Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
A.Lời mở đầu
Sự vận động và diễn biến của sức mua tiền tệ trên thị trường luôn
luôn là tấm gương phản ánh một cách đầy đủ nhất thực trạng kinh tế xã hội
của đất nước trong từng thời kỳ phát triển. Vì thế, sức mua của tiền tệ và sự
ổn định của nó luôn là một nhiệm vụ kinh tế quan trọng bậc nhất và cũng là
nhiệm vụ chính trị mà các nhà chức trách của bất kỳ đất nước nào cũng
phảI đặc biệt quan tâm. Cũng bởI vì thế mà vấn đề lạm phát, chống lạm
phát, kiềm chế và kiểm soát lạm phát là một trong những vấn đề đầu tiên
trong việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Và cũng là
vấn đề mà các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý dày công
nghiên cứu và có nhiều tranh cãi. Lạm phát, nó luôn là con dao hai lưỡi. Một
mặt, nó kích thích tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, khi lạm phát cao và không
kiểm soát được thì nó để lạI hậu quả nghiêm trọng đốI vớI nền kinh tế, cũng
như xã hội. Vấn đề đặt ra là phảI giữ lạm phát ở mức nào là phù hợp để đạt
mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao. Và khi lạm phát bùng nổ thì những biện
pháp nào là hữu hiệu để khống chế và kiểm soát nó.
Bởi vai trò quan trọng của lạm phát đối với nền kinh tế, nên em đã
chọn đề tài: “Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
hiện nay” để nghiên cứu. Đây là một vấn đề kinh tế phức tạp và có nhiều
quan điểm khác nhau. VớI thời gian và khả năng hạn chế, em mong nhận
được sự góp ý chân thành của thầy và các bạn để bài nghiên cứu của em
được hoàn thiện hơn.
1
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
B. NộI dung
tính CPI ngườI ta dựa vào tỷ trọng của phần chi cho từng mặt hàng trong
tổng chi tiêu cho tiêu dùng của thời kỳ có lạm phát.
1.2. Quan điểm của các trường phái khác nhau về lạm phát:
Do quan điểm nhìn nhận khác nhau về nguyên nhân và hậu quả của
lạm phát gắn liền vớI vấn đề chung của sự phát triển và kém phát triển của
nền kinh tế, cũng như các yếu tố về thể chế, chính sách.. Vì thế, mà có các
trường phái khác nhau về lạm phát. Trong đó có một số quan điểm chính
sau:
1.2.1. Lý thuyết cơ cấu về lạm phát:
Theo quan điểm của trường phái này thì, nguyên nhân của lạm phát
là do sự mất cân đốI về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phốI gây ra tăng
giá. Và họ cũng cho rằng: Lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khi muốn tăng
trưởng kinh tế cao nhưng lạI tồn tạI nhiều khiếm khuyết, hạn chế và yếu
kém.
Lạm phát cơ cấu có thể viết dướI dạng phương trình sau:
l = .d/GDP +. Log (GDP)+.log(e)+.
Trong đó: d là mức thâm hụt ngân sách nhà nước
e là tỷ giá hốI đoái.
l là tỷ lệ lạm phát.
Có thể giảI thích cụ thể như sau:
- Mất cân đốI giữa cung và cầu lương thực, thực phẩm do quá trình
đô thị hoá, những ngườI sống ở đô thị có thu nhập cao và ngày càng đông
nên nhu cầu lớn. Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lạI chưa được quan
tâm phát triển đúng, nên cung lạI bị hạn chế. Kết quả đẩy giá lên cao.
- Mất cân đốI cung- cầu ngoạI tệ do nhà nước nhập nhiều hơn xuất
dẫn đến cán cân thanh toán quốc tế của những nước này lâm vào tình trạng
khó khăn và buộc họ phá giá đồng tiền. Dẫn đến, lạm phát tăng lên.
g là tốc độ tăng GDP thực.
Tuy nhiên, trong dài hạn thường dùng phương pháp xấp xỉ:
L = .m+.g+ (với
Pi0 qi0
Pit: giá hàng hóa sản phẩm i trong giai đoạn t
Pi0: giá hàng hóa sản phẩm i trong giai đoạn cơ sở
qi0: tổng lượng hàng hóa sản phẩm i trong giai đoạn
cơ sở
Cách tính chỉ số CPI không phảI cộng tất cả các giá cả lạI và chia cho
tổng khốI lượng hàng hoá mà cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng
của nó trong nền kinh tế. Còn chỉ số giảm phát GDP được coi là chỉ số phản
ánh bình quân giá của tất cả hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước. Nên,
chỉ số này được coi là toàn diện hơn chi số giá tiêu dùng CPI và bao quát
hết tất cả các loạI hàng hoá dịch vụ.
n
LGDP = Error! =
I=1
n
Pit qit
Pi0 qit
I=1
tốc độ tăng trưởng.
- Lạm phát làm tăng cầu hàng hoá một cách giả tạo và càng làm cho
lạm phát có nguy cơ bùng nổ đến mức độ cao hơn. Vì khi đó: Dân chúng sẽ
không gửI tiền tiết kiệm để hưởng lãi hay đầu tư kiếm lợI nhuận mà họ sẽ
mua hàng hoá tích trữ.
- Lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế, xã
hộI của quốc gia: Vì khi lạm phát cao, sức mua đốI nộI của đồng tiền giảm
sút, lòng tin của dân chúng cũng như các nhà đầu tư vào sự ổn định giá trị
đồng tiền, vào hệ thống ngân hàng và cao hơn nữa vào chính phủ sẽ bị xói
mòn.
- Lạm phát cao làm giảm các nguồn thu từ thuế cho ngân sách nhà
nước: Được xét trên hai phương diện: Một mặt, lạm phát cao dẫn đến sản
xuất đình đốn làm cho nguồn thu ngân sách giảm cả qui mô và chất lượng.
7
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Mặt khác, lạm phát cao đồng nghĩa vớI đồng tiền bị mất giá. Do vậy, cùng
một khốI lượng tiền thu từ thuế dẫn đến giá trị thực giảm.
Tóm lạI, hậu quả của lạm phát là to lớn, có sức tàn phá ghê gớm, tác
động xấu đốI vớI nền kinh tế, xói mòn vấn đề xã hộI và có thể công phá cả
vào sự ổn định của chính trị. Do vậy: Mục tiêu hàng đầu trong chính sách
kinh tế vĩ mô của các quốc gia là: Ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm
phát.
2. Lạm phát vớI các biến số vĩ mô trong nền kinh tế:
2.1. Lạm phát và tăng trưởng:
Theo các nhà kinh tế,sau khi đã thí nghiệm nhiều nền kinh tế trên thế
giớI cho thấy lạm phát và tăng trưởng có quan hệ tỷ lệ thuận khi tỷ lệ lạm
phát ở mức thấp có thể chấp nhận được và ổn định. Còn khi tỷ lệ lạm phát
đầu tư mở rộng năng lực sản xuất và cuốI cùng khi năng lực sản xuất không
tăng, sản xuất đình đốn thì tăng trưởng của nền kinh tế cũng giảm theo và
đây là thờI kỳ nền kinh tế trì trệ, thụt lùi.
2.2. Lạm phát vớI đầu tư và thu chi ngân sách nhà nước:
Ở trên chúng ta đã nói về những nguyên nhân chung gây ra lạm phát.
Vì thế, khi xét mốI quan hệ giữa lạm phát vớI đầu tư và thu chi ngân sách
nhà nước chúng ta sẽ hiểu hơn một phần nào căn nguyên gây ra lạm phát.
Trước hết, xét mốI quan hệ đầu tư và lạm phát: Đầu tư và lạm phát có
mốI quan hệ khăng khít vớI nhau. Nếu không tăng đầu tư sẽ dẫn đến tăng
trưởng kinh tế chậm và tỷ lệ lạm phát cũng giảm. Việc đầu tư nó tác động
trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Khi đầu tư kém thì việc mở rộng năng lực
sản xuất kém dẫn đến nền kinh tế tăng trưởng kém. Còn nếu tăng đầu tư
qúa mức và nếu đầu tư không hiệu quả thì cũng dễ dẫn đến lạm phát.
Một trong những yếu tố để khuyến khích đầu tư phát triển là sự ổn
định nền kinh tế. Mặt khác, ta cũng thấy rằng: Nguồn đầu tư lớn đó là thu
ngân sách nhà nước. Vì trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước thì đầu tư
tăng chiếm tỷ trọng lớn. Vậy, thu chi ngân sách nhà nước tác động đến đầu
tư và cũng tác động đến lạm phát. Vì thế, ngân sách nhà nước có mốI quan
hệ nhân quả vớI lạm phát. Nếu thâm hụt ngân sách nhà nước quá mức có
9
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
thể dẫn đến lạm phát cao, để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước thì
thường thực hiện việc phát hành tiền. Mà việc bơm vào lưu thông một
lượng tiền lớn thì đó là yếu tố dẫn đến lạm phát. Còn ngược lạI, nếu thắt
chặt chi tiêu ngân sách nhà nước tránh thâm hụt thì có thể dẫn đến thiểu
phát và không giảI quyết được các vấn đề xã hộI cần thiết. Còn nếu tăng chi
hoà được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nước.
2.4. Lạm phát với sản xuất và thương mại:
Như đã phân tích ở mục trên, một trong những nguyên nhân chung gây ra
lạm phát là: Mất cân đốI giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá. Mà nguyên
nhân gây ra mất cân đốI đó là quá trình sản xuất và lưu thông. Đồng thờI,
lạm phát nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất và thương mại. Vì
thế, lạm phát với sản xuất và thương mạI có mốI quan hệ chặt chẽ.
Khi sản xuất trì trệ có hai khả năng: Lạm phát cao hoặc thiểu phát, bởi
lẽ lúc này mất cần bằng trầm trọng giữa cung cầu. Cầu cao hơn cung dẫn
đến lạm phát, cầu thấp hơn cung gây ra bảo hoà và thiểu phát. Đồng thời,
khi sản xuất trì trệ nó tác động trực tiếp đến thu ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, thì khi hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ, đặc
biệt là xuất khẩu làm cho nền kinh tế lành mạnh và tăng trưởng tốt, đưa đến
nền kinh tế ổn định và giúp làm cho tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức chấp
nhận được. Còn khi nền kinh tế chủ yếu nhập khẩu thì sẽ làm thâm hụt cán
cân thanh toán quốc tế dẫn đến lạm phát.
Tóm lạI, để khống chế được lạm phát ở mức hợp lý và hạn chế được
thiểu phát thì phảI đẩy mạnh sản xuất đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
đặc biệt là đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm. BởI vì nó chiếm tỷ
trọng lớn trong chỉ số giá tiêu dùng.
2.5. Lạm phát vớI lãi suất:
Như chúng ta đã biết, lãi suất là giá tiền tệ, lạm phát là sự mất giá của
tiền tệ. Vì thế, khi sử dụng đồng tiền một thờI gian nhất định nào đó phảI
cho ngườI ta nhận được lợI nhuận tính theo đồng tiền tức là lãi suất trừ đi
lạm phát phảI là con số dương nào đó thì mớI có thể nói sử dụng đồng tiền
có hiệu quả. Nói cách khác, lãi suất dương là sự bảo toàn giá trị đồng tiền
11
cung ứng. Và nó thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao
nhằm khống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng.
12
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
2.7. Lạm phát vớI tỷ giá hốI đoái:
Khi nghiên cứu các chính sách kinh tế mà nhà nước đã điều hành và
sử dụng trong hơn 20 năm đổI mớI của đất nước, thì có thể nói việc điều
hành, cảI cách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là một thành công lớn, vì nó phù
hợp với quá trình cảI cách nền kinh tế nói chung và quá trình cảI cách nền
tài chính tiền tệ nói riêng. Chính sách tỷ giá hối đoái đã góp phần kiềm chế
lạm phát , thực hiện mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu, cảI thiện cán cân thanh toán
quốc tế, góp phần loạI trừ tách động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông
Nam Á.
Lạm phát và tỷ giá có quan hệ vớI nhau, nhưng là quan hệ gián tiếp
có độ trễ nhất định, cho nên sự thay đổI của lạm phát chưa gây tác động
đến tỷ giá hối đoái và ngược lại. Tuy nhiên, khi đồng tiền mất giá (Tỷ giá
cao), thì giá cả hàng hoá tăng, giá hàng nhập tăng dẫn đến lạm phát tăng
lên. Ngược lạI, khi lạm phát tăng cao, đồng tiền nộI tệ mất giá so vớI hành
hóa trong nước thì đưa đến đồng tiền nộI tệ cũng giảm giá so vớI ngoạI tệ
dẫn đến tỷ giá tăng cao lên.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát :
Qua phân tích và nghiên cứu ở trên, chúng ta đã thấy được phần nào
những nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát. Sau đây là tổng hợp giúp ngườI
đọc có cái nhìn tổng quan hơn về những nguyên nhân gây nên lạm phát .
a. Cung ứng tiền tệ và lạm phát:
AS2
P2
1'
AS1
P'1
P1
1
AD2
AD1
Y'
Yn
Tổng sản phẩm
Lạm phát phí đẩy
- Lạm phát cầu kéo: Nếu các nhà hoạch định chính sách sẽ hoạch
định và theo đuổI một tỷ lệ thất nghiệp dướI mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Để đạt được mục tiêu này thì phảI đưa ra những biện pháp tác động làm
tăng tổng cầu, tức làm đường tổng cầu dịch chuyển đến AD2, nền kinh tế ở
14
15
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
như hiểu rõ nó, ta chia lạm phát theo từng thờI kỳ ứng vớI những đặc điểm
của nó.
1.1.ThờI kỳ trước đổI mớI (trước 1986)
Trước đổI mớI, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung, quan liêu bao cấp, nên vấn đề giá cả chưa chịu tác động của
qui luật thị trường, mà được định ra theo những mệnh lệnh và những qui
định, do vậy lạm phát chưa xuất hiện. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 19761985 nền kinh tế đã có nhiều dấu hiệu suy thoái, khủng hoảng và lạm phát,
sản xuất đình đốn, kinh doanh kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, đờI
sống của ngườI dân giảm sút, giá cả thị trường chính thức và giá cả chợ
đen có khoảng cách khá xa. Sản xuât nông nghiệp bình quân tăng
3,8%/năm, công nghiệp cũng chỉ tăng 5,2%/năm.
Dịch vụ hầu như không phát triển, xuất khẩu thì vớI số lượng nhỏ bé
chỉ đạt khoảng 746 triệu USD năm 1985, thâm hụt cán cân thương mạI lớn
844 triệu USD trong năm 1985, BộI chi ngân hàng nhà nước năm 1980 là
18,1% và năm 1985 là 36,6% GDP. Đây là tình trạng đất nước làm không
đủ ăn, tình hình kinh tế xã hộI vô cùng khó khăn.
1.2. ThờI kỳ bắt đầu đổI mớI:
Trước tình hình kinh tế, xã hộI rốI ren, không lốI thoát. VớI cơ chế kế
hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, điều chỉnh bằng những mệnh lệnh
và qui định càng làm cho nền kinh tế. xã hộI đi vào khủng hoảng. Vì thế, sau
khi ĐạI hộI Đảng lần thứ VI, thì Đảng ta đề ra đường lốI đổI mớI: Phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn đang trong tình trạng khủng hoảng
kinh tế-xã hộI, kinh tế tăng trưởng chậm vớI và không ổn định, bình quân
chống và kiềm chế lạm phát xuống mức 34,7%vào năm 1989. Để đốI phó
vớI tình hình này , nhiều chương trình và chính sách cảI cách đã được tiến
hành vớI các mức độ ảnh hưởng khác nhau tớI việc chống lạm phát. Đặc
biệt là cảI cách trong hệ thống ngân hàng, giữa năm 1988, hệ thống ngân
hàng Việt Nam được hình thành hai cấp, tách biệt giữa việc quản lý và kinh
doanh tiền tệ, chính điều này đã hạn chế đáng kể mức cung ứng tín dụng
nóng cho các doanh nghiệp nhà nước theo kiểu kế hoạch chỉ tiêu rót trước
17
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
và tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước đã được kiểm chế tụt xuống chỉ
còn khoảng gần 155,1%. Đồng thờI, ngân hàng nhà nước cũng điều chỉnh
chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt dần và tăng mạnh lãi suất tiền gửI
tiết kiệm bảo đảm bằng vàng theo nghị định số 59/CT ngày 10/3/1989, và
quyết định số 39/HĐBT ngày 10/4/1989 nhằm thu bớt lượng tiền mặt trong
lưu thông và tiền nhàn rỗI dân cư, góp phần đáng kể vào giảm tốc độ tăng
trưởng của lượng tiền mặt trong lưu thông xuống còn 129,69% năm
1989…Thêm vào đó, ngân hàng nhà nước chủ trương phá giá mạnh đồng
nộI tệ từ tháng 3 năm 1989 và đính chính tỷ giá theo sát tín hiệu thị trường.
Nhờ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt dần mà tỷ lệ lạm phát của
Việt Nam đã giảm xuống chỉ còn khoảng 34,7% năm 1989. Các chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế đều tăng dần. Đồng thời, mở ra một thời kỳ mới cho nền kinh
tế Việt Nam: Thời kỳ ổn định và phát triển.
1.3. Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định (1990-1995)
Bước sang giai đoạn từ 1991-1995, tình hình kinh tế xã hộI nước ta
có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và
toàn diện, nền kinh tế bước đầu vượt qua khủng hoảng để đi vào thế ổn
định. Tổng sản phẩm trong nước thờI kỳ này bình quân tăng 8,2%/ năm,
khu vực các doanh nghiệp nhà nước, cụ thể là đã gia tăng từ mức 65,53%
từ 1991 lên tớI 177,91% năm 1993. Đây được xem là khu vực năng động,
có hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và tỷ suất sinh lờI khá trong cơ chế thị
trường.
1.4. ThờI kỳ kinh tế có dấu hiệu trì trệ: (1996-2000).
Trong giai đoạn này, tình hình kinh tế xã hộI đã đi vào thế ổn định và
phát triển, đây là giai đoạn được xác định là bước rất quan trọng của thờI kỳ
phát triển mớI- đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đạI hoá đất nước (CNHHĐH). Đây là giai đoạn mà có sự kế thừa những thành quả đã đạt được
trong giai đoạn trước, tình hình kinh tế xã hộI tiếp tục có những chuyển biến
tích cực đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (9,3%). Tuy nhiên, khủng
hoảng kinh tế khu vực đã có những tác động lớn đến nền kinh tế nước ta.
Đồng thờI, nền kinh tế nước ta đã phảI đốI mặt vớI những thách thức quyết
19
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
liệt từ những yếu tố không thuận lợI bên ngoài và thiên tai liên tiếp ở trong
nước. Bên cạnh đó, lạI có nhiều yếu kém từ nộI tạI nền kinh tế bộc lộ ra: Thị
trường xuất khẩu bị thu hẹp, sản xuất một số ngành trì trệ…Trước tình hình
đó, Đảng và Chính phủ đã có nhiều giảI pháp tháo gỡ khó khăn, hạn chế sự
giảm sút, duy trì và ốn định tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ
tăng GDP theo các năm có giảm chút ít và năm 2000 tốc độ tăng trưởng
kinh tế có tăng lên, chặn được đà giảm sút của những năm trước đó: Năm
1996 tăng 9, 34%, năm 1999 tăng 4,77%, năm 2000 tăng 6,79%, và GDP
bình quân tăng 7%/năm.
Trong giai đoạn này, điều đặc biệt làm chúng ta quan tâm là đi cùng
vớI tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có chiều hướng chững lạI và đi
xuống thì tỷ lệ lạm phát được kiểm soát, có năm giảm xuống mức thấp đáng
ta đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đưa tỷ lệ
lạm phát lên một mức hợp lý và để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
hơn. VớI mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và ổn định. Trong
những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu khả quan:
Năm 2001, tăng trưởng đạt 6,89%, năm 2003:7,24%, năm 2004: 7,26%,
năm 2005:7,8%. Trong 5 năm qua, nền kinh tế tăng trưởng vớI tốc độ tương
đốI cao, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH, đờI sống
nhân dân được nâng lên rõ rệt.. MọI mặt của đờI sống xã hộI đã được cảI
thiện và phát triển. Tỷ lệ lạm phát trong các năm này cũng tăng dần. Năm
2000 là –0,6%, năm 2002: 4%, 2004: 9,5%.
Ở giai đoạn này, bên cạnh thực hiện các biện pháp kích cầu như thực
thi chính sách nớI lỏng tiền tệ, các công cụ lãi suất, tỷ giá, hạn mức tín
dụng… Được sử dụng hết sức nhạy bén phù hợp vớI diễn biến cung- cầu
hàng hoá và giá cả thị trường. Nhưng đến năm 2004, tình hình biến động
trên thị trường thế giớI cũng như trong nước, lạm phát lạI như một “bóng
ma”, một lần nữa rình rập gây bất ổn nền kinh tế. VớI chỉ số giá 9,5% là một
ranh giớI mỏng manh giữa lạm phát kiểm soát được và lạm phát cao. Vì thế,
nhà nước lạI tíêp tục thực hiện những biện pháp nhằm giữ lạm phát ở mức
kiểm soát được.
21
Lạm phát và các giảI pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Thực tế sau 20 năm điều hành điều hành nền kinh tế và những thực
tiễn sinh động chống lạm phát đã có thể kết luận rằng: Lạm phát là một căn
bệnh tiềm ẩn của mọI nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Lạm phát thường
xuất hiện bởI những nguyên nhân chung, nhưng trong mỗI giai đoạn khi lạm
phát xuất hiện thì lạI mang nhiều hình thức và dáng vẻ khác nhau. Vấn đề
chính là phảI tìm ra những nguyên nhân gây ra lạm phát và chống lạm phát
phảI gánh chịu hậu quả của cơ chế kinh tế cũ để lạI vớI mức lạm phát đạt
kỷ lục: 774,7%. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã sử dụng nhiều
chương trình và chính sách cảI cách đồng bộ để chống và kiềm chế lạm
phát. Kết quả vào năm 1989, tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống mức 34,7%. Đây
là một thành công lớn mà không chỉ nhân dân trong nước ngạc nhiên mà
các nước trên thế giớI cũng rất kinh ngạc.
3. Lạm phát ở Việt Nam hiện nay
3.1.Tình hình lạm phát:
Lạm phát ở nước ta trong giai đoạn hiện nay nhìn chung vẫn đang
trong tầm kiểm soát, nhưng vẫn ở mức cao và biến động liên tục. Theo số
liệu của tổng cục thống kê thì tỷ lệ lạm phát của năm 2005 là 8,4%, tăng
12,9% so vớI mức 6,5% mà quốc hộI đã đề ra. Trong đó, chỉ số giá tiêu
dùng tăng cao nhất của năm là tháng 12 tăng 0,8%. Và tính chung cho 10
tháng đầu năm 2006, chỉ số giá tiêu dùng là 5,4%. Trong đó, chỉ số giá tiêu
dùng của tháng 10 tăng 0,2% thấp hơn so vớI tháng 9 là 0,3% và thấp hơn
nhiều so vớI dự báo.
3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát:
MỗI thờI kỳ của lạm phát ngoài những nguyên nhân chung đã nêu ở
trên thì gắn vớI nó là những đặc điểm kinh tế xã hộI riêng tác động lên lạm
phát. Lạm phát Việt Nam ở giai đoạn này có những nhân tố cơ bản ảnh
hưởng có thể kể đến như sau:
- Giá dầu thô trên thế giớI tăng cao làm cho giá xăng dầu trong nước
và các hàng hoá nhập khẩu tăng như phân bón, dược phẩm…Đồng thờI,
chi phí sản xuất của tất cả các ngành đều tăng do giá đầu vào tăng và đang
chịu sức ép sự tăng giá như điện, thép, than…
23
trên cơ sở bảo đảm 2 yêu cầu cơ bản là tăng trưởng cao, liên tục, vững
chắc và giữ mức lạm phát hợp lý (dướI một con số). BởI vì lạm phát và tăng
trưởng kinh tế là hai biến số có mốI tương quan ngược chiều. Cũng bởI vì
thế, các nước đều nhận ra tầm quan trọng của việc kiềm chế lạm phát. Để
khống chế và ngăn chặn lạm phát không dễ dàng mà đỏI hỏI phảI sử dụng
đồng bộ các giảI pháp khôn ngoan, có thành công hay không phần lớn là
nhờ vào sự thông minh, minh bạch của chính phủ mỗI nước.
1.2. ĐổI mớI và điều hành linh hoạt các công cụ của chính sách tài
chính tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được các mục tiêu đề ra của chính sách tài chính tiền tệ như
ổn định giá trị đốI nộI, đốI ngoạI của đồng tiền. Ngân hàng nhà nước phảI
sử dụng môt hệ thống các công cụ để điều tiết lượng tiền cung ứng đó là:
1.2.1. Công cụ tái cấp vốn
1.2.2 Công cụ hạn mức tín dung
1.2.3 Công cụ dự trữ bắt buộc
1.2.4. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở.
1.2.5. Công cụ lãi suất tín dụng
1.2.6. Công cụ tỷ giá hốI đoái.
Việc sử dụng các công cụ này đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến lượng tiền cung ứng. Và sử dụng các công cụ này như thế nào, mức độ
bao nhiêu thì tuỳ thuộc quan điểm của từng quốc gia và đặc điểm lạm phát
của từng thờI kỳ.
25