em có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Trong mỗi giai
đoạn, trẻ em có những đặc điểm tâm - sinh lý, nhận thức và sự phát triển khác nhau.
Gia đình và xã hội cần nhận biết để có sự chăm sóc và giáo dục cho phù hợp. Mặc dù
có sự khác biệt nhất định đối với việc quy định ngƣỡng tuổi của trẻ em ở từng quốc
gia trên thế giới nhƣng nhìn chung, các quốc gia đều thống nhất cho rằng trẻ em là
đối tƣợng còn non nớt về thể chất và trí tuệ, chƣa có sự phát triển hoàn thiện về nhận
thức cũng nhƣ thể lực, cần có chính sách ƣu tiên bảo vệ, quan tâm, chăm sóc đặc biệt
và giáo dục phù hợp của Nhà nƣớc và xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
trẻ em.
Nhƣ vậy, có thể hiểu, trẻ em là một nhóm người ở một độ tuổi nhất định, trong
giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức khỏe, tâm- sinh
lý khác với các nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế pháp lý đặc thù.
1.1.2. Quyền trẻ em
Trong khoa học pháp lý, khái niệm quyền đã đƣợc quy định trong luật pháp
quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia. Quyền đƣợc hiểu là những quy định mang
tính pháp lý để khẳng định một cá nhân hoặc pháp nhân nào đó đƣợc hƣởng những
Theo Công ƣớc quyền trẻ em, quyền trẻ em đƣợc chia làm bốn nhóm quyền cơ bản:
- Quyền đƣợc sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền
đề cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con ngƣời.
- Quyền đƣợc bảo vệ: Là việc bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi
sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể chất và tinh thần, bị bỏ rơi, bị đối xử
tàn tệ… những hành vi này làm ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
- Quyền đƣợc phát triển: Là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của trẻ
em về cả thể chất và tinh thần, bao gồm mọi hình thức giáo dục, chăm sóc, đáp ứng
các nhu cầu cho trẻ em có đƣợc cuộc sống trong môi trƣờng lành mạnh, đƣợc vui
chơi, giải trí, học tập…
8
- Quyền đƣợc tham gia: Là quyền trẻ em đƣợc nắm bắt thông tin và đƣợc bày tỏ,
thể hiện suy nghĩ, chính kiến của bản thân. Đây là điều để cho trẻ em có quyền đƣợc
lắng nghe, quyền đƣợc biết, đƣợc tham gia và kết nối với mọi ngƣời và toàn xã hội.
Tiếp thu tinh thần luật pháp quốc tế, cụ thể hóa các quy định của Công ƣớc
quyền trẻ em, Việt Nam ban hành Luật BVCS&GDTE năm 2004 ghi nhận các quyền
cơ bản của trẻ em từ Điều 11 đến Điều 22. Cụ thể là: Quyền đƣợc khai sinh và có
quốc tịch; quyền đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng; quyền đƣợc sống chung với cha mẹ;
quyền đƣợc tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền
đƣợc chăm sóc sức khỏe; quyền đƣợc học tập; quyền đƣợc vui chơi, giải trí, hoạt
động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch; quyền đƣợc phát triển năng
khiếu; quyền có tài sản; quyền đƣợc tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia
hoạt động xã hội. Ghi nhận và đảm bảo thực hiện những quyền này đáp ứng nhu cầu,
lợi ích cần thiết cho trẻ em, đảm bảo cho trẻ em đƣợc sống trong môi trƣờng lành
mạnh, đƣợc bảo vệ và phát triển.
Mọi trẻ em sinh ra đều không thể thiếu những quyền này, nó thiết yếu và làm tiền
đề ban đầu cho trẻ em đƣợc sống và phát triển bình thƣờng. Ở mỗi quốc gia khác nhau
trên thế giới, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, chính sách an sinh xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ khi mới thành lập (3-2-1930), dù trong hoàn cảnh
kháng chiến khó khăn, nhiệm vụ lớn nhất lúc đó là giành đƣợc chính quyền nhƣng
Đảng vẫn dành mối quan tâm rất lớn cho chính sách đối với trẻ em.
Trong Chƣơng trình Việt Minh, với tƣ cách là một cƣơng lĩnh vận động cách
mạng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo đƣợc đƣa ra
trong những ngày tiền khởi nghĩa đã xác định học sinh, nhi đồng nhƣ hai tầng lớp
nhân dân - lực lƣợng của cách mạng: Đối với học sinh chính sách của Việt Minh là
“bỏ học phí, mở thêm trƣờng học, giúp đỡ học trò nghèo” [33, tr.419]. Đối với nhi
đồng thì chính sách là “đƣợc Chính phủ chăm sóc đặc biệt về thể lực và trí dục” [33,
tr.422]. Các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Ban chấp hành Trung ƣơng
Đảng khoá IX, X,XI với tƣ tƣởng xuyên suốt là bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đặt nó vào
vị trí ƣu tiên hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc.
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là vấn đề có tính chiến lƣợc, lâu dài, góp
phần quan trọng cho việc chuẩn bị và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc và hội nhập quốc tế. Đầu tƣ cho trẻ
em là đầu tƣ cho tƣơng lai của đất nƣớc. Làm tốt công tác này là trách nhiệm của các
cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Để tăng cƣờng
10
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong thời gian tới, Chỉ thị số 20CT/TW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị quán triệt một số nhiệm vụ
trọng tâm nhƣ sau:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trƣờng, cộng
đồng dân cƣ và các tổ chức chính trị - xã hội;
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về
chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các
chƣơng trình, đề án chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, của từng địa phƣơng, từng ngành;
- Bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em;
giáo dƣỡng. Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 đều quy định Nhà nƣớc
bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, dành một điều riêng quy định quyền của trẻ
em trong Chƣơng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 1992
ngoài việc quy định quyền của trẻ em, đã quy định trách nhiệm của Nhà nƣớc và gia
đình trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Hiến pháp năm 2013 một lần nữa
khẳng định, đề cao và mở rộng hơn các quyền con ngƣời, quyền công dân. Trong đó
trẻ em là đối tƣợng đƣợc Nhà nƣớc có chủ trƣơng, chính sách quan tâm đặc biệt. Đây
chính là nền tảng, cơ sở cho sự phát triển và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về quyền trẻ em. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nƣớc bảo hộ hôn
nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của ngƣời mẹ và trẻ em” (Điều 36). “Trẻ em đƣợc
Nhà nƣớc, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; đƣợc tham gia vào các
vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngƣợc đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc
lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37). “Nhà
nƣớc, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ngƣời mẹ, trẻ em,
thực hiện kế hoạch hóa gia đình” (Điều 58).
Việt Nam là nƣớc thứ hai trên thế giới và là nƣớc đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn
Công ƣớc về quyền trẻ em, cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em.
Bằng chứng là Việt Nam sớm có luật quốc gia quy định về chăm sóc, giáo dục và
bảo vệ trẻ em (Luật BVCS&GDTE năm 1991, năm 2004; Luật HN&GĐ năm
2000…).
Nhƣ vậy, quan điểm, đƣờng lối của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc về quyền
trẻ em là cơ sở để xây dựng và bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em trên
thực tế. Đồng thời, đƣợc cụ thể hóa bằng các chƣơng trình, chính sách, chế độ ƣu
12
đãi, hỗ trợ để các em đƣợc hƣởng các quyền cơ bản của mình một cách tốt nhất và
trọn vẹn nhất. Luật BVCS&GDTE cũng nhƣ các văn bản quy phạm pháp luật khác
đã thể hiện đầy đủ và khoa học các chế định ghi nhận quyền và bảo vệ quyền trẻ em
nƣớc ta hiện nay.
hiệu quả nhằm nâng cao chất lƣợng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.
Trên cơ sở lý luận cũng nhƣ thực tiễn cho thấy tầm quan trọng của việc ghi nhận và
bảo vệ các quyền của trẻ em, giúp các em đƣợc tiếp cận các quyền của mình và
hƣởng các lợi ích chính đáng đảm bảo cho trẻ em đƣợc sống và phát triển bình
thƣờng.
Chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 – 2020 đã đƣợc Thủ
tƣớng Chính phủ ký phê duyệt (Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm
2012) đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng môi trƣờng sống an toàn, thân thiện và lành
mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em. Từng bƣớc giảm khoảng
cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ em và trẻ em giữa các vùng,
miền. Nâng cao chất lƣợng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ
em”.
1.3. BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM
Quyền trẻ em đã đƣợc thừa nhận và quy định trong pháp luật quốc tế và pháp
luật quốc gia. Tuy nhiên, để trẻ em đƣợc hƣởng các quyền của mình thì xã hội và
Nhà nƣớc luôn cần có những thiết chế và biện pháp để bảo vệ các quyền đó cho trẻ
em. Trẻ em là những ngƣời còn non nớt về thể chất và tinh thần, chƣa phát triển hoàn
thiện về mặt nhận thức và trí tuệ, để đƣợc hƣởng các quyền của mình, phải thông qua
các hành vi của ngƣời khác. Vì thế, việc trẻ em có đƣợc hƣởng các quyền lợi của
mình hay không phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành động của các cơ quan, tổ
chức, gia đình và cá nhân khác. Mặt khác, việc không thực hiện hay thực hiện không
đúng quy định pháp luật có thể xâm phạm đến quyền trẻ em và làm ảnh hƣởng đến
sự phát triển của trẻ em. Vì thế, song song với việc ghi nhận, tôn trọng quyền trẻ em
thì việc đặt ra thể chế, biện pháp bảo vệ trẻ em là điều vô cùng quan trọng, cần thiết
và có ảnh hƣởng rất lớn đến quyền lợi của trẻ em. Nhà nƣớc quy định trách nhiệm và
nghĩa vụ mà mọi cá nhân, tổ chức, gia đình và xã hội phải thực hiện để đảm bảo cho
trẻ em đƣợc hƣởng các quyền của mình.
Hiểu theo nghĩa thông thƣờng, bảo vệ trẻ em là việc đảm bảo cho trẻ em không
bị phân biệt đối xử, không bị bỏ rơi, không bị xâm phạm đến sức khỏe, danh dự,
phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc. Luật còn là công cụ để xác
định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nghĩa vụ của cha mẹ
đối với con nhƣ: Cha mẹ có nghĩa vụ thƣơng yêu, nuôi dƣỡng, giáo dục con; cha mẹ
không đƣợc hành hạ con, không đƣợc đối xử tàn tệ với con nuôi, con riêng. Cha mẹ
có nghĩa vụ thƣơng yêu, nuôi dƣỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát
15
triển lành mạnh của con về thể chất, trí vụ và quyền ngang nhau trong gia đình; con
có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dƣỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên
bảo của cha mẹ.
Bộ luật lao động năm 2012 quy định nhiều nội dung liên quan đến lao động trẻ
em nhƣ: Không đƣợc sử dụng lao động là ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc trừ một số
công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định (Điều 164).
Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời lao động chƣa thành niên vào
những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân
cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc ngƣời lao động chƣa thành niên về các
mặt lao động, tiền lƣơng, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động. Khi sử dụng
ngƣời lao động chƣa thành niên, ngƣời sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng,
ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm
tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền yêu cầu
(Điều 162). Không đƣợc sử dụng lao động chƣa thành niên làm những công việc
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hƣởng xấu tới nhân
cách của họ theo danh mục do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội chủ trì phối
hợp với Bộ Y tế ban hành (Điều 163).
Bộ luật hình sự cũng có nhiều quy định thể hiện chính sách ƣu tiên và khoan
hồng cho trẻ em có hành vi phạm tội, nhƣng ngƣợc lại, lại quy định rất nghiêm khắc
đối với các hành vi phạm tội xâm hại đến trẻ em và quyền trẻ em. Nghiêm cấm việc
vứt bỏ hoặc giết hại trẻ em mới đẻ và ngƣời gây ra việc ấy phải chịu trách nhiệm
hình sự.
nhƣờng dƣới, kính già yêu trẻ. Đặc biệt đối với trẻ thơ, ngƣời lớn và xã hội luôn
dành cho các em tình yêu thƣơng và sự quan tâm. Để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em, Nhà nƣớc ta đã tích cực xây dựng và từng bƣớc hoàn thiện hệ thống pháp luật
nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát
sinh, trong đó có pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em.
Trong lịch sử lập pháp, ở mỗi giai đoạn khác nhau, điều kiện chính trị, kinh tế
khác nhau nên vấn đề quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ đƣợc quan tâm với mức độ
khác nhau. Ngay từ thời xa xƣa, các triều đại phong kiến đã đề ra những quy định
pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Sau khi Nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em và đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác này trong
17
từng thời kỳ hƣớng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể
chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em.
1.4.1. Pháp luật về quyền trẻ em trƣớc Cách mạng Tháng Tám (1945)
Trƣớc Cách mạng Tháng Tám (1945), Việt Nam là một nƣớc thuộc địa nửa
phong kiến đặt dƣới ách thống trị của thực dân Pháp. Nhìn chung, các quan hệ trong
xã hội trƣớc Cách mạng Tháng Tám vừa ảnh hƣởng sâu sắc của Bộ luật dân sự Cộng
hòa Pháp, vừa bị chi phối bởi tƣ tƣởng của giai cấp phong kiến Việt Nam. Vì vậy,
pháp luật trong thời kỳ phong kiến Việt Nam về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ
em mới chỉ đƣợc quy định một cách mờ nhạt. Theo Quốc triều hình luật, trẻ em với
tƣ cách là con chính thức trong gia đình đƣợc bảo vệ quyền đƣợc sống, quyền đƣợc
sống chung với cha mẹ, đƣợc cha mẹ chăm sóc và dạy dỗ. Con cháu thay thế ông bà,
cha mẹ chịu tội đánh roi hoặc tội đánh trƣợng đều đƣợc giảm một bậc (Điều 37). Đặc
biệt là việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm của trẻ em cũng đƣợc Quốc triều hình luật
quan tâm, “gian dâm với con gái nhỏ dƣới 12 tuổi trở xuống, dù con gái thuận tình,
cũng xử nhƣ tội hiếp dâm”.
kiến, lạc hậu và cổ hủ, đề cao quyền gia trƣởng, trọng nam khinh nữ, dẫn đến việc ghi
nhận quyền lợi của con cái rất mờ nhạt, đối xử phân biệt làm ảnh hƣởng đến quyền lợi
của trẻ em, hạn chế quyền đƣợc khai nhận con và quyền đƣợc nhận cha, mẹ.
1.4.2. Pháp luật về quyền trẻ em giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Ngay trong những ngày đầu mới thành lập, mặc dù phải đối phó với thù trong,
giặc ngoài, song Nhà nƣớc đã quan tâm xây dựng hệ thống pháp luật để kịp thời điều
chỉnh các mối quan hệ, phục vụ quốc kế dân sinh, trong đó có vấn đề bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ trẻ em, tạo cơ hội
cho trẻ em phát triển toàn diện, trở thành chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc.
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nƣớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa dành 2 điều quy định ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, thể hiện sự quan tâm đầy
trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với trẻ em: “Trẻ con đƣợc săn sóc về mặt giáo dƣỡng”
(Điều 14) và “Nền sơ học cƣỡng bách và không học phí... Học trò nghèo đƣợc Chính
phủ giúp” (Điều 15).
Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nƣớc bảo hộ quyền lợi của ngƣời mẹ và của trẻ
em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vƣờn trẻ” (Điều 24). Luật
HN&GĐ năm 1959 cũng đƣợc xây dựng dựa trên nguyên tắc bảo vệ trẻ em, “Cha mẹ
không đƣợc hành hạ con cái, không đƣợc đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con
19
riêng. Nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ. Ngƣời vứt bỏ hoặc giết
hại trẻ con mới đẻ và ngƣời gây ra những việc ấy phải chịu trách nhiệm về hình sự”
(Điều 18); “Ngƣời con ngoài giá thú đƣợc xin nhận cha hoặc mẹ trƣớc Toà án nhân
dân. Ngƣời mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chƣa thành niên…”
(Điều 22). Để tổ chức thực hiện chính sách về trẻ em, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban
Thiếu niên nhi đồng Việt Nam theo Quyết định số 112/NV ngày 02/5/1961 của Bộ
Nội vụ. Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam là tổ chức quần chúng có nhiệm vụ
phụ trách việc giáo dục thiếu niên nhi đồng một cách toàn diện và chỉ đạo phong trào
thiếu niên nhi đồng trong cả nƣớc.
64). Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định và đề cao quyền con ngƣời, quyền công
dân trong đó quan tâm đặc biệt đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Trẻ
em đƣợc quan tâm trên các lĩnh vực khác rộng hơn, ngoài chăm sóc sức khỏe, giáo
dục còn đƣợc tham gia các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí cho trẻ em, tạo điều
kiện cho trẻ em đƣợc tham gia các hoạt động xã hội. “Trẻ em đƣợc Nhà nƣớc, gia
đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; đƣợc tham gia vào các vấn đề về trẻ
em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngƣợc đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao
động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37).
Luật HN&GĐ năm 1986 và năm 2000 đƣợc xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ
trẻ em. Theo đó, các quy định đều khẳng định Nhà nƣớc và xã hội bảo vệ bà mẹ và
trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của ngƣời mẹ. Đặc biệt,
các chế định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, con; chế định xác định cha, mẹ cho con;
chế độ nuôi con nuôi; chế định ly hôn đều có các quy định bảo đảm quyền và lợi ích
cho con cái nói riêng, cho trẻ em nói chung. Chẳng hạn nhƣ quyền có tài sản riêng
của con; con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trƣờng hợp cha, mẹ đã
chết; Nhà nƣớc và xã hội khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn
tật làm con nuôi…
Đánh dấu bƣớc ngoặt phát triển trong công tác bảo vệ trẻ em là Luật
BVCS&GDTE đƣợc Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991;
Nghị định số 118/CP ngày 07/9/1994 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam. Tuy nhiên,
tổng kết, đánh giá việc thực hiện và áp dụng Luật BVCS&GDTE năm 1991 cho thấy
Luật chƣa thật sự đi vào đời sống; khung pháp lý, chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ
em chƣa đầy đủ; các quy định còn mang tính nguyên tắc, quy định chung chung,