Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chóng ta đang chứng kiến sự phát triển cực kì mau lẹ của công nghệ
thông tin và viễn thông. Công nghệ thông tin đã tác động tới mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội. Trong lĩnh vực thông tin - thư viện, công nghệ thông tin đã
làm thay đổi căn bản phương thức xuất bản tài liệu, rút ngắn thời gian cung
cấp tin đến tay người đọc.
Hiện nay thư viện quốc gia Việt Nam đã tiến hành xây dựng thư viện
điện tử, người dùng tin có thể khai thác các thông tin và tài liệu trên toàn cầu
về các lĩnh vực mà họ quan tâm, chủ yếu thông qua các nguồn tài liệu điện tử,
các cơ sở dữ liệu trên CD-ROM, các nguồn tin onlie, các nguồn thư mục điện
tử và đặc biệt là nguồn từ internet.
Thư viện quốc gia Việt Nam là một trong những thư viện đi đầu trong
việc ứng dụng tin học vào lĩnh vực hoạt động của thư viện, đã xây dựng được
một cơ sở dữ liệu, đặc biệt là trong khâu xử lý tài liệu. Thư viện quốc gia Việt
Nam đã đạt được những kết quả nhất định, tÝch luỹ kinh nghiệm dần dần
từng bước nâng cao chất lượng.
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những thay đổi cơ bản trong mọi
hoạt động của xã hội, nhờ những thành tựu của vi điện tử và tin học, đã hỗ trợ
đắc lực cho cho hoạt động thư viện đặc biệt là trong công tác xử lý tài liệu quý
hiếm trong đó có luận án tiến sỹ.
Công tác xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu luôn được coi là nhiệm vụ cơ
bản, trọng tâm cần được nghiên cứu xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Bởi
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 1
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
lẽ mọi hoạt động đầu vào của TVQGVN đều phải trải qua quá trình nhập máy,
xử lý, hiệu đính đưa ra phục vụ tra cứu, phục vụ cho người dùng tin.
Việc nghiên cứu khâu xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu luận án
tại TVQGVN hiện nay luôn đòi hỏi những vấn đề thiết thực cần được tiến
hành,
cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau
Tìm hiểu lịch sử hình thành, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của
Thư Viện Quốc Gia Việt Nam
Khảo sát phần mềm tích hợp ILIB trong quá trình xử lý kho luận án tại
TVQGVN
Biện pháp và một số kiến nghị phát triển kho luận án tiến sỹ tại Thư
Viện Quốc Gia Việt Nam
6. NỘI DUNG KHOÁ LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khoá luận gồm 3 chương:
ChươngI: Khái quát về thư viện quốc gia Việt Nam
ChươngII: Ứng dụng công nghệ thông tin quản lý kho luận án tại TVQGVN
ChươngIII: Một số biện pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kho luận án của
TVQGVN
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 3
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Lịch sử thư viện Việt Nam được khởi đầu từ thế kỷ XI. Tuy có bề dày
hơn 10 thế kỷ, song phải đến đầu thế kỷ XX và đặc biệt từ sau năm 1945 đến
nay, sự nghiệp thư viện mới thực sự bước vào thời kỳ phát triển. Năm 1917
một thư viện mang tương đối đầy đủ về ý nghĩa của Thư Viện Quốc Gia mới
được thành lập ở Việt Nam, đó là thư viện trung ương Đông Dương.
Đầu thế Kỷ XX sau khi hoàn thành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất, thực dân Pháp thi hành chính sách mới về chính trị, kinh tế, văn hoá ở
Việt Nam. Chóng đã mở gần 500 trường học các cấp dạy chữ Pháp, La tinh,
và Quốc ngữ.
Song song với việc mở mang trường học thực dân pháp rất quan tâm tới
việc phát triển báo chí. Thời kì này, cùng với những tờ báo thực dân, ở nước ta
cũng đã xuất hiện nhiều tờ báo tiến bộ của các tổ chức cách mạng.
Sau ngày giải phóng thủ đô (10/1945) Thư viện quốc gia Việt Nam
chính thức được ra đời trên cơ sở tổng Thư Viện của chế độ cũ. Đây là thư
viện đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Là thư viện Trung ương của cả nước, đồng thời là thư viện trọng điểm
của hệ thống công cộng Nhà nước thuộc Bộ văn hoá thông tin, Thư viện quốc
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 5
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
gia Việt Nam có vốn tài liệu sách báo khá phong phó. Thư viện có quan hệ
trao đổi sách báo với 122 thư viện, của 32 quốc gia trên thế giới. Ngoài ra còn
quan hệ đối ngoại với các tổ chức nghề nghiệp trong nước, khu vực và thế
giới. Năm 1961, liên hiệp hội Thư viện quốc tế (IFLA) đã mời Thư viện quốc
gia Việt Nam tham dự các hội nghị chuyên môn. Năm 2000 Thư viện quốc gia
Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức của IFLA, CONSAL (Hội
nghị thư viện các nước Đông Nam Á) và là thư viện chi nhánh tiếp nhận báo
của Liên hiệp quốc. Nhiều dự án đã được kí kết song phương giữa Thư viện
quốc gia Việt Nam với Thư Viện tổ chức thế giới.
Nắm bắt được xu thế tất yếu trong tương lai là tin học hoá, tự động hoá
hoạt động thư viện. Thư viện quốc gia Việt Nam đã ứng dụng công nghệ
thông tin vào sự nghiệp thư viện từ năm 1986 và cũng đã tranh thủ được sự
giúp đỡ của nước ngoài trong lĩnh vực này. Hiện nay Thư viện quốc gia Việt
Nam đã tiến hành xây dựng thư viện điện tử, thư viện số và nâng cấp mạng
thông tin thư viện theo hướng điện tử hoá rộng rãi trong các khâu. Tháng
12/2001 Thư viện ký hợp đồng với Công ty CMC xây dựng thư viện tích hợp
ILIB, chuyển đổi CSDL CDS/ISIS sang khổ mẫu MAR21.
Thư viện hiện nay có 185 công nhân viên chức trong đó có khoảng 80%
có trình độ đại học và trên đại học. Mỗi năm Thư viện quốc gia Việt Nam cấp
khoảng 32000 thẻ đọc, phục vụ khoảng 46.500 lượt bạn đọc tại chỗ. Do có
những đóng góp to lớn với nền văn hoá, khoa học, giáo dục, nước nhà nên
Thư viện quốc gia Việt Nam đã được tặng thưởng huân chương lao động hạng
nhất năm 1985, huân chương lao động hạng nhì năm 1982, huân chương lao
Xây dựng, bảo quản lâu dài vốn tài liệu của dân téc và của nước ngoài
viết về Việt Nam .
Thu thập theo chế độ lưu chiểu các xuất bản phẩm, luận án tiến sĩ của
công dân Việt Nam bảo vệ trong và ngoài nước, của công dân nước ngoài bảo
vệ tại Việt Nam.
Xử lý thông tin, biên bản xuất bản Thư mục quốc gia và Ên phẩm thông
tin về văn hóa nghệ thuật, tổ chức biện soạn tổng thư mục Việt Nam.
Hợp tác trao đổi tài liệu với thư viện trong nước và nước ngoài theo quy định
của pháp luật.
Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động thư
viện.
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư viện trong cả nước theo
sự phân công của Bộ Văn hóa - Thông tin hoặc yêu cầu của địa phương, đơn
vị.
Thực hiện hợp tác quốc tế theo kế hoạch của Bộ Văn Hóa - Thông tin
và quy định của pháp luật.
Lưu giữ các tài liệu có nội dung tại khoản 1 điều 5 Pháp lệnh Thư viện
và phục vụ người đọc theo quy định của Chính Phủ.
Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động dịch vụ, thu phí phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, quản lý và sử dụng theo quy định của
pháp luật.
Đảm bảo kỷ luật, kỷ cương theo nội quy làm việc của thư viện, đảm bảo
an toàn, an ninh, cảnh quan môi trường khu vực do Thư viện quản lý.
Quản lý tổ chức bé máy, biên chế, hồ sơ tài liệu, thực hiện chính sách,
chế độ đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý
theo quy đinh của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ trưởng.
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 8
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
Quản lý sử dụng tài chính, tài sản được giao và các nguồn thu khác theo
quy định của pháp luật.
Do nhu cầu đào tạo cán bộ phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội nói chung và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nói riêng nên đội ngò
những người có trình độ trên đại học ngày một thêm đông đảo. Chỉ tính riêng
sè Tiến sĩ bảo vệ thành công luận án trong thời gian qua đã lên tới hơn 14528.
Luận án là công trình khoa học có giá trị cần được lưu trữ và bảo quản
tốt để phục vụ cho việc nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn. Với tư cách là
trung tâm lưu trữ Ên phẩm quốc gia lớn nhất cả nước. Thư viện quốc gia Việt
Nam được nhà nước giao chức năng thu nhận các luận án khoa học đã bảo vệ
trong và ngoài nước, theo quyết định số 401/TTG ngày 9/10/1976 của Thủ
tướng chính phủ. Theo quy định sau khi bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu
khoa học của mình, cán bộ khoa học có trách nhiệm giao nép luận án cho Thư
viện quốc gia, bao gồm một bản luận án, một bản tóm tắt luận án, và nếu bảo
vệ ở nước ngoài thì cần có thêm các bản dịch ra tiếng việt.
Kho luận án là các công trình nghiên cứu sáng tạo của các nhà khoa học
( mét kỹ sư, nhà kinh tế, nhà xã hội học,…) đã bảo vệ thành công trước hội
đồng khoa học quốc gia và công chóng, tác giả của bản luận án được công
nhận mét học vị nhất định.
Luận án khoa học được xếp vào loại tài liệu không xuất bản, thường
được in chụp hoặc đánh máy.
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 10
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
Kho luận án phong phú, đa dạng về các ngành khoa học. Với số lượng
chưa lớn so với các sách khác ở Thư viện quốc gia nhưng tính chất đa ngành
khoa học của nó đã biểu hiện rõ rệt.
Do tính khoa học của từng bản luận án rất cao nên kho luận án ở Thư
viện quốc gia Việt Nam là mét trong những kho tài liệu quý hiếm trong hệ
thống kho tàng tài liệu ở nước ta.
2. Kết quả thu nhận luận án ở TVQGVN
Thư viện quốc gia Việt Nam đã thành lập kho luận án bao gồm toàn bộ
số luận án đã nộp tại Thư viện khoa học kỹ thuật Trung ương trước đây kết
Sau khi nghiên cứu quá trình thu nhận và kết quả thu nhận luận án ở
Thư viện quốc gia Việt Nam em xin đưa ra một số nhận xét: Kho luận án là
một trong những tài sản văn hoá quý của đất nước, là bộ phận quan trọng
trong vốn sách của đất nước. Đây là nơi biểu hiện tập trung trí tuệ của các nhà
khoa học Việt Nam. Bên cạnh những vốn sách báo bằng tiếng việt và tiếng
nước ngoài, nguồn luận án tại Thư viện quốc gia Việt Nam đã giúp cho việc
học tập và nghiên cứu của độc giả có kết quả đáng kể.
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 12
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
II. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN QUẢN LÝ KHO LUẬN ÁN
TIẾN SỸ TẠI TVQGVN
1. Cơ sở dữ liệu thư mục
1.1. Giai đoạn trước 2001
1.1.1. Phần mềm CDS/ISIS
Thư Viện Quốc Gia Việt Nam bắt đầu ứng dụng tin học trong hoạt
động thư viện từ giữa năm 1986 với sự giúp đỡ về trang thiết bị và đào tạo
cán bộ của Thư Viện Quốc Gia ÓC, với hai máy tính XT- 8086.
Trong giai đoạn đầu, mục tiêu đầu tiên và chủ yếu là tự động hoá việc
tạo lập CSDL thư mục về Ên phẩm Việt Nam ( Bao gồm tất cả các loại tài
liệu xuất bản trong nước nhận được thông qua con đường lưu chiểu) và biên
soạn thư mục Quốc Gia hàng tháng và thư mục Quốc Gia hàng năm. Đến đầu
những năm 90 việc tin học hoá của ngành thư viện từng bước được triển khai
đặc biệt là các thư viện khoa học tỉnh và thành phè.
Ban giám đốc Thư Viện Quốc Gia Việt Nam đã quan tâm và tạo điều
kiện cho các chuyên gia phòng máy tính và các cán bộ chuyên môn trong cơ
quan tích cực triển khai công việc, tổ chức nhân lực, vật lực thực hiện có hiệu
quả của các quy trình kỹ thuật của công tác này.
Đến năm 1987 Thư Viện tiến hành xây dựng CSDL. Với quan điểm
CSDL thư mục của Thư Viện Quốc Gia Việt Nam là CSDL tổng hợp phản
ánh toàn bộ vốn tài liệu của Thư Viện. Các CSDL được phân chia theo loại
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 14
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
Cấu trúc của CSDL trong CDS/ISIS gồm nhiều file khác nhau có quan
hệ chặt chẽ với nhau về logic nhưng hoàn toàn độc lập với nhau về mặt vật lý.
Trong mét file gồm nhiều biểu ghi, mỗi biểu ghi là tập hợp của các trường.
Cán bộ thư viện phải thực sự hiểu được cấu trúc, đặc tính của CSDL nhằm
phục vụ tốt cho công tác tìm tin.
Cấu trúc của CSDL được xây dựng từ năm 1986 nhằm mục tiêu ban
đầu là tự động hoá biên soạn thư mục Quốc Gia trên cơ sở sử dụng CDS/ISIS
1.0. Do hạn chế về phần cứng, phần mềm và nguồn nhân lực lúc đó, cấu trúc
ban đầu rất đơn giản chỉ gồm các yếu tố mô tả và thêm trường từ khoá để tìm
tin. Năm 1992 bắt đầu thêm trường tóm tắt để giới thiệu nội dung tài liệu.
Qua nhiều lần điều chỉnh chủ yếu là theo hướng tạo các sản phẩm đầu ra theo
đúng quy tắc hiện hành của nghiệp vụ thư viện.Trong khoảng thời gian từ
năm 1992-1994, Thư Viện Quốc Gia Việt Nam có ý định quản lý các bài
trích trong tuyển tập cùng chung với biểu ghi của tuyển tập nên đã có các
trường được ghi nhãn từ 31 đến 38 để làm việc này.
Trong thực tế công tác tại Thư Viện Quốc Gia Việt Nam, việc tự động
hoá biên soạn thư mục Quốc gia và xây dựng CSDL sách được bắt đầu từ
tháng 7 năm 1986. Có thể nói tựu chung lại để đưa dữ liệu vào máy, các
nguồn tin được định hình theo một cấu trúc nhất định.
Quá trình tích hợp: Do quá trình xử lí hồi cố, cho đến năm 2000 các
biểu ghi dạng sách của Thư Viện Quốc Gia Việt Nam được lưu trữ ở các
dạng CSDL sau:
CSDL SACH: Sách Việt từ năm 1987 và sách ngoại La tinh từ năm
1992.
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 15
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
CSDL BOOK: Sách ngoại Latinh hồi cố từ năm 1983 đến 1991
CSDL HOI CO: Sách Việt hồi cố từ năm 1975 đến 1992 trong đó các
Trường chứa tên tác giả cá nhân hoặc tác giả tập thể được chọn làm
tiêu đề mô tả chính - còn những tác giả khác có trách nhiệm ngang bằng với
tác giả được chọn làm tiêu đề mô tả sẽ được trình bày ở trường 5.
Trường 2: Tên sách
( Trường này tương đương với trường 200$a trong UNIMARC)
Nhãn trường Tên trường Độ dài Trường con Trường lặp
2 Tên sách 250 + +
Trường này chứa các dữ liệu đặc trưng về sách, có giá trị truy cập
thông tin theo từng từ hoặc tên sách đầy đủ
Trường 3: Bổ sung tên sách
(Trường này tương đương với trường 200$ C trong UNIMARC)
Nhãn trường Tên trường Độ dài Trường con Trường lặp
3 Bổ sung tên 250 + +
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 17
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
sách
Trường này chứa những thông tin phụ về tên sách theo quy tắc mô tả,
không có giá trị thông tin.
Trường 4: Thông tin về xuất bản
Trường này tương đương với trường 250 $ a trong UNIMARC)
Nhãn trường Tên trường Độ dài Trường con Trường lặp
4 Thông tin về
xuất bản
100 + R
Bản khai CSDL LUAN AN của Thư Viện Quốc Gia Việt Nam nh sau:
CSDL LA gồm 15 trường dữ liệu. Các nhãn trường của CSDL LA tuy
không giống với nhãn trường của UNIMARC, nhưng dữ liệu đã tách nhỏ cho
thuận lợi và dễ dàng trong quá trình xử lý, nhập tin, và trao đổi dữ liệu
Trường 1: Tiêu đề mô tả
Nhãn trường Tên trường Độ dài Trường con Trường lặp
1.2.1. Phần mềm ILIB
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 20
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
Để đảm bảo khả năng lưu trữ, xử lý cũng như tốc độ tăng trưởng của hệ
thống với khoảng 13000 biểu ghi mới và khoảng 12000 biểu ghi hồi cố, xứng
đáng với đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực thư viện trực thuộc Vụ thư viện - Bé
văn hoá - Thể thao - Du lịch, là cơ quan quản lý hệ thống thư viện công cộng
tại các tỉnh thành phố trong cả nước, đồng thời là cơ quan hướng dẫn nghiệp
vụ cho hệ thống thư viện cả nước, cũng là đầu mối liên hệ giữa hệ thống thư
viện trong nước và các thư viện quốc tế, phần mềm thư viện điện tử được sử
dụng tại thư viện quốc gia phải là một phần mềm đủ mạnh.
1.2.1.1. Là một giải pháp hoàn chỉnh về quản lý thư viện
Ngay từ khi bắt tay vào việc thiết kÕ và xây dựng chương trình ILIB
quan điểm của CMC là xem xét tất cả các nghiệp vụ thư viện một cách tổng
thể và tham khảo rất nhiều mô hình phần mềm thư viện chuẩn đang được các
thư viện nổi tiếng trên thế giới sử dụng như VTLS, CARL(TLC)… Các mô
hình này đã được chứng minh và là xu hướng mà các thư viện Việt Nam
hướng tới.
ILIB là giải pháp thư viện điện tử phát triển theo những nguyên tắc
xuyên suốt toàn bộ chương trình: Dễ sử dụng, đảm bảo tất cả các yêu cầu và
tiêu chuẩn về nghiệp vụ thư viện, có kiến trúc hệ thống hỗ trợ khả năng mở
rộng không hạn chế và các kết nối logic trực tiếp giữa các module, sẵn sàng
cho việc khai thác dữ liệu ở tốc độ cao mà vẫn đảm bảo an toàn dữ liệu và bảo
mật.
ILIB quản trị các quy trình nghiệp vụ chuẩn của một thư viện hiện đại
như bổ sung, biên mục, tra cứu trực tuyến, quản lý lưu thông tài liệu ( Ên
phẩm và các nguồn tin điện tử), quản lý xuất bản phẩm nhiều kỳ ( tạp chí, tập
san, báo…) quản lý kho tài liệu, quản lý thông tin về bạn đọc - tất cả đều có
thể kết hợp dùng mã vạch. Đặc biệt tất cả các module được tích hợp vào trong
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 21
Chuyển đổi các biểu ghi trong các CSDL xây dựng theo CDS/ISIS sang
khổ mẫu MARC.
Tất cả các chức năng của chương trình được tích hợp trong cùng mét
giao diện và cơ sở dữ liệu chung và có thể được tuỳ biến để phù hợp với các
điều kiện và tính chất nghiệp vụ đặc thù của từng thư viện nếu có yêu cầu.
Các module của ilib được liên kết với nhau thành một hệ thống tích hợp
đảm bảo khả năng chỉ nhập dữ liệu một lần và khai thác được ở nhiều nơi.
Mô hình 3 líp - đầu cuối chỉ cần trình duyệt web. Mọi qui tắc quản lí
nghiệp vụ tập trung khiến cho cài đặt và bảo trì đơn giản.
Có thể chạy trên các môi trường điều hành khác nhau: MS windows
2000, Unix.
Như vậy: Ilib là giải pháp tổng thể được thiết kế và triển khai với công
nghệ web và ilib đáp ứng tất cả các yêu cầu đặt ra về công nghệ như yêu cầu
về hệ điều hành, cơ chế hoạt động client - server, truy nhập đồng thời thông
qua môi trường mạng Lan, Intranet, Internet với giao thức TCP/IP, hoạt động
theo mô hình 3 líp nghĩa là máy trạm chỉ cần cài đặt chương trình duyệt Web
như IE hoặc Nestcape Navigator, có thể nói ilib phù hợp hoàn toàn với yêu
cầu do thư viện đặt ra với phần mềm thư viện điện tử. Chính vì được thiết kế
chuẩn với một bài toán tổng thể nh vậy, ilib đã bao hàm được tất cả các khía
cạnh của nghiệp vụ thư viện và là giải pháp hoàn chỉnh cho thư viện.
1.2.1.2. Tuân theo các chuẩn của thư viện
Bất kỳ chương trình thư viện điện tử nào cũng phải tuân theo các chuẩn
về thư viện để đảm bảo thực hiện sự liên thông giữa các thư viện trong nước
hợp tác, trao đổi tài liệu với thư viện nước ngoài theo quy định của chính phủ
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 23
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Lan
Nhận thức được vấn đề này ngay từ khi thiết kế hệ thống, ilib thoả mãn tất cả
các yêu cầu về chuẩn thư viện nh:
- Khổ mẫu trao đổi ISO2709: Cho phép trao đổi với CDS/ISIS
- Khổ mẫu MARC21 hoặc UNIMARC: Ilib hỗ trợ cả hai khổ mẫu
sức linh hoạt với khả năng ứng biến cao.
Module biên mục
Công cụ hữu hiệu cho cán bộ thư viện: Module này cho phép thực
hiện công tác biên mục khá hiệu quả, bao gồm các thao tác như tạo biểu ghi
mới, chỉnh sửa hoặc xoá các biểu ghi hiện có, sử dụng lại các biểu ghi và tạo
các trường riêng. Module biên mục còn cho phép cán bộ thư viện chọn lùa
cách đặt thông số riêng.
Thiết lập tham số làm việc: Ilib hiểu rằng mỗi thư viện có những đặc
thù riêng. Do vậy việc thiết lập và điều chỉnh các tham số làm việc ( các
trường và yếu tố dữ liệu) là cần thiết nhằm mục đích phục vụ cho công tác
biên mục tuỳ theo yêu cầu của từng thư viện. Nhờ quá trình này, các khổ mẫu
nhập tin được tạo ra phục vụ cho việc biên mục các dạng tài liệu khác nhau và
cũng không hạn chế về số lượng khổ mẫu. Các dạng tài liệu bao gồm:
Sách ( chuyên khảo)
Xuất bản phẩm nhiều kỳ: Tạp chí, báo, tập san, tùng thư, niên giám
Tư liệu đặc biệt: Bản thảo chép tay, bản đồ, tranh ảnh, tư liệu ghi âm
(nhạc, âm thanh), ghi hình (phim, video), vi hình, nguồn tin điện tử
Tư liệu kỹ thuật: Tiêu chuẩn và quy phạm kỹ thuật, sáng chế phát minh,
catalô công nghiệp
Ngành Thông tin học và quản trị thông tin 25