Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI - thế kỉ của sự bùng nổ thông tin
và nền kinh tế tri thức. Nhờ các cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ,
đặc biệt sự phát triển có tính cách mạng của lĩnh vực công nghệ thông tin và
truyền thông đã ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt
động thông tin - thư viện nói riêng. Thêm vào đó, những nhu cầu, đòi hỏi của
con người trong toàn xã hội cũng ngày một cao hơn, đặc biệt là nhu cầu về
thông tin. Dù hoạt động trong bất kì lĩnh vực nào con người cũng đều cần đến
thông tin, đều phải xử lý thông tin.
Một vấn đề nữa mà chúng ta phải đề cập đến ở đây là nguồn thông tin,
tri thức mà nhân loại sản sinh ra là rất lớn và ngày một gia tăng với tốc độ
chóng mặt. Người ta có thể có được thông tin ở mọi lúc, mọi nơi thông qua
nhiều phương tiện khác nhau: thông tin trên sách, báo - tap chí, thông tin trên
các phương tiện truyền thông (đài, ti vi, internet,…). Tuy nhiên hầu hết các
nguồn thông này đều chưa được chọn lọc, xử lý, phân loại,… Do vậy mà tính
chính xác, đầy đủ, độ tin cậy của của nguồn tin chưa được đảm bảo. Lúc này
ta mới thấy vai trò của các thư viện và cơ quan thông tin là hết sức quan
trọng.
Nhiệm vụ của các cơ quan Thông tin – Thư viện là: thu thập tài liệu, xử lý
thông tin, sản xuất ra các sản phẩm thông tin có chất lượng, tổ chức các dịch
vụ phổ biến và tìm kiếm thông tin.
Công tác biên mục mô tả là một khâu quan trọng trong chu trình xử lý
tài liệu. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho các cơ quan thông tin, thư viện
có thể tổ chức lưu trữ, bảo quản tài liệu, triển khai các hoạt động phục vụ của
mình. Biên mục tốt sẽ góp phần mang lại hiệu quả phục vụ cho các thư viện
và trung tâm thông tin. Bên cạnh đó, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện
- Tìm hiểu công tác biên mục tại Thư viện Quốc gia, tôi mong muốn có
được cái nhìn toàn diện và cụ thể về công tác biên mục mô tả của Thư viện.
- Khảo sát công tác biên mục mô tả tại Thư viện Quốc gia, đánh giá ưu
nhược điểm trong công tác mô tả tài liệu tại Thư viện.
- Đưa ra một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác biên
mục mô tả của thư viện.
3. Tình hình nghiên cứu
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện khoa học tổng hợp lớn nhất ở
nước ta, cũng là một trong những thư viện có hoạt động chuyên môn nghiệp
Khoa Thông tin - Thư viện
2
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
vụ phát triển. Vì vậy từ trước đến nay đã có rất nhiều đề tài khoá luận của
sinh viên các khoá trước cũng như các cán bộ đang làm việc tại trung tâm
thực hiện nghiên cứu về hoạt động thông tin thư - viện tại Thư viện. Đề tài
nghiên cứu về Thư viện Quốc gia thì nhiều, nhưng chủ yếu lại tập trung vào
các vấn đề: sản phẩm và dịch vụ, tổ chức và bảo quản vốn tài liệu, số hoá tài
liệu mà ít có đề tài nghiên cứu về công tác biên mục tài liệu của Thư viện.
Đặc biệt nghiên cứu sâu về công tác biên mục mô tả tài liệu thì lại chưa có
khoá luận nào thực hiện. Trong giai đoạn hiện nay, khi Thư viện Quốc gia
Việt Nam đang từng bước hiện đại hoá và chuẩn hoá các khâu công tác
nghiêp vụ để nâng cao hiệu qủa hoạt động của thư viện thì tác giả lựa chọn đề
tài “Tìm hiểu công tác biên mục mô tả tại Thư viện Quốc gia Việt Nam”
là hoàn toàn phù hợp.
công tác biên mục cũng như các khái niệm liên quan.
* Về mặt thực tiễn
Khoá luận, đi sâu vào thực trạng công tác biên mục mô tả tại
TVQGVN. Đưa ra một số nhận xét về những thuận lợi, và khó khăn khi áp
dụng các chuẩn biên mục vào công tác biên mục mô tả.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác biên mục mô
tả nói riêng và hoạt động TT - TV nói chung tại Thư viện.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Thư viện Quốc gia
Chương 2: Thực trạng công tác biên mục mô tả tại Thư viện Quốc gia Việt
Nam
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp hoàn thiện công tác biên mục mô tả
tại Thư viện Quốc gia
Khoa Thông tin - Thư viện
4
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1.
Lịch sử hình thành và phát triển
Pasquire) thành Quốc gia thư viện.
Tháng 02/1947 Pháp chiếm lại Hà Nội Thư viện lại được đổi tên thành
Thư viện Trung ương trực thuộc Phủ cao ủy Pháp tại Sài Gòn.
Năm 1953, Thư viện Trung ương sát nhập vào Viện Đại học Hà Nội và
đổi tên là Tổng thư viện Hà Nội. Giữa năm 1954, trước khi rút chạy khỏi
miền Bắc, thực dân Pháp đã đưa một phần kho sách của Tổng thư viện vào
Sài Gòn.
Là thư viện do Thực dân Pháp xây dựng, nên chức năng, nhiệm vụ của
Thư viện Trung ương Đông Dương cũng nhằm mục đích phục vụ cho công
tác xâm lược và khai tác thuộc địa của Thực dân Pháp. Vốn tài liệu, hình thức
phục vụ của Thư viện nghèo nàn. Đứng đầu Thư viện thường là do những
người Pháp đảm nhiệm. Sau ngày đất nước ta đánh thắng giặc Pháp xâm lược
(1954), năm 1957 Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra
quyết định thành lập TVQGVN. Sự kiện này đã đánh dấu một bước tiến vô
cùng quan trọng đối với Thư viện Việt Nam.
Ngày 29/06/1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép đổi tên Thư
viện thành Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Ngày 28/11/1958, Thư viện chính thức mang tên Thư viện Quốc gia do
Bộ trưởng Bộ Văn hóa quyết định.
Năm 1982, Thư viện Quốc gia Việt Nam được Thư viện Liên hiệp quốc
công nhận là Thư viện tàng trữ tài liệu Liên hiệp quốc của khu vực Đông
dương.
Năm 2000, TVQGVN chính thức gia nhập Hiệp hội Thư viện quốc tế
IFLA (International Federation of Library Association and Institution).
Khoa Thông tin - Thư viện
6
Khoá luận tốt nghiệp
soạn và xuất bản Thư mục Quốc gia Việt Nam.
Tổ chức phục vụ bạn đọc theo quy định.
Khoa Thông tin - Thư viện
7
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
Chịu trách nhiệm hợp tác trao đổi tài liệu với các thư viện trong và
ngoài nước.
Quản lý các dự án nghiên cứu về khoa học kĩ thuật thuộc lĩnh vực
thông tin - thư viện.
Tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho các cán bộ trong ngành thư viện theo
quy định của Bộ Văn hóa Thông tin.
* Về nhiệm vụ
1. Trình bộ trưởng Bộ Văn hoá -Thể thao và Du lịch quy hoạch phát
triển, kế hoạch hoạt động dài hạn, hàng năm.
của Thư viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
2. Tổ chức phục vụ, tạo điều kiện cho người đọc sử dụng vốn tài liệu
của thư viện theo quy định và tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức.
3. Xây dựng, bảo quản lâu dài vốn tài liệu của dân tộc và tài liệu của
nước ngoài viết về Việt Nam.
4. Thu nhận theo chế độ lưu chiểu các xuất bản phẩm, luận án tiến sĩ
của công dân Việt Nam bảo vệ ở trong nước và nước ngoài, của công dân
nước ngoài bảo vệ tại Việt Nam.
5. Hợp tác, trao đổi tài liệu với thư viện trong nước và ngoài nước theo
quy định của Pháp luật.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được Bộ văn hoá, Thể thao và Du
lịch quy định, Thư viện đã có cơ cấu tổ chức hành chính chặt chẽ và khoa
học. Hiện nay chức năng nhiệm vụ của Thư viện đã được chuyên môn hoá
đến từng phòng ban chức năng. Về cơ cấu tổ chức của TVQGVN bao gồm:
* Ban giám đốc: bao gồm Giám đốc và 3 Phó giám đốc. Giám đốc là người
đứng đầu thư viện. Phụ trách chung toàn bộ công tác của Thư viện; Chỉ đạo
việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dài hạn và hàng năm của đơn vị;
Phụ trách trực tiếp công tác tổ chức cán bộ - hành chính, kế toán tài chính, Tin
học và đối ngoại. Một Phó giám đốc phụ trách chuyên môn và công nghệ
thông tin. Một Phó giám đốc Phụ trách về công tác nghiên cứu khoa học, Tạp
chí Thư viện. Một Phó giám đốc phụ trách khối phục vụ bạn đọc.
* Các phòng ban chức năng: Gồm 14 phòng
- Phòng tin học
- Phòng Biên mục
- Phòng Hành chính tổ chức
- Phòng Nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ
- Phòng Bảo quản
- Phòng Bổ sung – Trao đổi
Khoa Thông tin - Thư viện
9
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
- Phòng Báo – Tạp chí
- Phòng Đọc sách
- Phòng Quan hệ Quốc tế
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
Website và Mail; đường Internet không dây Wifi và đường ADSL 2M dành
cho bạn đọc tra cứu Internet, đường ADSL 4M dành cho cán bộ làm việc.
Nhìn chung, TVQG đã đảm bảo tương đối tốt về cơ sở vật chất kỹ thuật
cho cán bộ thư viện làm việc (chiếm 50%) cũng như nhu cầu thông tin của
NDT trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay.
TVQG đã tạo lập tài liệu điện tử, tài liệu đa phương tiện; các thiết bị liên
lạc viễn thông.
Các máy tìm tin toàn văn để tự động đánh chỉ số và đảm bảo truy cập
đến nguồn tin số hoá.
1.5. Kinh phí hoạt động
Trong bất kì một hoạt động nào, một lĩnh vực nào, kinh phí hoạt động
luôn là một vần đề quan trọng và được quan tâm hàng đầu. Đặc biệt trong
hoạt động thông tin - thư viện lại càng quan trọng hơn. Bởi đây là hoạt động
văn hoá, giáo dục phi lợi nhuận. Hiện nay hoạt động của các cơ quan thông
tin thư viện ở nước ta gần như một trăm phần trăm hoạt động bằng kinh phí
do Nhà nước cấp. TVQGVN trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch,
hàng năm Thư viện nhận kinh phí cấp phục vụ cho hoạt động của mình là
khoảng 11 tỉ đồng. Trong đó Thư viện chi khoảng 3.600.000.000 cho hoạt
động của các phòng ban chuyên môn, số còn lại phục vụ cho các hoạt động
khác của thư viện, nhưng chủ yế là phục vụ cho công tác bảo dưỡng, nâng cấp
mua sắm, các trang thiết bị trong thư viện, cụ thể:
Dự đoán kinh phí hoạt động của các phòng ban chuyên môn 2010
STT
1
2
280.000.000
11
Khoá luận tốt nghiệp
10
11
12
13
14
Tổng
Quan hệ quốc tế
Tạp chí thư viện
Hành chính tổ chức
Bảo vệ
Dự án
14
Trương Thị Thu Thuý
350.000.000
200.000.000
100.000.000
20.000.000
120.000.000
3.600.000.000
1.6. Nguồn tài nguyên thông tin
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
đến sử dụng, thì thư viện ấy cũng trở nên vô ích. Do vậy
công tác nghiên cứu NDT để có thể đưa ra những chiến lược, kế hoạch
nhằm nâng cao khả năng đáp ứng và thoả mãn tối đa nhu cầu tin cho NDT.
NDT và nhu cầu tin trở thành một trong những yếu tố quan trọng cho việc
định hướng hoạt động và phát triển của các cơ quan thông tin, thư viện, đặc
biệt là các sản phẩm và dịch vụ mới. Để sản phẩm và dịch vụ của thư viện có
chất lượng cao, thu hút được NDT thì các cơ quan thông tin - thư viện phải
nắm vững đặc điểm NDT và NCT, từ đó tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông
tin phù hợp với nhu cầu của họ.
Người dùng tin dù là cá nhân hay tập thể, là cán bộ lãnh đạo, học sinh
sinh viên hay các nhà khoa học… cũng đều cần đến thông tin để phục vụ cho
công tác chuyên môn của mình. Đồng thời người dùng tin cũng chính là
người tạo ra các thông tin mới về khoa học cho xã hội và những thông tin bổ
ích cho các cơ quan thông tin – thư viện trong quá trình hoạt động của mình,
thông qua nhu cầu tin của họ.
Hiện nay đối tượng dùng tin của Thư viện, đa dạng về thành phần và
trình độ học vấn, bao gồm các cán bộ công tác tại Thư viện và các đối tượng
khác: cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, học
sinh, sinh viên, cán bộ hưu trí… trong cả nước.
Tính đa dạng của người dùng tin trong Thư viện thể hiện trong sự khác
nhau, về nhu cầu thông tin, lứa tuổi nghệ nghiệp… cũng như trình độ hiểu
biết của họ. Nhu cầu thông tin của các đối tượng này là rất khác nhau, do vậy
mà phương thức phục vụ bạn đọc của Thư viện cũng rất đa dạng và phong
phú để phù hợp với đặc thù của từng người dùng tin.
Trước đây Thư viện có hạn chế đối tượng phục vụ, nhưng hiện nay do
đòi hỏi của thực tiễn, trong thời đại của xã hội thông tin, nhu cầu tin của con
5.1 %
Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đối với nhóm NDT này thông tin
chính là công cụ quản lý. Thông tin càng đầy đủ thì quá trình quản lý càng đạt
hiệu quả cao. Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm NDT này, rất phong phú và đa
dạng. Họ cần những thông tin cô đọng và được “nén”; thông tin được cung
cấp phải ngắn gọn, chính xác, logic, có hệ thống và phản ánh khách quan quá
trình hoạt động, tổ chức, thông tin đưa ra phải kịp thời. Hình thức phục vụ
thường là các bản tin nhanh, tóm tắt, tổng quan, tổng luận, phục vụ thông tin
có chọn lọc…
Nhóm 2: Người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy tại các trường
đại học và các viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu và phát triển. Họ
thường xuyên cung cấp thông tin qua hệ thống các bài giảng, các bài tập, dự
án, đề tài khoa học…; đồng thời họ cũng chính là những NDT Thường xuyên,
liên tục của TV. Nhu cầu tin của họ sẽ cần: thông tin cần bền vững và chuyên
sâu về một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể, vừa phải mang tính mới trong khoa
học; nghiên cứu mang tính liên ngành: bên cạnh những thông tin chuyên
ngành còn cần những thông tin của ngành khác có liên quan. Thông tin mà họ
cần là các thông tin mang tính chất thời sự, thông tin cập nhật về các thành
tựu kho học – kĩ thuật mới trong và ngoài nước, kết quả các công trình nghiên
cứu khoa học, các đề tài đang được triển khai hoặc mới được nghiệm thu…
Thông tin cung cấp phải đầy đủ, ngắn gọn, chính xác; họ có nhu cầu sử dụng
thông tin có giá trị gia tăng cao và phải được phân tích, xử lý. Hình thức phục
vụ nhóm này là các thông tin chuyên đề, thông tin chọn lọc, thông báo sách
Khoa Thông tin - Thư viện
14
Khoá luận tốt nghiệp
biết chung về cơ chế, tổ chức hoạt động và các loại hình sản phẩm và dịch vụ
của thư viện. Hướng dẫn NDT để họ biết cách sử dụng các công cụ tra cứu và
Khoa Thông tin - Thư viện
15
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
khai thác các sản phẩm và dịch vụ của thư viện một cách có hiệu quả. Giúp
nâng cao kĩ năng khai thác, tìm tin cho NDT, để họ có thể chủ động tiếp cận
tới nguồn thông tin, tài liệu mà họ cần một cách dễ dàng.
Khoa Thông tin - Thư viện
16
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BIÊN MỤC MÔ TẢ TẠI
THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1. Khái niệm biên mục mô tả
Biên mục mô tả (mô tả thư mục) là một bộ phận của quá trình biên mục,
có liệ quan đến nhận dạng một tài liệu và ghi lại những thông tin về tài liệu
trên một phiếu mô tả / biểu ghi thư mục, sao cho có thể nhận dạng được tài
Trương Thị Thu Thuý
các tài liệu đó một cách dễ dàng.
Biên mục mô tả giúp NDT có một khái niệm về tư liệu một cách nhanh
chóng, dễ dàng tìm được các tài liệu mà họ quan tâm trong các hệ thống tìm
tin truyền thống và hiện đại (mục lục phiếu, CSDL,…).
Biên mục mô tả còn có một vai trò hết sức quan trọng, đó là công dụng
kiểm soát thư mục. Như vậy biên mục mô tả là một bộ phận của quá trình
biên mục, có liên quan đến việc nhận dạng một tư liệu và ghi lại những thông
tin về tư liệu trong một phiếu mô tả / biểu ghi theo các tiêu chuẩn quốc tế sao
cho có thể nhận dạng được tài liệu ấy một cách chính xác và không nhầm lẫn
với các tài liệu khác.
Ngày nay, trong hoạt động thông tin - thư viện, việc tổ chức và sắp xếp
thông tin thư mục sao cho có thể truy cập và trao đổi trong nước và quốc tế
một cách dễ dàng là rất cần thiết, nhất là trong điều kiện thông tin toàn cầu
hiện nay. Chính vì vậy mà công tác biên mục mô tả càng trở nên quan trọng
và không thể thiếu trong mọi hoạt động của bất kì một thư viện, trung tâm
thông tin nào
2.3. Thực trạng công tác biên mục mô tả tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Biên mục trong đó có biên mục mô tả, là công tác vô cùng quan trọng
trong hoạt động thông tin – thư viện. Nó ảnh hưởng đến chất lượng chuyên
môn nghiệp vụ cũng như chất lượng phục vụ NDT của mỗi cơ quan thông tin
- thư viện. Nhận thức rõ được vấn đề này TVQGVN đã tiến hành ứng dụng
tin học, áp dụng các chuẩn nghiệp vụ tiên tiến trên thế giới vào công tác biên
mục nhằm nâng cao chất lượng công tác biên mục, cũng như công tác phục vụ
của Thư viện.
Vốn tài liệu của TVQG là vô cùng phong phú với đủ mọi loại hình tài
liệu: Sách, báo - tạp chí, luận án, tranh ảnh, bản đồ…đáp ứng mọi nhu cầu tin
cho NDT khi đến sử dụng thư viện. Để đảm bảo tính nhất quán trong quá
trình mô tả tài liệu Thư viện Quốc gia đã áp dụng quy tắc mô tả của TVQG
thông qua với tên gọi “Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả thư mục”. Mô tả theo
ISBD là định ra một trật tự sắp xếp các vùng, các yếu tố mô tả và hệ thống kí
hiệu, dấu đặt trước các mỗi yếu tố mô tả. ISBD phân chia các dữ liệu thư mục
thành từng vùng và từng yếu tố trong vùng đó với những thuyết minh đầy đủ,
chính xác về các vùng đó.
Mô tả theo Tiêu chuẩn quốc tế ISBD bao gồm 8 vùng cơ bản:
1. Vùng nhan đề và thông tin trách nhiệm
2. Vùng lần xuất bản
3. Vùng thông tin đặc thù (dùng cho xuất bản phẩm tiếp tục và tài liệu
Khoa Thông tin - Thư viện
19
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
chuyên dạng)
4. Vùng địa chỉ xuất bản, phát hành
5. Vùng mô tả vật lý
6. Vùng tùng thư
7. Vùng Phụ chú
8. Vùng chỉ số tiêu chuẩn và điều kiện có được tư liệu
* Trình bày tóm tắt một bản mô tả theo ISBD
Nhan đề chính = Nhan đề song song: Thông tin liên
quan đến nhan đề / Thông tin trách nhiệm .- Lần xuất
bản .- Thông tin đặc thù .- Nơi xuất bản: Nhà xuất bản,
năm xuất bản .- Mô tả vật lý .- (Tùng thư)
Bản, Hàn Quốc…): mô tả theo trật tự thuận.
+ Tên không gồm họ thường là biệt danh, bút danh mô tả như ghi trên tài
liệu.
Ví dụ: Tản Đà → Tản Đà
+ Tên có cấu trúc Họ - Đệm - Tên, mô tả thuận và viết hoá chữ cái đầu
của Họ - Đệm - Tên.
Ví dụ: Nguyễn Minh Châu → Nguyễn Minh Châu
+ Đối với tác giả cá nhân là người nước ngoài có cấu trúc Tên - Đêm
Họ, tiến hành mô tả đảo. Khi đó Họ của tác giả được đảo lên trước đệm
và tên được viết sau giữa họ và tên có ngăn cách nhau bởi dấu phẩy (,).
Ví dụ: Mác xim Gorki → Gorki, Mác xim
D.J. Johnson → Johnson, D.J
Sách giáo khoa cho lớp cơ sở, phổ thông, trung học không mô tả theo tên
tác giả mà mô tả theo tên sách. Đối với sách giáo trình thì mô tả như bình
thường.
Đối với các tài liệu mà tác giả tập thể là tên cá cơ quan đoàn thể, tổ chức
thì mô tả giống như tên của nó.
Ví dụ: Trường Đại học Thuỷ Lợi → Trường Đại học Thuỷ Lợi
Khi tiêu đề là tên pháp lý (đơn vị hành chính lãnh thổ), trật tự mô tả là
tên đơn vị lãnh thổ hành chính, đi sau là tên đơn vị tổ chức cách nhau bằng
dấu chấm (.).
Ví dụ: Việt Nam. Bộ Ngoại giao.
Như vậy trong việc lựa chọn tiêu đề mô tả, Thư viện đã tuân thủ theo các
quy định của Quy tắc mô tả của TVQG. Tuy nhiên khi lập tiên đề mô tả cho
tác giả là người nước ngoài có tên gồm họ, Thư viện đã mô tả đảo và có thêm
dấu phẩy ngăn cách giữa họ và tên. Cách mô tả này không phải là quy tắc mô
tả theo ISBD mà là quy tắc mô tả theo AACR2. Như vậy Thư viện đã có sự
Khoa Thông tin - Thư viện
21
22
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
Tài liệu có 5 tác giả trở lên thì lập tiêu đề mô tả cho tên tài liệu, trong
phần thông tin trách nhiệm ghi 3 tác giả đầu tiên sau đó có dâu ba chấm (…).
Ví dụ
Các nước và một số lãnh thổ trên thế giới / /
Nguyễn Cao Cương, Nguyễn Cường Dũng,
Nguyễn Khánh Hoa,…; Hoàng Phong Hà ch.b .- H:
chính trị Quốc gia, 1994.- 294 tr.
- Nếu là tác giả dịch, biên soạn hoặc sưu tầm…: một tác giả thì ghi tên
tác giả đó và ghi chữ dịch ở sau không viết hoa, từ 2 người dịch trở nên thì
ghi chữ dịch ở trước viết hoa chữ dịch và thêm hai dấu chấm đằng sau, tương
tự với tác giả là người biện soạn.
Ví dụ
Hoàng Bảo Châu dịch
Dịch: Nguyễn Minh Châu, Phan Chí Công
Lâm Vĩnh Thế b.s.
B.s.: Hoàng Cầm, Nguyễn Gia Minh…
- Nếu tác giả từ 3 người trở nên với các trách nhiệm khác nhau thì ghi
biên soạn ở trước sau đó là dấu hai chấm (B.s.:), sau tên của tác giả thì ghi
trách nhiệm của từng người trong dấu ngoặc đơn ( ). Ví dụ:
B.s.: Hồng Hà, Lương Mạnh Cường (ch.b.), Nguyễn Nam Hải (b.s.).
Trong vùng mô tả này có thể thấy các dấu sử dụng trong phần thông tin
trách nhiệm và quy tắc mô tả cho tài liệu có từ 3 tác giả trở nên của Thư viện
người nước ngoài của thư viện đã có dấu phẩy (,) ngăn cách giữa họ và tên tác
giả. Tuy nhiên đối với tác giả là người Châu Á ( trong đó có Việt Nam) thì
Thư viện lại chưa áp dụng quy tắc này. Vì vậy trong tương lai để áp dụng
AACR2 một cách triệt để thì Thư viện cần phải thay đổi cách mô tả với các
nhóm tác giả này.
2.3.2. Áp dụng Phần mềm Ilib vào công tác biên mục mô tả tại Thư viện
Quốc gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam trong những năm gần đây đã nhận thức rõ
vấn đề chuẩn hoá các tiêu chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động của mình là cần
thiết.
Khoa Thông tin - Thư viện
24
Khoá luận tốt nghiệp
Trương Thị Thu Thuý
Thư viện cũng nhận định rằng trong quy trình xử lý tài liệu dù theo hình
thức truyền thống hay hiện đại thì biên mục mô tả luôn giữ một vai trò quan
trọng. Sản phẩm của công tác này là tạo ra bộ máy tra cứu tìm tin cho cơ quan
thông tin - thư viện. Tuy nhiên chất lượng bộ máy tra cứu này lại phụ thuộc
vào các tiêu chuẩn biên mục và chuẩn tin học mà Thư viện áp dụng.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tin học hoá vào hoạt động
thông tin - thư viện, những năm qua Thư viện đã tiến hành biên mục tự động
trên phần mềm CDS/ISIS, (Computer Documentation System Intergrated /
Set of Inforamation System), do UNESCO cung cấp và được Cục Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt hoá đưa vào sử dụng.
Phần mền CDS/ISIS có những ưu điểm: tất cả các chương trình đều
làm việc theo chế độ hội thoại và có khả năng đối thoại với nhiều ngôn ngữ;