Header Page Khoá
1 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nhân loại đang bước vào thời đại lấy tri thức làm nguồn tài nguyên quan
trọng, sử dụng, phân phối và sản xuất tri thức làm nhân tố chủ yếu của nền
kinh tế tri thức trong xã hội thông tin. Sự đột phá vươn tới thành công của thế
giới hiện đại đều bắt nguồn từ thông tin trên cơ sở nguồn lực thông tin- nhân
tố quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế
giới, là chìa khoá của tri thức và sự đổi mới của thế kỷ XXI.
Thông tin đang thực sự trở thành tài nguyên vô giá, là yếu tố không thể
thiếu đối với cuộc sống của con người. Trình độ phát triển thông tin trở thành
một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nền văn minh vật chất và tinh thần
xã hội trong nền kinh tế tri thức.
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá, việc thu thập
các nguồn thông tin để cung cấp thông tin có chất lượng phục vụ cho người
dùng tin có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước những yêu cầu cấp thiết đó,
các thư viện công cộng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình.
Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện đứng đầu trong hệ
thống thư viện công cộng ở nước ta. Nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tin cho người
dùng tin đó là mục tiêu và động lực phát triển thủ đô Hà Nội nói riêng và đất
nước ta nói chung, do đó TVQGVN hết sức chú trọng công tác phát triển
nguồn tin nói chung và nguồn tin ngoại văn nói riêng. Chính vì vậy, tôi chọn
đề tài “ Tìm hiểu công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn tại
Thư viện Quốc gia Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Footer Page 1K51
và khai thác nguồn tin ngoại văn tại thư viện.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Những tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của Bộ Văn hoá- Thể thao- Du
lịch về công tác thông tin- thư viện.
Phương pháp nghiên cứu:
Footer Page 2K51
of 126.
Thông tin-Thư viện
2
Header Page Khoá
3 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
- Thu thập, thống kê số liệu.
- Phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu.
- Khảo sát thực tế, trao đổi với các chuyên gia và các nhà quản lý.
6. Những đóng góp của khoá luận
Hiện tại nghiên cứu về nguồn lực thông tin của TVQGVN đã có một số
khoá luận đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau như đề tài của các tác giả:
Trần Mỹ Dung, Nguyễn Thị Thu Hiền, Đỗ Thị Nụ,….Với sự cố gắng cao
nhất và trong khả năng có thể, đề tài “Tìm hiểu công tác xây dựng và khai
thác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” của tác giả có
những đóng góp sau:
Trong quá trình thực hiện khoá luận, do trình độ nghiên cứu và kinh
nghiệm của bản thân hạn chế, khoá luận không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất
mong được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè.
Xin chân thành cám ơn !
Footer Page 4K51
of 126.
Thông tin-Thư viện
4
Header Page Khoá
5 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
CHƢƠNG 1.
KHÁI QUÁT VỀ THƢ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1. Sự hình thành và phát triển của Thƣ viện Quốc Gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam (National Library of Viet Nam) nguyên
là Sở Lưu trữ và thư viện Đông Dương thành lập ngày 29/11/1917. Ngày
21/06/1919 thư viện chính thức mang tên Thư viện Trung ương Hà Nội, năm
1935 thư viện mang tên Pierr Pasquier. Ngày 20/10/1945 thư viện đổi tên
thành Quốc gia thư viện, năm 1946 khi Pháp chiếm đóng Hà Nội thư viện
mang tên Thư viện Trung ương, năm 1953 đổi tên thành Tổng Thư viện do
sáp nhập viện Đại học Hà Nội. Từ ngày 29/06/1957 đến nay thư viện mang
tên Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện lớn nhất của cả
* Nhiệm vụ.
Tổ chức phục vụ, tạo điều kiện cho người đọc sử dụng tài liệu của thư
viện theo quy định và tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức.
Xây dựng bảo quản lâu dài vốn tài liệu của dân tộc và tài liệu của nước
ngoài viết về Việt Nam.
Thu nhận theo chế độ lưu chiểu các xuất bản phẩm, luận án tiến sĩ của
công dân Việt Nam bảo vệ ở trong nước và nước ngoài, của công dân nước
ngoài bảo vệ tại Việt Nam.
Xử lí thông tin, biên soạn thư mục quốc gia và ấn phẩm thông tin về văn
hoá nghệ thuật; tổ chức biên soạn Tổng thư mục Việt Nam.
Hợp tác trao đổi tài liệu với thư viện trong và ngoài nước theo quy định
của pháp luật.
Nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt
động thư viện.
Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các thư viện trong cả nước theo sự
phân công của BVH-TT-DL hoặc yêu cầu của địa phương, đơn vị.
Thực hiện hợp tác quốc tế theo kế hoạch của BVH-TT-DL và quy định
của pháp luật.
Lưu trữ các tài liệu có nội dung tại khoản 1 điều 5 của Pháp lệnh Thư
viện và phục vụ cho người đọc theo quy định của chính phủ.
Footer Page 6K51
of 126.
Thông tin-Thư viện
6
Header Page Khoá
7 of 126.
luận tốt nghiệp
8 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện có 195 công nhân viên chức, trong
đó có khoảng hơn 85% có trình độ đại học và trên đại học, công tác trong 13
phòng chức năng.
1.4. Ngƣời dùng tin và nhu cầu tin
Người dùng tin (NDT) là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành mọi hệ
thống thông tin – thư viện. NDT và nhu cầu tin (NCT) của họ là cơ sở cần
thiết định hướng cho các hoạt động của thư viện. NDT vừa là chủ thể sản sinh
ra thông tin vừa là khách thể sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư
viện (SP&DV TT-TV). Họ còn góp phần điều chỉnh các hoạt động của thư
viện thông qua các thông tin phản hồi.
Phục vụ NCT của NDT là mục đích tồn tại và phát triển của các cơ
quan TT-TV. Hiệu quả hoạt động phục vụ NDT được coi là thước đo đánh giá
chất lượng hoạt động của bất kì các cơ quan TT-TV nào. Vì thế nghiên cứu
NCT của NDT là một trong các nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan TT-TV.
Nghiên cứu NCT là nhận dạng nhu cầu về thông tin của NDT, trên cơ sở đó
tìm ra những biện pháp cụ thể phù hợp để cung cấp thông tin phù hợp cho họ.
Việc tìm hiểu đặc điểm NDT của TVQGVN và xác định NCT của họ
đã được nghiên cứu thông qua kết quả của quá trình điều tra bằng phiếu điều
tra nhu cầu tin (kết quả điều tra với tổng số phát ra là 120 phiếu thu về 111
phiếu), nghiên cứu thông qua báo cáo công tác của phòng đọc trong 5 năm
gần đây.
Các phương pháp trên đã xác định được thành phần NDT tại
TVQGVN, xác định được trình độ học vấn, lĩnh vực chuyên môn, loại nguồn
tin, ngôn ngữ mà họ thường sử dụng, đồng thời xác định được mức độ thoả
mãn NCT của NDT. Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác
Số lượng
Tỷ lệ %
2005
23.463
6.600
28,1
16.863
77.4
2006
24.836
6.913
27,9
17.923
72.1
2007
10.851
65,2
Qua bảng số liệu này cho thấy số NDT chủ yếu đến TVQGVN làm thẻ
là cán bộ và sinh viên trong đó lượng sinh viên luôn là đối tượng làm thẻ
đông đảo nhất của thư viện. Tuy nhiên số lượng NDT đăng kí làm thẻ trong
các năm gần đây có xu hướng giảm dần, năm 2006 là năm có số lượng làm
thẻ đạt cao nhất 24.836 thẻ. Những năm sau thì số lượng thẻ có giảm đi đáng
kể, đây là một điểm cần chú ý trong hoạt động phục vụ NDT của TVQGVN.
Theo thống kê phiếu điều tra thì trình độ của NDT như sau: Cử nhân
chiếm 82,9 % ( 92 phiếu ), thạc sĩ chiếm 12,6 % ( 14 phiếu), PGS.GS chiếm
0,9 % ( 1 phiếu), trình độ khác chiếm 3,6% ( 4 phiếu )
Theo phiếu điều tra NCT, thành phần NDT của TVQGVN như sau:
Sinh viên các trường đại học cao đẳng chiếm 68,5% ( 76 phiếu ); cán bộ quản
lí lãnh đạo chiếm 4,5% (5 phiếu); sản xuất kinh doanh chiếm 2,7 % (3 phiếu),
giảng dạy chiếm chiếm 10,8 % (12 phiếu), hành chính sự nghiệp là 7,2% (8
phiếu), đối tượng khác 6,3%(7 phiếu). Do địa bàn Hà Nội có tới hơn 40
trường đại học, cao đẳng trong cả nước nên lượng sinh viên tới TVQGVN khá
lớn chiếm 68,5% . Tuy nhiên bộ phận NDT là cán bộ hoạt động ở các lĩnh
vực nói chung còn thấp, đòi hỏi Thư viện cần có biện pháp để thu hút bộ phận
này.
Footer Page 9K51
of 126.
Thông tin-Thư viện
9
Nông- Lâm nghiệp
1
0,9
Y- Dược học
12
10,8
Ngôn ngữ
36
32.4
Văn học
31
27,9
Lĩnh vực khác
19
17.1
Dương Thị Tuyết
mà những nguồn tin đó thì TVQGVN rất phong phú và có chất lượng. Do đó
Thư viện cần có biện pháp tuyên truyền hướng dẫn NDT sử dụng các loại
hình nguồn tin này để không lãng phí và giảm thiểu áp lực về sử dụng nguồn
tin dạng sách.
Ngoài ra khi thống kê phiếu điều tra thì thời gian xuất bản của nguồn
tin từ năm 2000 đến nay được sử dụng nhiều nhất chiếm 91% (101 phiếu ), từ
năm 1987 -2000 chiếm 19,8% ( 22 phiếu), trước năm 1945 chiếm 9,9% ( 11
phiếu), từ năm 1954 đến 1986 chiếm 8,1% (9 phiếu), từ năm 1945 đến năm
1954 chiếm 5,4% (6 phiếu).
Qua điều tra trên ta thấy NCT của NDT tại TVQGVN rất đa dạng và
phức tạp. Thông qua nghiên cứu phiếu điều tra, báo cáo của công tác phục vụ
bạn đọc và dựa trên quy định của TVQGVN về đối tượng phục vụ, có thể
phân loại đối tượng người dùng tin của TVQGVN thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Các cán bộ cao cấp thuộc các cơ quan lãnh đạo Đảng và
Nhà nước, cán bộ quản lý các cấp, các ngành.
Các cán bộ lãnh đạo từ Trung ương đến các tỉnh thành phố là những
người ra quyết định các cấp nhằm xây dựng đường lối, chính sách, chủ trương
của Đảng và Nhà nước, Bộ - ngành. Thông tin cho họ là những thông tin
mang tính mới, tính định hướng giải quyết tình hình thực tiễn trong và ngoài
nước. Do vậy thông tin cần cô đọng, đầy đủ để giúp họ tiết kiệm thời gian có
thể ra quyết định đúng đắn.
Nhóm 2: Các cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, kỹ sư.
Nhóm NDT này cần các thông tin gốc, thông tin thư mục, tổng luận
về nghiên cứu khoa học của một lĩnh vực chuyên môn, những thành tựu mới,
những phương pháp mới của khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước.
Footer Page 11
of 126.
Khái niệm phát triển nguồn tin: là quá trình làm cho nhu cầu thông
tin của NDT được đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xác. Nói cách khác, phát
triển nguồn tin là nhằm đáp ứng NCT của NDT.
* Phân loại nguồn tin: có nhiều cách phân loại như:
Dựa vào chất liệu vật mang tin thì nguồn tin chia thành 3 loại:
Nguồn tin in trên giấy: sách, báo, tạp chí, bản đồ, bản vẽ….
Footer Page 12
of 126.
K51
Thông tin-Thư viện
12
Header Page Khoá
13 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
Nguồn tin trên phim ảnh, băng đĩa, băng từ….
Nguồn tin điện tử.
Dựa vào mức độ xử lí thông tin: chia thành các loại: Nguồn tin cấp 1,
nguồn tin cấp 2, nguồn tin cấp 3.
Ngoài 2 cách phân loại nguồn tin trên, còn có các cách phân loại nguồn
tin: thời gian xuất bản, nội dung thông tin, mức độ công bố, mục đích ý
nghĩa…
* Đặc trưng của nguồn tin
Tính vật lý: Thể hiện trên 3 phương diện: Vật chứa đựng thông tin,
phương thức ghi và truyền thông tin, phương pháp tiếp cận.
thức trong nguồn tin sẽ cao khi nguồn tin được phổ biến rộng rãi và nhiều
người sử dụng.
Tính chia sẻ: Trong đời sống xã hội con người cần trao đổi thông tin,
mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới. Các thông tin được
truyền đi giao lưu với người khác qua các hình thức: thảo luận, truyền đạt,
mệnh lệnh, thư từ,….Hợp tác chia sẻ nguồn tin giữa các cơ quan TT-TV làm
phong phú nguồn thông tin mỗi cơ quan, đồng thời nâng cao hiệu quả thoả
mãn NCT của NDT và tiết kiệm kinh phí bổ sung.
Footer Page 14
of 126.
K51
Thông tin-Thư viện
14
Header Page Khoá
15 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
CHƢƠNG 2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC
NGUỒN TIN NGOẠI VĂN TẠI THƢ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1. Qúa trình hình thành và phát triển nguồn tin của Thƣ viện Quốc gia
Việt Nam
* Giai đoạn trước 1954:
Khi mới thành lập vốn tài liệu ban đầu TVQGVN chỉ có khoảng vài
Dương Thị Tuyết
xây dựng tiến hành mua sách Hán Nôm và tạo lập được kho sách Hán Nôm
trên 4.000 bản của 2.270 tên sách.
Năm 1955 Thư viện Bắc Kinh đã gửi tặng TVQGVN 36.000 bản sách
tiếng Trung, năm 1956 Thư viện Quốc Gia Liên Xô gửi tặng 30.000 bản
( sách tiếng Anh và tiếng Pháp). Sách nhập vào TVQGVN qua lưu chiểu từ
1967-1985 là 18.399 bản.
Thư viện được phép nhận luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ của công dân Việt
Nam bảo vệ trong và ngoài nước, của người nước ngoài bảo vệ ở Việt Nam
theo quyết định 401/TTg ngày 9/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ, thành lập
kho luận án gồm 998 bản.
* Giai đoạn 1986 -2002.
Ngày 7/7/1993 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Xuất bản năm 1993.
Nghị định 79/CP ngày 6/11/1993 của Thủ tướng chính phủ cho phép
TVQGVN nhận lưu chiểu 4 bản cho 1 tên ấn phẩm. Năm 1997 Thư viện đã
nhận 370 tên, năm 1998 là 535 tên, 1999 là 587 tên. Tính đến tháng 12/1999,
Thư viện đã thu nhận được 8.000 bản luận án tiến sĩ, đồng thời trao đổi được
1.215 cuốn sách ngoại văn, gấp 3 lần số mua. Số sách ngoại văn bằng tiếng
Trung, Anh, Pháp mua trong năm 1999 chỉ đạt 482 cuốn, tháng 2/2002 tài liệu
kho lưu chiểu đã đạt tới 140.045 tên.
* Giai đoạn từ 2002 đến nay.
Tính đến năm 2008 TVQGVN có 1.300.468 tổng số bản sách và 800.752
tổng số tên sách, hơn 8.000 tên báo- tạp chí. Trải qua hơn 90 năm xây dựng
và trưởng thành hiện nay TVQGVN đã có được gần 1.500.000 bản sách, hơn
8.000 tên báo-tạp chí, hơn 15.000 luận án, hơn 1.000 đĩa CD-ROM và các
CSDL cho người dùng tin sử dụng.
Footer Page 16
of 126.
Do vậy TVQGVN có chính sách phát triển nguồn tin nói chung và xây
dựng, khai thác nguồn tin ngoại văn nói riêng cho phù hợp với chức năng và
nhiệm vụ trên cơ sở nhu cầu tin của người sử dụng, đảm bảo bốn mục tiêu:
xây dựng nguồn tin phong phú, đa dạng; đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên
môn và tin học cao; số lượng người dùng tin đông đảo được đào tạo và hệ
thống cơ sở hạ tầng bền vững.
Footer Page 17
of 126.
K51
Thông tin-Thư viện
17
Header Page Khoá
18 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
Nguồn tin ngoại văn còn thể hiện mức độ phát triển trí tuệ, văn minh
của một quốc gia, một dân tộc đó và là công cụ đối tượng làm việc hàng ngày
của cán bộ thông tin -thư viện (bổ sung, xử lý, phục vụ NDT...). Đối với hoạt
động của con người giúp họ có những quyết định căn cứ khoa học nhất.
Bên cạnh đó, nguồn tin ngoại văn là một bộ phận không thể tách rời
trong nguồn lực thông tin đang được quản trị tại TVQGVN. Cùng với nguồn
tin quốc văn, nguồn tin ngoại văn của TVQGVN luôn đóng một vai trò quan
trọng trong việc đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tin của NDT thư viện. Trong
những năm gần đây, số lượng bạn đọc đến sử dụng thư viện tăng nhanh và
Dương Thị Tuyết
tác này cần tìm hiểu những việc đã làm được và những tồn tại ở TVQGVN
nhằm đưa ra các biện pháp giải quyết hoàn thành chức năng nhiệm vụ của
mình.
2.3. Chính sách bổ sung nguồn tin ngoại văn tại Thƣ viện Quốc gia Việt
Nam
Nguồn tin hiện có của TVQGVN là kết quả xây dựng, tích luỹ lâu dài
theo chính sách phát triển nguồn tin hợp lý, trên cơ sở nhu cầu người dùng tin
nói riêng và xã hội nói chung. Hoạt động thông tin-thư viện của họ, nguồn tin
được xây dựng trên công tác tổ chức, quản lý, khai thác và căn cứ nhu cầu
đích thực của người dùng tin. Do đó, lãnh đạo TVQGVN đã nhìn nhận cần
phải đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức
nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin (NDT).TVQGVN mặc dù chưa có
một văn bản chính thức về chính sách phát triển nguồn tin nhưng xuất phát từ
chức năng, nhiệm vụ của mình, trong quá trình xây dựng nguồn tin nói chung
và xây dựng nguồn tin ngoại văn nói riêng thì Thư viện đã đề ra hướng bổ
sung nguồn tin ngoại văn như sau:
a) Diện đề tài về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, quân sự, y tế và nông
nghiệp.
Thu thập nguồn tin về tất cả các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật,
quân sự y tế và nông nghiệp nhưng không chuyên sâu về từng ngành cụ thể
mà có nội dung tổng hợp, liên ngành, phản ánh xu thế phát triển của ngành đó
trong nước, trên thế giới với những thành tựu mới nhất. Chú trọng bổ sung
nguồn tin một số ngành khoa học mới xuất hiện, đang phát triển hiện nay ở
nước ta như: tin học, dầu khí, sinh học, chế tạo máy,...
b) Diện đề tài về khoa học xã hội.
Footer Page 19
of 126.
e) Diện đề tài các nước Đông Nam Á, Châu Á.
Chú trọng bổ sung tài liệu nghiên cứu về kinh tế, văn hoá, văn học, xã
hội....các nước Đông Nam Á được xuất bản bằng ngôn ngữ thông dụng. Để
khắc phục tình trạng hạn chế ngôn ngữ trong bổ sung TVQGVN đẩy mạnh
công tác sao chụp và mượn quốc tế.
f) Diện đề tài về thư viện học.
Footer Page 20
of 126.
K51
Thông tin-Thư viện
20
Header Page Khoá
21 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
Bổ sung tài liệu về các vấn đề thư viện học, thư mục học, thông tin học;
chú trọng tài liệu của các nước có hoạt động thông tin- thư viện phát triển tiên
tiến, tài liệu của IFLA, của các hội nghị thư viện quốc tế hay khu vực.
g) Diện đề tài về quốc chí.
Bổ sung đầy đủ tài liệu nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam, có liên
quan tới Việt Nam và các tác phẩm của người Việt Nam ở nước ngoài bất kể
đề tài, ngôn ngữ, loại hình ấn phẩm và thời gian xuất bản.
h) Diện ngôn ngữ.
Bổ sung nguồn tin nước ngoài bằng các ngôn ngữ thông dụng theo thứ
Nam thì chủ đề quan tâm là lịch sử chiến tranh Đông Dương, chính sách đối
ngoại, thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quan hệ chính
trị,...
k) Dạng xuất bản nguồn tin.
TVQGVN tiếp tục bổ sung 2 dạng xuất bản chủ yếu của nguồn tin
ngoại văn là sách và báo-tạp chí, Thư viện còn chú trọng bổ sung các nguồn
tin dạng khác như: băng, microfilm, đĩa CD-ROM, .....
l) Loại nguồn tin.
Ưu tiên bổ sung các loại tài liệu tra cứu và bổ sung có chọn lọc các loại
tài liệu khoa học, chuyên khảo, các ấn phẩm định kì khoa học và giáo trình
giảng dạy của các trường đại học. Đồng thời bổ sung có chọn lọc nghiêm ngặt
các tài liệu khoa học phổ thông, sách văn học, sách giáo khoa và sách thiếu
nhi.
m) Số bản cho một tên nguồn tin.
Nguồn tin ngoại văn chỉ bổ sung 1 bản, trường hợp thật cần thiết mới
nhập 2 bản.Trong trường hợp này các nguồn tin trước khi được nhập vào thư
viện đều được xử lý qua việc tra trùng thông qua việc tra chỉ số ISBN được
thực hiện trên phân hệ bổ sung của phần mềm ILIB. Tuy nhiên sách do Quỹ
Châu Á tặng thì số lượng không tuân theo nguyên tắc 1 bản ở trên và có
những tài liệu nhập vào kho với số lượng lớn hơn 1 bản.
Đối với nguồn tin được tái bản, TVQGVN chỉ nhập kho đối với những
nguồn tin tái bản có bổ sung, sửa chữa. Nếu nguồn tin được tái bản đơn thuần
do NCT mà không có bổ sung, sửa chữa về mặt nội dung thì TVQGVN không
nhập bản mới vào kho.
Footer Page 22
of 126.
K51
Thông tin-Thư viện
22
TVQGVN là tên sách, báo- tạp chí đổi lấy tên sách, báo- tạp chí. Song nguyên
tắc này, mang tính mềm dẻo nhằm tạo ra quan hệ hợp tác giữa các nước như:
Footer Page 23
of 126.
K51
Thông tin-Thư viện
23
Header Page Khoá
24 of 126.
luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
Thư viện của nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Campuchia,…thì
TVQGVN hầu như gửi đi nhận về không nhiều.
Về phương thức trao đổi: TVQGVN chọn hình thức chấm chọn trao
đổi qua thư mục quốc gia hoặc danh sách trao đổi và phương thức chọn trao
đổi qua chủ đề, đôi khi tiến hành cả 2 phương thức trên. Trong quá trình trao
đổi, cán bộ nghiệp vụ theo dõi tình hình trao đổi để nắm được đơn vị nào
không gửi tài liệu trao đổi (thời gian 1 năm) mà không có lí do thì sẽ tạm
dừng trao đổi.
TVQGVN ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đã đem lại nhiều
tiện ích như: trao đổi trực tiếp thông qua mạng Internet với các thư viện, đơn
vị trong và ngoài nước sẽ không tốn nhiều thời gian và kinh phí. Hoạt động
này có ý nghĩa quan trọng tạo ra mối quan hệ trao đổi lâu dài và chất lượng.
Tuy nhiên, công tác trao đổi tài liệu của Thư viện cũng gặp những sự cố như:
cường củng cố các mối quan hệ trao đổi cũ, đồng thời khai thác triệt để các
nguồn biếu tặng để tăng thêm nguồn tin ngoại văn. Dưới đây là bảng trao đổi
sách quốc tế trong 4 năm trở lại đây như sau:
Năm
Sách
Sách
Sách
Sách
Sách
Sách
Tổng
tiếng
tiếng
tiếng
tiếng
tiếng
Nhật
113
39
226
32
39
444
893
2008
212
203
154
0
0
0
569
Trao đổi
Trao đổi
Trao đổi
Trao đổi
Châu Âu
Châu Á
Mỹ, Úc
SNG
2005
1407
585
386
327
109
2006