BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU HẢI LY
KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯU HẢI LY
KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường
HÀ NỘI - NĂM 2016
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ
PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG
TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 7
1.1. Giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát các giao dịch có khả năng
tư lợi trong công ty cổ phần 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty
cổ phần 7
1.1.2. Vai trò của việc kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty
cổ phần 11
năng tư lợi trong công ty cổ phần 63
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT CÁC
GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 65
3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật kiểm soát các giao dịch có khả
năng tư lợi trong công ty cổ phần tại Việt Nam 65
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát các giao dịch
có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam
66
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả
năng tư lợi trong công ty cổ phần 66
3.2.2. Các giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát
các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 70
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BKS : Ban Kiểm soát
CTCP : Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
HĐQT : Hội đồng quản trị
GĐ : Giám đốc
TGĐ : Tổng Giám đốc
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi là một trong những nội dung
của quản trị công ty. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty phải thiết
bước khởi đầu cho việc xác lập cơ chế kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi
và cơ chế này được cải thiện hơn ở Luật Doanh nghiệp 2005 và mới nhất là
Luật Doanh nghiệp 2014. Pháp luật hiện tại về kiểm soát giao dịch có khả
năng tư lợi đã xác định hai loại giao dịch có khả năng tư lợi là đối tượng bị
kiểm soát gồm: giao dịch giữa công ty với những người có liên quan và giao
dịch có giá trị tài sản lớn. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của các hoạt
động kinh doanh vốn đã đa dạng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiêu cực thì việc
hoàn thiện pháp luật nhằm kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi là rất
cần thiết và cấp bách. Đặc biệt là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn
ra mạnh mẽ, việc hạn chế và kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đóng
vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Kiểm soát các giao dịch có khả
năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận
văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đã được đề cập khá nhiều,
đặc biệt là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Vấn đề này đã được các
chuyên gia, các nhà nghiên cứu kinh tế, luật học rất quan tâm, có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sỹ “Một số vấn đề pháp lý
về giao dịch trục lợi” của tác giả Vũ Thị Thanh Tâm; Luận văn thạc sỹ “Kiểm
soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh
nghiệp năm 2005” của tác giả Ngô Thị Bích Phương; bài viết trên Tạp chí
Luật học số 1/2004 “Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty theo Luật
10
Doanh nghiệp” của Ths. Lê Đình Vinh; bài viết “Kiểm soát các giao dịch có
nguy cơ phát sinh tư lợi theo Luật Doanh nghiệp 2005” của Ths. Trần Thị
Bảo Ánh... Ngoài ra, vấn đề kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi cũng đã
trong một số luật liên quan như: Luật Phá sản, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư,
Luật Chứng khoán…
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận về giao dịch có khả năng tư lợi và pháp luật về kiểm soát các giao dịch
có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần; phân tích, đánh giá thực trạng pháp
luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư
lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay; để từ đó đề xuất các định
hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng
tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới.
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giao dịch có khả
năng tư lợi và pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong
công ty cổ phần;
- Nghiên cứu so sánh về kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về kiểm
soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở một số quốc gia
trên thế giới;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh các
vấn đề liên quan đến giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát giao dịch có
khả năng tư lợi theo pháp luật Việt Nam;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm
soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện
nay;
- Nghiên cứu, đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt
Nam trong thời gian tới;
12
lợi. Về mặt lý luận, luận văn đưa ra cái nhìn tổng quan về giao dịch có khả
năng tư lợi qua khái niệm và đặc điểm của giao dịch tư lợi, tác động của giao
13
dịch có khả năng tư lợi, đồng thời xác định cấu trúc của pháp luật về kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi. Về mặt thực trạng, trên cơ sở phân tích,
tổng hợp quy định pháp luật điều chỉnh và thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi, luận văn đưa ra những nhận định, đánh giá.
Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
giao dịch có khả năng tư lợi và cơ chế nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao dịch có khả tư lợi và pháp
luật kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư
lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam;
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát các giao dịch có
khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam.
14
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ
PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG
TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát các giao dịch có khả
năng tư lợi trong công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của giao dịch có khả năng tư lợi trong công
ty cổ phần
1.1.1.1. Khái niệm của giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
Trong xã hội, khi nền sản xuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu về
Người đại diện khi nhân danh khi được các thành viên khác trong
công ty giao cho làm một công việc hay nhân danh công ty xác lập, thay đổi,
chấm dứt các giao dịch trong phạm vi đại diện, thì người đại diện phải đảm
bảo luôn thực hiện công việc được giao phó vì lợi ích của công ty, đảm bảo
tách bạch được lợi ích của cá nhân người đại diện và lợi ích chung của công
ty, mục đích của giao dịch phải hướng vào quyền và lợi ích của công ty.
Tuy nhiên, đặc điểm chung nhất tạo thành bản chất của giao dịch là sự
thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch. Ý
chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong, ý chí đó được thể hiện ra
bên ngoài dưới một hình thức nhất định. Trong các giao dịch của công ty, ý
chí về cơ bản phải là ý chí của công ty, nhưng người đứng ra bày tỏ ý chí lại
là người đại diện. Do đó, khó tránh khỏi việc “ý chí cá nhân” của người đại
diện chi phối đến việc ra các quyết định nhân danh công ty mà họ đại diện.
Nếu cá nhân đó trung thành với lợi ích của công ty, hay quyền và lợi ích của
họ tỷ lệ thuận với lợi ích của công ty, hoặc được củng cố thông qua việc thực
hiện giao dịch thì giao dịch mới phản ảnh chính xác ý chí của công ty. Trường
hợp ngược lại, khi người đại diện không có chung lợi ích với công ty hoặc lợi
16
ích của họ tỷ lệ nghịch với lợi ích của công ty thì giao dịch đó rất dễ xảy ra sự
lạm dụng quyền hạn của người đại diện khi người đại diện dùng quyền năng
của mình can thiệp vào giao dịch đích thực, biến ý chí của mình thành ý chí
của công ty để tìm kiếm lợi ích cho bản thân, hình thành loại giao dịch có khả
năng tư lợi gây thiệt hại cho công ty.
Như vậy, giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần là giao
dịch có khả năng sẽ gây thiệt hại về tài sản, quyền lợi cho công ty cổ phần do
người đại diện của công ty lạm dụng vị thế của mình để thực hiện các giao
mà người đại diện trực tiếp giao dịch với công ty như trực tiếp vay tiền của
công ty, trực tiếp bán hàng cho công ty. Lợi ích trực tiếp cũng được hiểu là
trường hợp người dại diện có lợi ích phát sinh trực tiếp từ giao dịch đó, như
được hưởng hoa hồng, được chia lợi nhuận, được hưởng các đặc quyền, đặc
lợi trực tiếp từ giao dịch do một bên có giao dịch với công ty chi trả... Về mặt
truyền thống, lợi ích ở đây được hiểu là lợi ích vật chất. Tuy nhiên, trên thực
tế, lợi ích phi vật chất cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến các quyết định của
người đại diện. Do đó, lợi ích của người đại diện cần được hiểu không chỉ là
lợi ích vật chất mà còn bao hàm các lợi ích cá nhân khác. Đó là những “những
điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào đó trong mối quan hệ với đối
tượng ấy (nói một cách khái quát)”. Một mối quan hệ tình cảm đạt được
không theo một quy luật tự nhiên mà hình thành từ sự trao đổi với một lợi
ích vật chất, một lợi thế phi vật chất mà chính bản thân người quản lý công
ty mong muốn đạt được hoặc muốn giành được cho người có liên quan… là
những ví dụ điển hình cho những lợi ích phi vật chất.
Lợi ích gián tiếp được hiểu là trường hợp mà công ty xác lập giao dịch
với người liên quan của người đại diện. Người có liên quan của người đại
diện là những người có mối quan hệ gắn bó với họ về mặt kinh tế, hôn nhân,
gia đình, huyết thống hoặc khía cạnh khác mà người quản lý công ty với tư
18
cách là một cá nhân bình thường sẽ có xu hướng ưu tiên, hỗ trợ, giúp đỡ
hoặc tạo lợi thế cho những người này.
Thứ ba, trong giao dịch có khả năng tư lợi có sự chuyển dịch lợi ích từ
công ty sang chủ thể khác.
Một điều rõ ràng là, các công ty thực hiện hoạt động kinh doanh vì
mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, trong những giao dịch có khả năng tư lợi,
những lợi ích (kinh tế hoặc phi kinh tế) đáng lẽ thuộc về công ty lại được
chuyển dịch sang cho những chủ thể khác. Những chủ thể này có thể là
có thẩm quyền lợi dụng giao dịch để chiếm đoạt lợi ích của công ty và cũng
chính là lợi ích của các cổ đông trong công ty. Đồng thời, không chỉ nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích của công ty và những nhà đầu tư, việc kiểm soát giao dịch
có khả năng tư lợi còn đảm bảo lợi ích của người thứ ba là các chủ nợ và lợi
ích của chính nhà nước. Việc thâm hụt vốn của công ty dẫn đến làm giảm khả
năng thực hiện nghĩa vụ đối với các chủ nợ và trả lương cho người lao động.
Trong điều kiện các quy định pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư
lợi tránh làm thất thoát nguồn vốn của công ty thì lợi ích của các chủ nợ cũng
như của các bạn hàng và người lao động trong công ty luôn được quan tâm.
Vai trò của kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đối với hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp
Các giao dịch chứa đựng xung đột lợi ích rất dễ xảy ra và đó là nguy
cơ của sự phá sản doanh nghiệp cả về niềm tin lẫn bản thân công ty. Kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi là nền tảng cho sự phát triển lâu dài và tăng
trưởng bền vững của công ty. Cụ thể, nếu các giao dịch có khả năng tư lợi
trong CTCP được tuân theo cơ chế kiểm soát chặt chẽ sẽ hạn chế những ảnh
hưởng tiêu cực và rủi ro trong kinh doanh, xây dựng lòng tin đối với các nhà
đầu tư và khách hàng. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện ở
những điểm sau:
20
- Doanh nghiệp sẽ không bị tước đoạt các lợi ích vật chất, đảm bảo
được nguồn vốn, lợi nhuận của doanh nghiệp để tái đầu tư sản xuất, duy trì
hoạt động. Doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được rủi ro liên quan đến các vụ gian
lận hoặc giao dịch nhằm mục đích tư lợi như các thiệt hại về tài sản hoặc chi
phí liên quan đến việc khởi kiện của cổ đông.
- Doanh nghiệp có khả năng tiếp cận các nguồn vốn cũng như khả
năng huy động vốn vì xây dựng được lòng tin đối với các thành viên, cổ đông,
đối với nhà đầu tư và các chủ nợ khác. Đây là điều kiện để doanh nghiệp duy
phải chịu các hình thức trách nhiệm tương ứng nếu phát hiện có sự lạm dụng
quyền lực (trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm
hình sự).
Như vậy, vấn đề kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần
là rất cần thiết. Việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong
doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi cho công ty, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
cho các cổ đông trong công ty, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba
liên quan và bảo vệ môi tường kinh doanh lành mạnh, công bằng luôn được
sự quan tâm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và các thành viên, cổ đông
trong công ty.
1.2. Pháp luật kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty
cổ phần
1.2.1. Khái niệm và các phương thức kiểm soát bằng pháp luật các giao
dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
Pháp luật kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi là một bộ phận
của pháp luật doanh nghiệp, trong đó, pháp luật kiểm soát các giao dịch có
khả năng tư lợi là hệ thống quy tắc chung cho xã hội (bao gồm các quy tắc xử
sự chung và các nguyên tắc, khái niệm pháp lý) do Nhà nước đặt ra hoặc thừa
nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động kiểm
soát, ngăn ngừa và xử lý các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty.
22
Việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP
bằng pháp luật là hết sức cần thiết, tuy nhiên, tìm ra cách thức kiểm soát vừa
hợp lý, vừa hiệu quả lại không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp, động viên các nguồn lực trong xã hội lại không phải là vấn đề đơn
giản. Trong hệ thống pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát
sinh tư lợi trong CTCP thì luật về công ty giữ vai trò chủ đạo. Theo tổng kết
có liên quan và có cách tiếp cận theo hướng cấm đoán hoàn toàn các giao dịch
giữa công ty với người có liên quan là giám đốc. Quy định này của pháp luật
Trung Quốc còn “bảo thủ, cứng nhắc và thiếu tính linh hoạt”1. Cụ thể, Khoản
4 Điều 149 quy định: người quản lý và giám đốc công ty không được tham
gia vào hợp đồng hoặc tiến hành giao dịch với công ty. Đối với loại hợp đồng