Nghiên cứu việc tạo lập, khai thác và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Vũ Nguyệt Mai NGHIÊN CỨU VIỆC TẠO LẬP, KHAI THÁC VÀ BẢO QUẢN
TÀI LIỆU SỐ TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. T.S LÊ VĂN VIẾT

Hà nội, 2009

MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÀI LIỆU SỐ TẠI THƢ VIỆN
QUỐC GIA VIỆT NAM 94
3.1 Hướng phát triển tài liệu số trong tương lai 94
3.2 Chính sách số hoá tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam 95
3.3. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật 96
3.4 Năng lực cán bộ 100
- Các kiến nghị và giải pháp khác 102
Kết luận 107
Tài liệu tham khảo
Phụ lục luận văn
Danh mục chữ viết tắt BVHTT : Bộ văn hoá thông tin
CNH : Công nghiệp hóa
CNTT : Công nghệ thông tin
CSDL : Cơ sở dữ liệu
HĐH : Hiện đại hóa
KHCN : Khoa học công nghệ
NDT : Người dùng tin
TMQG : Thư mục quốc gia
TT – TV : Thông tin thư viện
TVCC : Thư viện công cộng
TVĐT : Thư viện điện tử
TVKHTH : Thư viện khoa học tổng hợp
TVS : Thư viện số
TVQGVN : Thư viện Quốc gia Việt Nam

Chính vì vậy, việc tạo lập, khai thác và bảo quản tài liệu số đã cung cấp
một môi trường thông tin tri thức tích cực cho người dùng tin (NDT) nghiên

2
cứu, học tập, giải trí. Mặt khác, các thư viện ở Việt Nam đang trong quá trình
hiện đại hóa, tự động hóa, từng bước chuyển từ thư viện truyền thống sang
thư viện điện tử - thư viện số. Những kết quả trên đây đã giúp cho các thư
viện và các cơ quan thông tin ở Việt Nam liên kết chặt chẽ với nhau, sử dụng
và trao đổi tài liệu không chỉ trong vùng, lãnh thổ nhất định mà trên phạm vi
toàn thế giới. Việc xử lý bằng máy tính đã thay thế cho việc xử lý bằng tay,
tạo ra các cơ sở dữ liệu (CSDL), các thông tin được truy cập trên mạng. Việc
áp dụng mạng thông tin trong thư viện nhằm hoàn thiện công nghệ cho quá
trình xử lý, lưu trữ, trao đổi, tìm kiếm, khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn thông tin điện tử tạo điều kiện cho NDT khả năng tìm kiếm nhanh
chóng và đạt hiệu quả cao.
Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện trung tâm của cả
nước với chức năng nhiệm vụ được quy định theo Pháp lệnh Thư viện đồng
thời là thư viện đứng đầu hệ thống thư viện công cộng và chịu sự chỉ đạo trực
tiếp của Bộ văn hóa thể thao và du lịch, TVQG đã bước đầu ứng dụng công
nghệ thông tin hiện đại trong quy trình xử lý thông tin cũng như đã có những
ấn phẩm điện tử như tạo lập cấu trúc CSDL theo các yêu cầu chuyên môn, tạo
và quản lý CSDL số hóa với nhiều kiểu file khác nhau (doc, pdf…). Tuy
nhiên việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong việc tạo lập, khai thác
và bảo quản tài liệu số hóa ở nước ta nói chung và TVQG nói riêng còn là
lĩnh vực mới cần phải được nghiên cứu, khảo sát nghiêm túc và có những giải
pháp hoàn thiện hơn nữa về tài liệu số để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của
xã hội và nhu cầu của NDT.
Do vậy, với mong muốn đóng góp một phần kiến thức khiêm tốn của mình
vào việc tìm kiếm giải pháp phát triển việc khai thác, bảo quản tài liệu số ở
TVQGVN nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu và học tập

trạng của quá trình xây dựng, khai thác và bảo quản tài liệu số tại TVQG, đề
xuất giải pháp phát triển có cơ sở khoa học và đảm bảo tính thực tiễn nhằm
phát triển tài liệu số ở TVQG nói riêng và các thư viện, trung tâm thông tin
thư viện trong nước nói chung.
Từ mục đích trên, tôi đặt ra nhiệm vụ cụ thể cho luận văn như sau:
- Xác định rõ vai trò tài liệu số đối với TVQGVN
- Nghiên cứu thực trạng của quá trình xây dựng, khai thác và bảo quản tài
liệu số để đổi mới hoạt động thông tin thư viện (TT-TV) ở TVQGVN trong
tất cả các khâu, các quá trình: xử lý, phân loại, biên mục và phục vụ bạn
đọc…
Nêu ra những giải pháp cụ thể có khả năng thực thi nhằm đổi mới, nâng
cao chất lượng vốn tài liệu số đáp ứng nhu cầu tin cho người đọc ở
TVQGVN.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Thư viện Quốc gia có nên số hóa toàn bộ nguồn tài liệu (trong khoảng 10
năm tới) ?
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, sự mở rộng quy mô
của Internet đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và ứng dụng công
nghệ trong hoạt động TT-TV mà điển hình là sự ra đời của thư viện điện tử-
thư viện số. Loại hình thư viện này không hạn chế người sử dụng và cho phép
tìm kiếm mọi thông tin với kết quả nhanh chóng. Kỹ thuật scan (quét) đã
được sử dụng nhiều năm qua nhưng nó chỉ thực sự cần thiết khi những công
cụ tìm kiếm như Google, Yahoo…xuất hiện. Khi đó, hàng triệu đầu sách,

5
hàng tỷ trang web và hầu hết các bài báo, tạp chí, tranh ảnh, bản nhạc và phim
từ trước đến nay đều được scan để lưu trữ vào thư viện số.
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện trung tâm của cả nước với chức
năng nhiệm vụ được quy định theo Pháp lệnh Thư viện đồng thời là thư viện
đứng đầu hệ thống thư viện công cộng và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ văn

nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau trong
luận văn:
- Phân tích tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát trực tiếp
- Điều tra bằng an két và phỏng vấn trực tiếp
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học
- Luận văn góp phần làm sáng rõ vai trò, thực trạng tài liệu số ở TVQGVN
trong việc phục vụ thông tin và tài liệu, hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu khoa
học cho cán bộ nghiên cứu ở TVQG cũng như bạn đọc là sinh viên, học viên
các trường Đại học trong và ngoài nước.
- Ý nghĩa thiết thực hơn cả là luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể có
khă năng thực thi nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng vốn tài liệu số đáp ứng
NCT cho người đọc ở TVQGVN.
+ Ý nghĩa thực tiễn

7
- Trên cơ sở tài liệu được sưu tầm và tập hợp, tác giả mong muốn kết quả
của đề tài có thể ứng dụng rộng rãi trong thư viện các trường Đại học và trung
tâm TT - TV đang và sẽ tiến hành số hoá tài liệu.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thư viện, các bạn
học viên và sinh viên ngành TT - TV có thêm tư liệu sinh động để nghiên
cứu, góp phần làm phong phú thêm lý luận về công tác thư viện ở TVQGVN
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng của quá trình xây dựng và sử dụng tài
liệu số tại TVQGV. Đề tài . Đề tài nhằm xây dựng mô hình hệ thống thông tin
thư viện điện tử/ thư viện số, trên cơ sở đó tìm kiếm giải pháp phát triển việc
khai thác, bảo quản tài liệu số ở TVQGVN nhằm đổi mới, nâng cao chất
lượng công tác nghiên cứu và học tập, giúp NDT tại TVQG có thể tìm kiếm
nguồn thông tin luôn được cập nhật, bổ sung thường xuyên, những thông tin

2.2.1 Khai thác tài liệu tại chỗ
2.2.2 Khai thác từ xa từ xa
2.2.3 Đánh giá bộ sưu tập tài liệu số trong quá trình sử dụng (có
bảng hỏi)
2.3 Luật pháp
2.4 Nhận xét đánh giá về tài liệu số

9
2.4.1 Ưu điểm
2.4.2 Nhược điểm
+Nguyên nhân tồn tại
Chƣơng 3: Giải pháp phát triển tài liệu số ở Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
3.1 Hướng phát triển tài liệu số
3.2 Chính sách số hoá tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
3.3 Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật
3.4 Năng lực cán bộ
* Các kiến nghị và giải pháp khác
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục luận văn (nếu có)
Luận văn được hoàn thành tại Thư viện Quốc gia Việt Nam. Để hoàn
thành luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi xin cảm ơn sự giúp
đỡ nhiệt tình và quan trọng của Tiến sĩ: Lê Văn Viết - người thầy, người
hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa sau đại học và
Khoa TT – TV trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các anh chị, cô
chú công tác tại Thư viện Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới và sự đóng góp ý
kiến của các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian có hạn cũng như những hạn chế của cá nhân nên luận văn
không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu xót. Rất mong nhận được sự
chỉ giáo của các thầy, cô và các bạn đồng nghiệp.


1
Theo tác giả Bùi Thân thì: “Đến đầu thế kỷ XIX nơi Thư viện Quốc gia hiện nay đóng là trường thi Hương
cho sĩ tử 8 tỉnh quanh Hà Nội. Đến năm 1873 Gacnie xâm lược Hà Nội, đóng quân tại đây. Năm 1876 chúng
mới trả lại song năm 1882 Rivie tái chiếm, năm 1886 dồn trường thi Hà Nội xuống thi chung với Nam Định,

11
Ngày 1/9/1919, Thư viện mở cửa phục vụ bạn đọc.
Ngày 8 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà đã ký Sắc lệnh số 13 chuyển giao các thư viện công trong đó có Thư viện
Pierre Pasquier về cho Bộ Quốc gia Giáo dục quản lý. Cùng ngày hôm đó,
Chính phủ lại ra Sắc lệnh số 21 bổ nhiệm ông Ngô Đình Nhu làm Giám đốc
Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc.
Ngày 20/10/1945 Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục ra quyết định đổi tên
Thư viện Pierre Pasquier thành Quốc gia Thư viện. Nhưng sau đó, cùng với
một số cơ quan khác, Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc được sáp
nhập vào Nha Giám đốc Đại học vụ và được đổi tên thành Sở Lưu trữ công
văn và Thư viện toàn quốc với công việc là tiếp nhận và bảo quản, giữ gìn hồ
sơ, tài liệu lưu trữ, sách, báo do Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương để lại.

Số lượng nhân viên của Sở chỉ có 27 người, so với 37 người dưới thời Pháp
thuộc.
Ngày 25/7/1947 theo Nghị định của Phủ Cao ủy Pháp thì Nha Lưu trữ công
văn và Thư viện Đông Dương được tái lập tại Sài Gòn. Nha này, ngoài việc
lưu trữ tài liệu, còn có nhiệm vụ điều khiển Thư viện Trung ương lúc đó được
đổi tên thành Thư viện Trung ương ở Hà Nội.
Theo Hiệp nghị Việt – Pháp ngày 9 tháng 7 năm 1953, Thư viện Trung
ương Hà Nội được sát nhập vào Viện Đại học Hà Nội, đổi tên thành Tổng thư
viện Hà Nội và trở thành một cơ quan văn hoá hỗn hợp Pháp - Việt
+Thời kỳ sau tháng 10/1954

(5/7/1997). Chính sự quan tâm to lớn đó của Đảng và Nhà nước đã tạo đà cho
TVQGVN phát triển nhanh và mạnh hơn.
Thư viện Quốc gia Việt Nam ngay sau ngày hoà bình lập lại đã tiến hành
những biện pháp tích cực và hữu hiệu để biến thư viện Trung ương Đông

13
Dương thành TVQGVN, là thư viện của toàn dân tộc, là thư viện trung tâm
của cả nước.
Những năm đầu thế kỷ 21, TVQGVN đã đóng góp nhiều công sức cho sự
hình thành và phát triển của sự nghiệp thư viện Việt Nam hiện đại, là chỗ dựa
đáng tin cậy, là đại diện xứng đáng của thư viện Việt Nam với nước ngoài.
Các kỹ thuật cơ bản của nghiệp vụ thư viện đều xuất phát từ đây để phổ biến
sâu rộng ra các thư viện trong cả nước.
Với những đóng góp to lớn đối với nền văn hoá, khoa học, kinh tế, giáo
dục của nước nhà TVQGVN đã được Đảng và Nhà nước trao tặng 3 Huân
chương Lao động: Năm 1967, được tặng thưởng HCLĐ hạng Ba; Năm 1982
Huân chương Lao động hạng nhì; Năm 1985 Huân chương Lao động hạng
Nhất. Và ngày 24 tháng 9 năm 2002 Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký
Quyết định tặng TVQGVN Huân chương Độc lập hạng Ba. Năm 2007, được
tặng Huân chương Độc lập hạng 2. Đây là phần thưởng quý báu ghi nhận
những hi sinh và đóng góp âm thầm của các thế hệ người công tác tại
TVQGVN, đồng thời là nguồn cổ vũ, động viên các cán bộ và công chức
đang và sẽ làm việc tại Thư viện chủ động, sáng tạo hơn nữa, phục vụ hơn
nữa mục tiêu phát triển của đất nước, của Cách mạng.
Trong quá trình phát triển từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công cho đến nay, TVQGVN luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước trong chỉ đạo về đường hướng phát triển, quản lý, cung cấp tài chính,
nhân sự, đầu tư xây dựng nhà cửa, cơ sơ vật chất- kỹ thuật. Sự quan tâm đó đã
tạo ra bộ mặt mới, thế đứng mới của TVQGVN so với các nước trong khu
vực Đông Nam Á, thể hiện sự đánh giá cao về những đóng góp mới của Thư


15
qua một số khá lớn các trường đại học ở Hà nội chưa có được những thư viện
hiện đại, có vốn tài liệu phong phú…để có thể đáp ứng tốt yêu cầu về thông
tin ngày càng tăng của sinh viên. Vấn đề này càng bức thiết khi giáo dục đại
học nước ta đang chuyển nhanh sang đào tạo theo học tín chỉ, theo đó những
người học sẽ phải dành nhiều thời gian hơn cho tìm thông tin, tài liệu để tự
học, tự nghiên cứu. Chính vì thế, TVQGVN đã tận dụng mọi phòng ốc, tăng
cường trang thiết bị, nhân sự…để mở rộng việc phục vụ cho sinh viên.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thống kê số lượng bạn đọc nói chung và
bạn đọc là sinh viên nói riêng của TVQGVN trong các năm từ 2000 – 2007 và
thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1: Số lượng thẻ đọc là sinh viên từ năm 2000 – 2007

Năm

Tổng số thẻ
bạn đọc cả
năm
Trong đó thẻ sinh viên

Tổng số

Nam

Nữ
2000
7.795
5.300
2.126

11.702
2007
21.705
15.448
4.360
11.088 16
Nhìn vào bảng 1.1: Số lượng thẻ đọc là sinh viên từ năm 2000 – 2007, ta
thấy số lượng bạn đọc là sinh viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học có số
lượng đông nhất trong tổng số bạn đọc hàng năm của thư viện. Nếu tính theo
tỷ lệ % thì bạn đọc là sinh viên thường chiếm 70 – 80% tổng số bạn đọc trong
năm. Nếu tính tổng số bạn đọc là sinh viên so với năm 2000 thì các năm từ
2003 – 2007 tăng gấp 3-4 lần. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, số
lượng sinh viên có xu hướng giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do các trường đại
học đã xây dựng được những thư viện khang trang, hiện đại, đủ sức đáp ứng
nhu cầu đọc và thông tin của sinh viên trường mình.
Căn cứ vào bảng 1.1, cho thấy bạn đọc là sinh viên nữ tích cực sử dụng thư
viện hơn sinh viên nam. Số lượng bạn đọc là sinh viên nữ tăng dần theo từng
năm. Nếu vào năm 2000-2005 số sinh viên nữ hàng năm tăng hơn 30-40% so
với bạn đọc –sinh viên nam thì những năm 2006 – 2007 nhiều gấp 2 lần.
Mặt khác, nghiên cứu NCT của NDT ở TVQGVN không thể tách rời đặc
điểm về lứa tuổi. Bởi NCT chịu tác động của khá nhiều yếu tố: trình độ học
vấn, giới tính, nghề nghiệp, lứa tuổi và hoàn cảnh sống…tuy nhiên lứa tuối
đóng vai trò then chốt.
NDT tại TVQGVN gồm nhiều độ tuổi khác nhau. Mỗi độ tuổi được sinh ra
và lớn lên trong những điều kiện xã hội tương đồng. Sự khác nhau về độ tuổi
của NDT có những đặc điểm tâm lý riêng tạo nên sự khác biệt về nhu cầu.


đầu có sự thay đổi về tâm lý, khi hầu hết các bạn học sinh đã tốt nghiệp phổ
thông để đến một môi trường học tập khác, tạo cho mình có một nghề nghiệp
ổn định cho tương lai. Đây cũng là lứa tuổi được xem là năng động nhất, sáng
tạo, thích tự khẳng định mình cho nên NCT trong việc sử dụng nguồn tài
nguyên số cũng phong phú và đa dạng hơn các lứa tuổi khác.
Lứa tuổi 31 – 40 chiếm 10%: đây là lứa tuổi đã có công việc và gia đình ổn
định. Là lứa tuổi chuyên tâm đến nghiệp vụ, thích sử dụng các thông tin đã
được xử lý để lựa chọn thông tin phù hợp.
Từ 41 – 50 tuổi: chiếm 3%. Đây là lứa tuổi có trình độ chuyên môn cao, họ
đã và đang cống hiến những thành quả lao động, nghiên cứu khoa học cho xã

18
hội. Tuy nhiên đây cũng là lứa tuổi trình độ tin học và ngoại ngữ đã hạn chế
nên họ thường không quen sử dụng tài liệu số của thư viện.
Trên 50 tuổi: Chỉ chiếm 2% đa phần là các cán bộ sắp nghỉ hưu. Lứa tuổi
này tuy đã giảm về sức khoẻ nhưng lại là những người có bề dày kinh nghiệm
được tích luỹ trong công việc và cuộc sống nên NCT có chiều sâu và ổn định
hơn cả. Nhưng đây cũng lứa tuổi có nhu cầu đọc tài liệu trên giấy nhiều hơn
(báo, tạp chí ), họ cũng ít có nhu cầu khai thác các tài liệu điện tử hay truy
cập tài liệu từ xa…
Có thể nói, nghiên cứu nhu cầu tin (NCT) của NDT là nhận dạng nhu cầu
về thông tin và tài liệu số của họ, trên cơ sở đó tìm ra biện pháp cụ thể, phù
hợp để đáp ứng chúng. Xuất phát từ đặc điểm nhu cầu và để đảm bảo việc
cung cấp thông tin và tài liệu số thích hợp với từng đối tượng, NDT tại TVQG
có thể chia thành các thời kỳ với đặc điểm:
+Trước 1954
Khi mới thành lập, đối tượng bạn đọc của Thư viện Quốc gia rất hạn chế:
- Những người Âu từ 16 tuổi trở lên;
- Các giáo viên người bản xứ;
- Sinh viên người bản xứ của các trường đại học, cao đẳng;

quan, viện nghiên cứu, trường đại học … đội ngũ người đọc với trình độ học
vấn, chuyên môn cao có nhu cầu sử dụng tài liệu tra cứu của TVQGVN ngày
càng lớn. Để đáp ứng yêu cầu đó, vào năm 1982, Thư viện mở Phòng Đọc tra

20
cứu và Tài liệu Liên hợp Quốc với khoảng 3.000 tên tài liệu gồm các tác
phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, bách khoa toàn thư, từ điển, các
sách có tính chất tổng hợp khác, thư mục in thành sách…Sách xếp theo các
mục lớn của bảng phân loại 19 dãy và bạn đọc tự đến giá chọn sách để đọc.
Trong giai đoạn này, thư viện đã phục vụ kịp thời, có hiệu quả những
chuyên đề nghiên cứu chính trị, kinh tế quan trọng của các cơ quan Trung
ương như Phủ Thủ tướng, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Ban
Tuyên huấn trung ương, các cơ quan thông tấn, truyền thanh truyền hình, báo
chí, viện nghiên cứu … Trong nhiều trường hợp, thư viện còn liên hệ với các
thư viện lớn trên thế giới mượn giúp cho người đọc những tài liệu không có
trong kho của mình.
+ Phục vụ bạn đọc giai đoạn 1986 - 1999
Trong giai đoạn này, TVQG đã tổ chức kho mở cho phần lớn báo chí trong
và ngoài nước (gần 500 tên) nhưng chỉ với 6 số mới nhất của mỗi tên báo, tạp
chí.
+ Công tác phục vụ bạn đọc giai đoạn 2000 đến nay
Việc quy định thành phần bạn đọc là cần thiết đối với các thư viện để bảo
đảm công tác phục vụ đạt kết quả cao hơn. Việc quy định này căn cứ vào
nhiều tiêu chí, điều kiện. Ở nước ta, ban đầu TVQGVN chỉ phục vụ cho bạn
đọc có trình độ từ đại học trở lên. Nhưng do nhu cầu đọc của người dân ngày
càng cao nên trước năm 2000, TVQGVN vẫn phục vụ cho bạn đọc là sinh
viên năm cuối của các trường đại học ở Hà Nội mặc dù tổng số chỗ ngồi trong
các phòng đọc chưa tới 200 chỗ. Từ tháng 9/2001, do được mở rộng diện tích
nên TVQGVN đó dành toàn bộ toà nhà D (trừ tầng 6) với tổng số hơn 700
chỗ ngồi để phục vụ bạn đọc. Đồng thời, TV cũng chọn phương thức phục vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status