Số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - Pdf 41

Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nhân loại đang bước sang một kỷ nguyên mới kỷ nguyên
của nền kinh tế thông tin và tri thức. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã
tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của đời sống xã hội trong đó có hoạt
động Thông tin – Thư viện. Đặc biệt, các thư viện trên thế giới đang có xu
hướng tự động hóa nghiệp vụ hoặc chuyển sang các loại hình thư viện điện
tử, thư viện số nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức và thông tin không
ngừng gia tăng nhanh chóng trong xã hội. Giờ đây các tài liệu trong thư viện
không chỉ đơn thuần là các tài liệu truyền thống như sách báo, tạp chí mà còn
bao gồm các loại tài liệu dạng số như: Cơ sở dữ liệu (CSDL) trên mạng, đĩa
CD, DVD…Chính vì vậy mà công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác
nguồn tài liệu số được các thư viện đặc biệt quan tâm và coi đây là vấn đề
quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả cung cấp thông tin tới người
dùng tin.
Thư viện Quốc gia Việt Nam là Thư viện trung tâm của cả nước, là
thư viện đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng, đi đầu trong công tác
tự động hoá và ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào hoạt
động của mình, ngoài việc hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng
cường đào tạo đội ngũ cán bộ thì công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác
nguồn tài liệu số cũng là một vấn đề đang được Thư viện đặc biệt quan tâm
nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin ngày càng tăng cao và đa dạng.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó tôi đã quyết định chọn đề tài: “Số
hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận nhằm tìm hiểu và bổ sung những
kiến thức thực tế cho bản thân và góp một phần nhỏ bé vào việc tìm ra giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai

Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn
Thị Hoài Thu, khóa luận tốt nghiệp năm 2001.
- “Công tác bảo quản vốn tài liệu ở Thư viện Quốc gia Việt Nam” của
Ngô Thị Hằng Nga, khóa luận tốt nghiệp năm 2004
- “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lưu chiểu ở
Thư viện Quốc gia Việt Nam” của Nguyễn Thị Hảo, khóa luận tốt nghiệp
năm 2004.
K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

- “Lịch sử phân loại tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” của Vũ
Quỳnh Nhung, khóa luận tốt nghiệp năm 2005.
- “Công tác phát triển vốn tài liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam”
của Nguyễn Thị Thu Hiền, khóa luận tốt nghiệp năm 2006.
- “Tìm hiểu công tác tổ chức và phục vụ kho mở tại Thư viện Quốc
gia Việt Nam” của Nguyễn Thị Thảo Hà, khóa luận tốt nghiệp năm 2008.
- “Công tác tổ chức và bảo quản vốn tài liệu quý hiếm tại Thư viện
Quốc gia Việt Nam” của Nghiêm Thị Bình, khóa luận tốt nghiệp năm 2008.
Ngoài ra còn nhiều đề tài khác về Thư viện Quốc gia Việt Nam như:
Nguồn nhân lực tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, tìm hiểu công tác xây
dựng và phát triển vốn tài liệu…
Tuy nhiên, đề tài về công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác
nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam thì chưa được nghiên cứu
sâu và hoàn chỉnh. Vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài này nhằm tìm hiểu
thực trạng công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số của
Thư viện và vận dụng những kiến thức đã học từ nhà trường áp dụng vào

tài liệu số: số hóa tài liệu, thư viện số, tài liệu số,...; Tầm quan trọng của
công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số đối với thư
viện.
- Về thực tiễn: Đưa ra một số nhận xét và đề xuất giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn
tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
từ viết tắt, phụ lục thì bố cục chính của khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Thư viện Quốc gia Việt Nam và những vấn đề chung về tài
liệu số.
Chương 2: Thực trạng số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài
liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho
công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện
Quốc gia Việt Nam.

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI LIỆU SỐ
1.1. Khái quát về Thư viện Quốc gia Việt Nam
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Bộ Giáo dục sang Bộ Tuyên truyền (sau là Bộ Văn hóa).
Ngày 29/06/1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép đổi tên
Thư viện thành Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Ngày 28/11/1958, Thư viện chính thức mang tên Thư viện Quốc gia
do Bộ trưởng Bộ Văn hóa quyết định.
Năm 1982, TVQGVN được Thư viện Liên hiệp quốc công nhận là
Thư viện tàng trữ tài liệu Liên Hiệp Quốc của khu vực Đông Dương.
Năm 2000, Thư viện Quốc gia chính thức gia nhập Hiệp hội Thư viện
Quốc tế IFLA (International Federation of Library Association and
Institution).
Thư viện Quốc gia với bề dày hơn 90 năm xây dựng và phát triển, qua
nhiều giai đoạn lịch sử, từ Thư viện Trung ương đến Thư viện Quốc gia, bao
giờ cũng là Thư viện hàng đầu của nước ta. Nó chính là Thư viện Khoa học
Tổng hợp lớn nhất trong cả nước, là Thư viện đứng đầu trong Hệ thống Thư
viện Công cộng nhà nước, là Thư viện tiêu biểu cho nền văn hóa của dân tộc,
là trung tâm giao lưu các mối quan hệ giữa các Hệ thống Thư viện trong cả
nước và quan hệ quốc tế.
1.1.2. Đội ngũ cán bộ Thư viện Quốc gia Việt Nam
Như chúng ta đã biết, cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện. Trong
hệ thống giao tiếp “Tài liệu – Thư viện – Người sử dụng”, cán bộ thư viện là
yếu tố cực kỳ quan trọng, vai trò của họ rất lớn. Nhiệm vụ của người cán bộ
rất phức tạp.
Trong mối quan hệ với tài liệu, cán bộ thư viện là người lựa chọn, xử
lý, bảo quản, sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định, giới thiệu chúng với
người sử dụng thư viện.

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

- Phòng Quan hệ quốc tế: 4 cán bộ

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Ngoài ra còn có 1Giám đốc và 3 Phó Giám đốc cùng các phòng ban
chức năng khác nhau nữa.
1.2. Tầm quan trọng của nguồn tài liệu số đối với sự phát triển của
Thư viện Quốc gia Việt Nam
1.2.1. Một số khái niệm chung
Ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của sự bùng nổ thông
tin. Trong thời gian gần đây có rất nhiều những khái niệm mới được dùng
trong sách, báo, trên internet như thư viện điện tử, thư viện số, tài liệu điện
tử, tài liệu số, số hóa…Các khái niệm này hiện nay đang được dùng chưa
hoàn toàn thống nhất, do vậy, trong khóa luận cần làm rõ nội hàm các khái
niệm này.
- Thư viện điện tử (TVĐT):
Khái niệm về thư viện điện tử được định nghĩa như sau: “Một hệ
thống thông tin trong đó các nguồn thông tin đều có sẵn dưới dạng có thể xử
lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng bổ sung, lưu trữ, bảo
quản, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng công nghệ thông tin”.
Sự xuất hiện khái niệm này có liên quan trực tiếp tới sự bùng nổ thông
tin trên Internet và Web mang lại. Khái niệm này đang được các chuyên gia
công nghệ thông tin sử dụng để chỉ toàn bộ hệ thống bất kể có dựa trên một
thư viện truyền thống hay không. Môi trường kỹ thuật Internet hiện nay thậm
chí cho phép một số người coi toàn thể nguồn thông tin trên mạng một lúc

chứa các tài liệu trên giấy và các vật mang tin khác vẫn làm như thu thập,
biên mục, tìm kiếm, phân phát thông tin. Một dịch vụ thư viện số đầy đủ trọn
vẹn phải bao gồm đảm bảo có cả các dịch vụ chính yếu của các thư viện
truyền thống và khai thác tối đa các ích lợi của công nghệ lưu trữ số, tìm
kiếm thông tin số và truyền thông số”
Tựu chung lại, các thư viện số với mục đích đạt được các yêu cầu cao
của xã hội đều phải:
- Phục vụ một cách lý tưởng một cộng đồng hay một tập hợp cộng
đồng người dùng tin xác định nào đó.
- Không phải là một thực thể đơn độc.
- Được cấu tạo bởi cấu trúc thống nhất, logic và tổ chức.
- Kết hợp giữa việc học tập, giáo dục với quá trình truy cập.
- Tận dụng tối đa yếu tố con người (cán bộ thư viện) cũng như các yếu
tố công nghệ.
K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

- Tạo sự truy cập thông tin nhanh chóng và hiệu quả cùng với một loạt
các phương thức truy cập đa dạng, đa chiều.
- Cung cấp truy cập miễn phí (có thể đối với một cộng đồng người
dùng tin xác định)
- Sở hữu và quản lý, kiểm soát được các nguồn tài nguyên thông tin
của mình (cũng có thể phải mua ở bên ngoài)
- Có một tập hợp nguồn tài nguyên thông tin với các đặc điểm sau:
+ Lớn và ổn định.
+ Được tổ chức và quản trị tốt.

dạng số mà máy tính có thể đọc được.
Như vậy tài liệu số và tài liệu điện tử có thể xem như là hai khái niệm
có cùng nội hàm và có thể được dùng thay thế cho nhau.
- Số hóa:
Thư viện Trường Đại học Cornell định nghĩa số hóa: “là quá trình tỷ
biến các tài liệu in ấn trên giấy được chuyển sang dạng số, cho phép các
trang thiết bị như máy tính để đọc, máy quét hình phẳng, camera số, camera
động và một loạt các thiết bị khác được sử dụng để số hóa tài liệu”.
Tóm lại: Số hóa là tiến trình chuyển tài liệu thư viện truyền thống, cụ
thể là sách và văn bản sang dạng điện tử và lưu trữ trên máy tính.
- Siêu dữ liệu: (tiếng Anh “METADATA”):
Để mô tả tài nguyên thông tin số người ta dùng siêu dữ liệu
(Metadata). Thuật ngữ “meta” xuất xứ là một từ Hy Lạp để chỉ một cái gì đó
có bản chất cơ bản hoặc cao hơn. Vì vậy có thể hiểu “metadata” là dữ liệu về
dữ liệu và được sử dụng thông thường nhất để mô tả tài nguyên thông tin
trên web.
Theo tiến sỹ Warwick Cathro, “siêu dữ liệu là những thành phần mô tả
tài nguyên thông tin hoặc hỗ trợ thông tin truy cập đến tài nguyên thông tin”.
Siêu dữ liệu được xác định là “dữ liệu mô tả các thuộc tính của đối tượng
thông tin và trao cho các thuộc tính này ý nghĩa, khung cảnh và tổ chức. Siêu
dữ liệu còn có thể định nghĩa là dữ liệu có cấu trúc về dữ liệu”. Gail Hodge
định nghĩa siêu dữ liệu là “thông tin có cấu trúc mà nó mô tả, giải thích, định
vị, hoặc làm cho nguồn tin trở nên dễ tìm kiếm, sử dụng và quản lý hơn. Siêu
dữ liệu được hiểu là dữ liệu về dữ liệu hoặc thông tin về thông tin”.

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp



K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

- Đối với công tác bảo quản trong thư viện thì nó giúp bảo quản được
phiên bản gốc của tài liệu, giữ gìn và tăng tuổi thọ của tài liệu quý hiếm bằng
việc giảm hao mòn, rách nát do quá trình tiếp xúc trực tiếp với tài liệu của
người sử dụng. TLS ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai,
khí hậu và tần suất sử dụng.
- Nguồn tài liệu số giúp thư viện mở rộng đối tượng phục vụ: Phạm vi
phục vụ các tài liệu của thư viện không bị bó hẹp trong khuôn viên của thư
viện mà nó vươn tới các vị trí địa lý khác như tại nhà, tại trường, tại nơi làm
việc... Tài liệu số tạo ra môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mở cho tất cả
mọi người đều có cơ hội sử dụng nguồn tài liệu học tập bởi nguồn tài liệu số
không bị giới hạn về không gian và thời gian. Loại bỏ khoảng cách tri thức
giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các quốc
gia.
- Tài liệu số giúp thư viện tăng khả năng đa truy cập cho phép người
dùng có thể tra tìm tài liệu đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau. Ví dụ
như tìm theo các yếu tố mô tả thư mục với các toán tử tìm được xây dựng
dựa trên các toán tử Boole, các toán tử thu gon, mở rộng, tìm theo các liên
kết tới các nguồn tham khảo, trích dẫn. Điều này cho phép người dùng tin có
thể mở rộng hay thu hẹp phạm vi tìm kiếm, rút ngắn thời gian và giảm thiểu
nhiễu tin.
- Tuyên truyền, phổ biến các tài liệu của nước ta với thế giới. Tài liệu
số được lưu giữ trên hệ thống máy tính do đó bạn đọc dù ở bất cứ đâu, không

Sách

340.000

2

Báo, tạp chí các ngôn ngữ

6.727

4

Luận án tiến sỹ

13.762

5

Bài trích

50.130

- CSDL sách của Thư viện Quốc gia: 340.000 biểu ghi (sách tiếng
Việt xuất bản từ 1954 đến nay, sách hệ chữ Latinh thừ 1982 đến nay, sách
tiếng Pháp kho Đông dương.
- CSDL Báo, tạp chí các ngôn ngữ: 6.272 biểu ghi.
- CSDL Báo, tạp chí nghiên cứu các ngôn ngữ nhập về thư viện trước
năm 1954: 1.718 biểu ghi
- CSDL Luận án tiến sỹ: 13.762 biểu ghi.
- CSDL Bài trích từ hơn 60 tạp chí: 50.130 biểu ghi.

gây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước, đến nay đã có 1.308 cuốn,
91.768 trang ảnh và 180.000 trang tài liệu với nhiều chủng loại phong phú và
có giá trị cao. Kho sách này phản ánh xác thực các mặt trong đời sống xã
hội, lịch sử, giáo dục, khoa học địa lý của Việt Nam trong suốt tiến trình lịch
sử. Do thời gian, khí hậu, sự hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo quản
nên kho sách đang dần bị xuống cấp và hư hại.

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Tài liệu Hán Nôm gốc
- Bộ sưu tập số: sách, báo Đông Dương
Sách Đông Dương: Bao gồm sách tiếng Pháp và tiếng Việt xuất bản ở
Đông Dương, viết về Đông Dương và Việt Nam. Đây là hợp đồng giữa Thư
viện Quốc gia và Chính phủ Pháp từ dự án Valease: “Tổ chức và thực hiện
chương trình số hóa tài liệu tiếng Pháp thuộc vốn di sản cổ đã được công
nhận ở Việt Nam và Đông Dương”. Thư viện Quốc gia đã tạo lập Ebook các
tài liệu viết về Việt Nam trước năm 1932. CSDL hiện có 758 tên sách,
89.512 trang, 175 bản đồ, trọn bộ tạp chí: Nam Phong; Tri Tân
- Bộ sưu tập số: Thăng Long – Hà Nội:
Bao gồm:
- Bản đồ cổ Hà Nội và vùng phụ cận
- Sách báo xuất bản sau năm 1954
- Sách báo xuất bản trước năm 1954
- Sách Hán - Nôm cổ
- Luận án tiến sỹ về Hà Nội

- Bộ sưu tập số: Sách tiếng Anh về Việt Nam
Thuộc Dự án CONSAL: 92.520 trang (338 cuốn)

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

1.3.2.2. Cơ sở dữ liệu toàn văn bổ sung từ bên ngoài

1

2

3

KEESING

PROQUEST

WILSON

- CSDL Keesing:
Đây là CSDL tập hợp toàn diện, chính xác và súc tích tất cả các bài
báo trên thế giới về chính trị, kinh tế và xã hội, các sự kiện trên toàn thế giới
từ năm 1931. Được xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng
Hà Lan.
- CSDL ProQuest:

sáng tạo và làm giàu nguồn tin. Thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng tin
cũng đồng nghĩa với việc phát triển nguồn tin của thư viện. Sự thỏa mãn nhu
cầu tin cho người dùng tin chính là cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động
thông tin trong thư viện.
Hiện nay, người dùng tin của Thư viện Quốc gia phát triển nhanh
chóng cả về số lượng và thành phần. Trình độ của người dùng tin có nhiều
cấp độ khác nhau. Đối tượng người dùng tin mà thư viện hướng tới là các
nhà quản lý, lãnh đạo các cấp, các ngành; cán bộ giảng dạy ở các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các trường phổ thông; cán bộ công
tác tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; sinh viên
các trường đại học, cao đẳng (Trước đây Thư viện chỉ làm thẻ đọc cho sinh
viên năm thứ 3, 4, nay Thư viện đã mở rộng đối tượng là sinh viên năm thứ

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

2). Qua khảo sát thực tế tôi chia đối tượng người dùng tin của TVQGVN
thành 3 nhóm chính sau:
- Nhóm 1: Cán bộ quản lý, lãnh đạo
- Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ trong các đơn vị
hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
- Nhóm 3: Sinh viên năm thứ hai trở lên ở các trường đại học và cao
đẳng
1.4.2. Đặc điểm nhu cầu tin
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra một cách mạnh mẽ
trên toàn thế giới. Nhiều thành tựu khoa học mới ra đời đã tạo nên một hiện

xác cao. Thông tin phải vừa rộng đồng thời cũng phải mang tính chuyên sâu,
bảo mật và hệ thống.
1.4.2.2. Nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ trong các
đơn vị hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
Nhóm người dùng tin này chiếm tỷ lệ khá nhiều tại Thư viện (khoảng
27%). Họ có nhu cầu tài liệu khá cao. Thông tin họ cần vừa mang tính tổng
hợp lại vừa mang tính chuyên sâu. Nhóm người dùng tin này có khả năng sử
dụng mọi loại hình tài liệu cả truyền thống lẫn hiện đại. Tài liệu họ cần
thường là những tài liệu quý hiếm; tài liệu xám, tài liệu đã được số hóa; các
tài liệu chuyên sâu về một ngành, một lĩnh vực cụ thể mà họ quan tâm.
1.4.2.3. Nhu cầu tin của sinh viên năm thứ hai trở lên của các trường đại
học và cao đẳng
Đây là nhóm người dùng tin chiếm tỷ lệ lớn nhất tại Thư viện (gần
70%). Nhu cầu tin của họ rất cao và đa dạng. Họ mong muốn tham khảo tài
liệu để mở rộng kiến thức. Đặc biệt, các sinh viên năm cuối có nhu cầu tài
liệu chuyên ngành rất cao như: giáo trình, tài liệu nghiên cứu, tài liệu chuyên
ngành,…Bên cạnh tài liệu quốc văn, ngoại văn họ có nhu cầu sử dụng khá
cao các nguồn tài liệu số của Thư viện.
Như vậy việc nghiên cứu đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại
Thư viện Quốc gia Việt Nam là giúp cho việc nhận dạng được nhu cầu thông
tin và sử dụng các nguồn tài liệu số của họ, qua đó tìm ra những biện pháp

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

phù hợp để đáp ứng đúng với nhu cầu. Điều này khẳng định vai trò của Thư

thường vụ Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 28/12/2000 và được Chủ tịch
nước ký Sắc lệnh CNT ban hành ngày 11/01/2001, đồng thời là Thư viện
đứng đầu trong hệ thống Thư viện Công cộng, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trong đó, nguồn TLS đóng vai trò quan
trọng, quyết định đến hiệu quả toàn bộ nguồn tin trong nước tại Thư viện, do
vậy vấn đề số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn TLS là một nhiệm vụ

K51 Thông tin – Thư viện


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

tất yếu. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai xây dựng và phát triển nguồn
tài nguyên này, Thư viện cũng gặp phải một số khó khăn nhất định, trong đó
có vấn đề về bản quyền cho nguồn tài liệu số hoá.

Vấn đề bản quyền thực sự đang là rào cản làm nhụt chí những người
có tâm huyết với công việc số hoá tài liệu thư viện. Sở dĩ như vậy là vì
chúng ta chưa thực sự nắm vững những quy định cụ thể của Luật bản quyền
(Luật sở hữu trí tuệ). Các cơ quan chức năng nhà nước cũng chưa có những
văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành.
Vấn đề bản quyền đối với tài liệu trong Thư viện số chia làm 2 loại:
- Các tài liệu hết luật bản quyền
Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005: Điều 27, khoản (a), (b) “Tác
phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo
hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường
hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50
sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.”

quyền là vi phạm) và phạm vi sử dụng (như phổ biến rộng rãi ra công chúng
ngoài phạm vi thư viện là vi phạm).
Vậy, công tác số hoá tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có vi
phạm bản quyền hay không? Hiện có rất nhiều quan điểm giải thích cho vấn
đề này. Tuy nhiên để có câu trả lời chính xác, cần xem xét và đối chiếu các
văn bản pháp lý vào trường hợp cụ thể của Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Qua việc đối chiếu với các văn bản trên cho thấy, việc số hoá tài liệu tại Thư
viện là đáp ứng được yêu cầu về mục đích (phục vụ nghiên cứu, giảng dạy,
học tập), song vẫn chưa đáp ứng được những quy định đã nêu tại khoản 3
Điều 20 và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ. Việc số hoá tài
liệu khi chưa xin phép chủ sở hữu đã vi phạm khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu
trí tuệ về những hành vi xâm phạm quyền tác giả đó là "Sao chép tác phẩm
mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả".
K51 Thông tin – Thư viện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status