Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay lạm phát là vấn đề trung tâm và nhạy cảm
hàng đầu của đời sống kinh tế - xã hội cả ở cấp quốc gia và quốc tế . Đặc
biệt lạm phát là bạn đồng hành của nền kinh tế thị trường cho nên muốn
phát triển nền kinh tế không thể không đi vào việc nghiên cứu vấn đề lạm
phát . Lạm phát là kết quả tổng hoà của các chính sách kinh tế – xã hội vĩ
mô đã có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp , nhanh hoặc chậm ,tích cực hay
tiêu cực đến các khía cạnh hoạt động của chính phủ ,doanh nghiệp và cá
nhân , đến các quan hệ kinh tế đối nội và đối ngoại của quốc gia . Mặt khác
,thực tiễn lạm phát thế giới luôn diễn tiến không ngừng với nhiều đặc tính
mới mẻ chưa được phân tích thấu đáo . Vì vậy nghiên cứu lạm phát luôn
luôn có ý nghiã thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường , hiện tượng lạm phát xảy
ra là điều khó tránh khỏi .Bởi lẽ trong thời kỳ quá độ này cơ chế cũ bị phá
vỡ nhưng chưa xoá bỏ hết được ngay , còn cơ chế mới bắt đầu hình thành
nhưng lại chưa hoàn chỉnh .Vì thế việc tìm kiếm một giải pháp để chống
lạm phát và đi đến kiểm soát lạm phát phù hợp với thực tế Việt Nam đồng
thời thích ứng với giai đoạn quá độ này đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc , lựa
chọn một cách kỹ càng .
Với momg muốn tìm hiểu thêm về vấn đề lạm phát cũng như những
biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát , em đã lựa chọn : “Lạm phát và
những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế nước ta hiện
nay“ để làm đề tài cho đề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ .
Trong quá trình nghiên cứu , do tiếp cận với nhiều nguồn tài liêụ
khác nhau , nên không tránh khỏi những hạn chế độ về độ chính xác . Em
rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Trang :1
dùng CPI .
Trang :2
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thị trường ,
các nhóm chính đó là hàng lương thực , thực phẩm , quần áo , nhà cửa ,
chất đốt , vật tư y tế .
Để tính CPI , người ta phải dựa vào tỷ trọng của phần chi cho từng mặt
hàng trong tổng chi tiêu cho tiêu dùng của thời kỳ có lạm phát.
Chỉ số giá tiêu dùng được tính như sau :
Những thay đổi của giá cả được tính với các mặt hàng khác .
Trong đó : CPIt : giá trị của CPI trong năm t.
Pt gạo: giá gạo trong năm t.
Po gạo: giá gạo trong năm gốc.
- Chỉ số thứ hai cũng thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất,
đây là chỉ số giá bán buôn PPI . PPI được xây dựng để tính giá cả trong lần
bán đầu tiên do người sản xuất ấn định . Chỉ số này rất có ích vì nó được
tính chi tiết sát với những thay đổi của thực tế .
- Ngoài hai chỉ số nói trên , chỉ số giảm phát GNP cũng được sử dụng
. Chỉ số giảm phát GNP là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP , nó được xác
định như sau :
Chỉ số giảm phát GNP =GDP danh nghĩa / GDP thực tế
Chí số này toàn diện hơn CPI vì nó bao hàm giá của tất cả các loại hàng
hoá và dịch vụ trong GNP.
1.1.2. Các quan điểm giải thích về lạm phát.
- Quan điểm “trữ kim” :
Quan điểm này cho rằng sẽ xảy ra hiện tượng lạm phát nếu số lượng
tiền giấy phát hành ra lớn hơn lượng vàng đảm bảo trong kho . Tuy nhiên
sản xuất thì càng thua lỗ , họ chọn giải pháp lỗ thấp nhất là đóng cửa các
nhà máy , xí nghiệp , dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng cao. Trong trường
hợp này theo ông cần phải tăng mức cung tiền tệ để làm cho lãi suất hạ
xuống . Lãi suất hạ xuống sẽ làm cho nguồn vốn đầu tư tăng lên , lúc này
Trang :4
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
các nhà máy , xí nghiệp sẽ mở cửa hoạt động trở lại dẫn đến công ăn việc
làm tăng lên , sản lượng hàng hoá sản xuất ra do đó cũng tăng lên cân bằng
với mức cung tiền tệ . Ông quan niệm trước khi có toàn dụng nhân công và
năng lực sản xuất trong toàn xã hội thì mọi khoản tài trợ làm tăng cầu xã
hội đó không những cần thiết mà còn chưa gây ra lạm phát hay chỉ tạo ra
loại lạm phát lành mạnh .
Nền kinh tế toàn dụng : trong nền kinh tế toàn dụng các nhà máy , xí
nghiệp sẽ hoạt động hết công suất vì họ thấy rằng càng mở rộng sản xuất
càng lãi khi đó chắc chắn sẽ dẫn đến một số kênh tắc nghẽn trong lưu thông
như thiếu năng lượng , thiếu nguyên liệu , thiếu lao động…
Trong trường hợp này cung tiền tệ tiếp tục tăng cho đến khi sản
lượng không thể tăng được nữa khi đó buộc giá cả phải tăng thêm và xảy
ra lạm phát . Theo Keynes lạm phát tuyệt đối trong giai đoạn toàn dụng vẫn
có ích , vì nó làm hưng thịnh nền kinh tế, cứu vãn suy thoái , thất nghiệp .
1.2. Phân loại lạm phát.
1.2.1.Căn cứ vào tốc độ lạm phát người ta chia lạm phát làm ba loại.
- Lạm phát vừa phải : loại lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm và
tỉ lệ lạm phát dưới 10% một năm . Đây là mức lạm phát mà nền kinh
tế chấp nhận được , với mức lạm phát này , những tác động kém hiệu
quả của nó là không đáng kể. Loại lạm phát này phổ biếnvà tồn tại
Lạm phát không cân bằng và không thể dự đoán trước là loại lạm
phát mà giá cả các hàng hoá , dịch vụ tăng không đều nhau và nhà nước
không dự báo cũng như không chủ động đIũu tiết được . Đây là hiện tượng
phổ biến nhất ở các nước đang phát triển . Lạm phát này thường gây ra
những cú sốc cho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính
quyền đương đại .
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát .
Trang :6
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
Lạm phát là kết quả tổng hoà của nhiều nguyên nhân kinh tế xã hội ;
mỗi loại lạm phát đặc trưng cho những nhóm nguyên nhân đặc trưng của
mình và bản thân những nguyên nhân đó cũng không giống nhau. Tuy
nhiên dù đa dạng và khác nhau đến đâu , đều có thể quy tụ về những
nguyên nhân chủ yếu sau :
1.3.1. Lạm phát do tăng cung ứng tiền tệ.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ , khi cung tiền
tệ tăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài và gây ra lạm phát .
p
as
3
as
y y
n
1
Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ
Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1 ,với sản lượng đạt ở mức sản lượng tự
nhiên Yn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên , mức giá cả P1 - điểm giao nhau của
đường tổng cung AS1 và đường tổng cầu AD1 . Khi cung tiền tệ tăng lên thì
đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2 . Trong một thời gian rất
ngắn , nền kinh tế sẽ chuyển động đến điểm 1’ và sản phẩm tăng lên trên
mức tỷ lệ tự nhiên , tức là đạt tới Y1 ( Y1>Yn ) .Điều đó dã làm giảm tỷ lệ
thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên , tiền lương tăng lên
Trang :7
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
và làm giảm tổng cung - đường tổng cung dịch chuyển vào đến AS2 . Tại
đây nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm trên đường
tổng cung dài hạn . Ở điểm cân bằng mới ( điểm 2 ) , mức giá cả tăng từ P 1
đến P2 .
Cung tiền tệ tiếp tục tăng lên , đường tổng cầu lại dịch chuyển ra,
đến AD3 và đường tổng cung lại tiếp tục dịch chuyển vào đến AS 3 , nền
kinh tế đạt tới mức cân bằng mới tại điểm 3 . Tại đây , mức giá cả đã tăng
lên đến P3 . Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục tăng thì sự dịch chuyển của đường
tổng cầu và đường tổng cung như trên lại tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt
tới mức giá cả ngày càng cao hơn , lạm phát tăng cao.
1.3.2. Chỉ tiêu công ăn việc làm cao.
p1'
p1
ad3
1
ad2
ad1
y
y'
yn
( Tæng s¶n phÈm )
L¹m ph¸t phÝ ®Èy
.
Lúc đầu , nền kinh tế ở tại điểm 1, là giao điểm của đường tổng cầu
AD1 và đường tổng cung AS1 , với mức sản lượng tự nhiên ( sản lượng
tiềm năng ) và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên . Do mong muốn có một mức sống
cao hơn hoặc do cho rằng tỷ lệ lạm phát dự tính trong nền kinh tế sẽ tăng
cao , những người công nhân đấu tranh đòi tăng lương. Vì tỷ lệ thất nghiệp
đang ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên những đòi hỏi tăng lương của
công nhân dễ được giới chủ chấp nhận. ảnh hưởng của việc tăng lương (
cũng giống như ảnh hưởng của những cú sốc cung tiêu cực ) làm đường
tổng cung AS1 dịch chuyển vào đến AS2 .
Nền kinh tế sẽ chuyển từ điểm 1 đến điểm 1’ – giao điểm của đường tổng
Để đạt được mục tiêu này , các nhà hoạch định chính sách sẽ phải
đưa ra những biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sản lượng lớn hơn mức sản
lượng tiềm năng, mức chỉ tiêu sản lượng cần đạt được đó là Yt (Yt > Yn) .
Các biện pháp mà họ đưa ra sẽ tác động lên tổng cầu và làm tăng tổng cầu ,
đường tổng cầu sẽ dịch chuyển ra đến AD2, nền kinh tế chuyển đến điểm
1’ ( giao điểm giữa đường tổng cầu mới AD2 và đường tổng cung ban đầu
AS1) . Sản lượng bây giờ đã đạt được tới mức Yt lớn hơn sản lượng tiềm
năng và mục tiêu tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiênđă đạt
được .
Trang :10
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
( Tæng s¶n phÈm )
p
as3
as 2
as 1
p3
p2
p1
ad3
ad2
ad1
nước ta hiện nay
phí đẩy như đã phân tích trên đây . Việc tăng giá cả của nguyên liệu và
hàng hoá nhập khẩu thường gây ra phản ứng dây chuyền , làm tăng giá cả ở
rất nhiều các hàng hoá khác , đặc biệt là hàng hoá của các ngành có sử
dụng nguyên liệu nhập khẩu và những nghành có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau ( nguyên liệu của ngành nayg là sản phẩm của ngành khác …) .
1.3.4. Lạm phát do thâm hụt ngân sách .
Thâm hụt ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng
cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao .
Chính phủ có thể khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước
bằng biện pháp phát hành tráI phiếu Chính phủ ra thị trường tàI chính để
vay vốn trong dân chúng , bù đắp cho phần bị thiếu hụt . Biện pháp này
không làm ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ và do đó , không tăng cung ứng tiền
tệ và không gây ra lạm phát . Một biện pháp khác Chính phủ có thể sử dụng
để bù đắp cho thâm hụt ngân sách nhà nước là phát hành tiền . Biện pháp
này trực tiếp làm tăng thêm cơ số tiền tệ , do đó tăng cung ứng tiền , đẩy
tổng cầu lên cao và làm tăng tỷ lệ lạm phát . Tuy nhiên , ở các nước đang
phát triển , do thị trường vốn bị hạn chế nên việc phát hành trái phiếu
Chính phủ nhằm bù đắp cho thiếu hụt ngân sách nhà nước là rất khó thực
hiện . Đối với các Quốc gia này , con đường duy nhất đối với họ là “ sử
dụng máy in tiền “ . Vì thế , khi tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước của các
quốc gia đó tăng cao thì tiền tệ cũng sẽ tăng nhanh và lạm phát tăng . ở các
nước kinh tế phát triển ( như ở Mỹ ) , thị trường vốn phát triển , vì vậy một
khối lượng lớn trái phiếu chính phủ có thể được bán ra và nhu cầu trang trải
cho thâm hụt ngân sách nhà nước được thực hiện từ nguồn vốn vay của
chính phủ . Tuy nhiên , nếu Chính phủ cứ liên tục phát hành trái phiếu ra
thị trường , cầu về vốn vay sẽ tăng, do đó , lãi suất sẽ tăng cao . Để hạn chế
việc tăng lãi suất thị trường , ngân hàng trung ương sẽ phải mua vào các
trái phiếu đó , điều này lại làm cho cung tiền tệ tăng.
1.4.1. Lạm phát và lãi suất
Trang :13
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
Từ thực tế diễn biến lạm phát của các nước trên thế giới, các nhà
kinh tế cho rằng : lạm phát cao và triền miên có ảnh hưởng xấu đến mọi
mặt của đời sống kinh tế , chính trị và xã hội của mọi quốc gia.
Tác động đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất.
Để duy trì và ổn định sự hoạt động của mình, hệ thống ngân hàng
phải luôn luôn cố gắng duy trì tính hiệu quả của cả tài sản nợ và tài sản có
của mình , tức là phải luôn luôn giữ cho lãi suất thực ổn định . Ta biết rằng
lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát . Do đó, khi tỷ lệ lạm
phát tăng cao , nếu muốn cho lãi suất thực ổn định , lãi suất danh nghĩa
phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát . Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn
đến hậu quả mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất
nghiệp gia tăng.
1.4.2. Lạm phát và thu nhập thực tế.
Trong trường hợp thu nhập danh nghĩa không đổi , lạm phát xảy ra
sẽ làm giảm thu nhập thực tế của người lao động . Với 600.000 đồng tiền
lương một tháng hiện nay , một công nhân sẽ mua được 2 tạ gạo ( với giá
gạo 3000 đ/1kg ) . Vào năm sau , nếu tiền lương của công nhân này không
đổi , nhưng tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế vào năm sau tăng thêm 50% so
với năm trước , tức là giá gạo đã tăng lên 4500đ/1kg , thì với số tiền lương
nhận được trong một tháng , người công nhân này chỉ có thể mua được
133,3 kg gạo .
Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực của những tài sản không
có lãi ( tức tiền mặt ) mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có
trong khi đó , những kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hoá và trở nên càng
giàu có hơn . Tình trạng lạm phát như vậy sẽ có thể gây ra những rối loạn
trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập , về mức sống giữa
người giàu và người nghèo.
1.4.4. Lạm phát và nợ quốc gia.
Trang :15
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
Lạm phát cao làm cho chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào
người dân , nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn .
Chính phủ được lợi trong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài . Lý do
là vì : lạm phát đã làm tỷ giá tăng cao và đồng tiền trong nước trở nên mất
giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tính trên các khoản nợ.
Như vậy là căn bệnh mãn tính của nền kinh tế thị trường , lạm phát
có cả tác hại lẫn ích lợi . Nếu một nước nào đó có thể duy trì , kiềm chế ,
điều tiết được mức lạm phát vừa phải phù hợp và có lợi cho thúc đẩy , tăng
trưởng kinh tế của mình, thì ở đó lạm phát không còn là căn bệnh nguy
hiểm đối với nền kinh tế nữa . Khi đó , lạm phát trở thành công cụ điều tiết
kinh tế khá đắc lực . Ngược lại lạm phát phi mã hay siêu lạm phát không
thể dự đoán và điều tiết được đã gây tác hại rã rệt cho nền kinh tế và trở
thành căn bệnh hiểm nghèo cần điều trị tích cực và đúng cách.
Trang :16
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
Đây là thời kỳ mà lần đầu tiên lạm phát được chính thức thừa nhận
bằng Nghị quyết số 11 của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
về đấu tranh với lạm phát . Ngay sau khi nghị quyết ra đời , những chương
trình chống lạm phát được soạn thảo ở nhiều cơ quan thuộc các cấp , các
nghành khác nhau ; vài chục dự án chống lạm phát ra đời , bổ sung , thậm
chí cả mâu thuẫn nhau về quan đIúm đánh giá tình hình và đề xuất các giải
pháp thực tế . Các biện pháp chống lạm phát được gắn với quá trình đổi
mới , thực hiện các cải cách thị trường ở Việt Nam . Song chúng mới ở
dạng thử nghiệm , chưa đồng bộ , ngập ngừng , lúc tiến , lúc lùi , với những
đợt “ sốc “ nhỏ , đã thu được thành công đáng kể năm 1989 , sau đó bị
chững lại do tình hình trong nước và quốc tế có biến động mạnh . Việt Nam
bước vào thời điểm thử thách khó khăn nhất của đất nước kể từ năm 1975.
2.1.4.Thời kỳ thứ tư từ cuối năm 1991 đến nay.
Đây là thời kỳ mà chống lạm phát được đưa lên vị trí hàng đầu và
gắn quyện hữu cơ với chính sách đổi mới toàn diện đất nước . Kết quả thu
được là khả quan và khá vững chắc , từ đó đã rút ra được nhiều bài học quý
cho việc định hướng chính sách chống lạm phát và những cải cách thị
trường trong tương lai .Đây cũng là thời kỳ tiêu biểu và chứa đựng khá đầy
đủ đặc điểm cuộc đấu tranh chống lạm phát ở Việt Nam . Vì vậy ,nó đáng
được ưu tiên tập trung nghiên cứu nhất trong cả bốn thời kỳ đã nêu trên.
Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên thị trường xã
hội trong thời kỳ 1976 - 2002
Năm
Tốc độ cả năm
Năm
1978
120,9
1987
223,1
1996
104,5
Trang :18
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
1979
119,4
1988
393,8
1997
103,6
167,5
2000
99,4
1983
149,5
1992
117,5
2001
100,8
1984
164,9
1993
105,2
2002
103,5
hàng hơn so với các năm trước . Chỉ số giá cả năm chỉ còn 99,4% ,giảm
0,6% so năm 1999
Năm 2001 không còn hiện tựơng giảm phát nữa , chỉ số giá cả năm
so với năm 2000 đã tăng 1,4% .Tuy mức độ tăng giá chưa cao nhưng đã
phần nào góp phần cải thiện tình hình kinh tế nước ta .
Sang năm 2002 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng suy thoái về giá cả để
cùng nhịp với đà tăng trưởng đang chuyển động đi lên .
2.2. Đặc điểm của lạm phát ở Việt Nam qua các thời kỳ.
Lạm phát ở Việt Nam có những đặc điểm tương đồng với lạm phát ở
các nước phương Tây những năm 70 ; chẳng hạn như mức độ tăng giá
chung vượt đáng kể mức tăng tổng sản phẩm xã hội làm mất giá tiền tệ ,
giảm sút tiền lương thực tế gây thiệt hại cho các khoản tiền gửi tiết kiệm và
cho vay , phát hành tiền ( nhất là trước năm 1992 ) gia tăng vượt mức tăng
trưởng kinh tế và có sự khan hiếm bởi mất cân đối cung – cầu …
Tuy nhiên lạm phát ở Việt Nam cũng có những điểm khác biệt với
lạm phát ở các nước phương Tây ở chỗ : lạm phát ở các nước phương Tây
là lạm phát trong nền kinh tế thị trường dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất , nhà nước có vai trò điều chỉnh nền kinh tế , song không phải
bằng các biện pháp hành chính mệnh lệnh , nền kinh tế thị trường ở các
nước này hoạt động khá hiệu quả mặc dù không phải với mức độ như nhau
giữa các nước ; ở các nước này thường xuyên xuất hiện sự mất cân đối
Trang :20
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
trong nền kinh tế , nhưng chúng không mang tính nghiêm trọng và được
hiệu chỉnh lại chủ yếu bởi thị trường và cả bởi ảnh hưởng của nhà nước.
Còn ở Việt Nam , lạm phát chuyển từ dạng “ẩn” sang dạng “mở” với
nước ta hiện nay
triển của năm đó, khoảng 150 USD / người. Còn mức nhập khẩu trung bình
là 43,2 rúp / đôla / người tức là cao hơn mức xuất khẩu tới 2,6 lần. Chính
sách phong toả, cấm vận kinh tế của Mỹ trong quan hệ đối với Việt Nam,
những xung đột biên giới bằng quân sự và sự xấu đi quan hệ Việt Nam Trung Quốc, Việt Nam - Campuchia đã gây ra phương hại toàn diện cả
kinh tế lẫn chính trị cho Việt Nam. Luồng viện trợ từ bên ngoài thường chủ
yếu một chiều từ các nước xã hội chủ nghĩa, không có ODA từ phía các
nước phi xã hội chủ nghiã. Đầu tư lại chủ yếu tập chung cho thực hiện các
dự án công nghiệp lớn, dài hạn, chậm hoàn vốn và đòi hỏi những chi phí
đối ứng to lớn về vật chất và nhân lực trong nước. Người ta tính toàn rằng,
để hấp thụ được 3 rúp viện trợ nước ngoài dưới dạng thiết bị tổng hợp Việt
Nam cần chi 1 - 2 rúp đối ứng từ nguồn tiền trong nước để xây dựng và trả
công cho người lao động. Vì thế, mặc dù đã có những tác động tích cực cho
phát triển kinh tế Việt Nam, song viện trợ nước ngoài cũng trở thành một
nhân tố làm tăng tình trạng thiếu hụt ngân sách và tăng gánh nặng nợ nần
Nhà nước kinh niên ở Việt Nam.
Thiếu hụt ngân sách còn bị làm sâu sắc thêm bởi những chi phí không
nhỏ để khắc phục hậu quả của những cuộc chiến tranh kéo dài ( bao gồm cả
việc nuôi dưỡng quân đội khá đông đảo, trợ cấp hưu trí, trợ cấp nạn nhân
chiến tranh ) và của những trận thiên tai thường xuyên hàng năm. Ngoài ra,
do chính sách định hướng phát triển và đầu tư có nhiều bất cập, nên cơ cấu
kinh tế Việt Nam còn bị mất cân đối và không hợp lý nghiệm trọng giữa
công nghiệp - nông nghiệp, giữa công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, nhất
là ngành sản xuất hàng tiêu dùng, giữa sản xuất - dịch vụ. Chúng làm ra
tăng xu hướng khan hiếm và giảm sút chất lượng hàng hoá - dịch vụ trong
khi đầu tư từ những nguồn vốn lạm phát có xu hướng tăng nhanh liên tục.
Tất cả những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam được nêu ra trên đây
cũng chính là cuội nguồn và nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp, ở mức độ
này hay khác, gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ, tăng chi phí
Trang :22
do nhiều khúc mắc khác về cơ chế chưa được giải toả, nên nền kinh tế đất
nước vẫn rất khó khăn . Chưa bao giờ tình trạng đầu cơ lại nở rộ và gặt hái
Trang :23
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế
nước ta hiện nay
được nhiều lợi nhuận như thời kỳ này ở nước ta. Cuối cùng, Nhà nước Việt
Nam, với quỹ hàng hoá trống rỗng, với ngân sách thâm hụt hơn do các đợt
điều chỉnh và trợ cấp mang đậm tính chỉ thị, mệnh lệnh gây ra, với hy vọng
mơ hồ có thể giảm khối lượng tiền to lớn trong lưu thông ( nhưng ngoài
vòng tay kiểm soát của mình ) đang gây ra áp lực tăng lượng cầu, cũng như
với tính toán đơn giản rằng Nhà nước sẽ tăng thu ngân sách nếu tăng giá
hàng hoá và do ảo tưởng về quyền lực tuyệt đối của Chính phủ với đồng
tiền, nên đã tăng giá hàng bán ra trên thị trường khu vực Nhà nước lên 10
lần và tiến hành đổi tiền vào cuối năm 1985 đầu năm 1986. Sự đổ vỡ lòng
tin vào đồng tiền bùng nổ, lạm phát bùng lên trở thành siêu lạm phát tới 3
chữ số kéo dài đến năm 1988 và hẳn sẽ còn kéo dài nữa nếu nhà nước
không thay đổi quan điểm và cách thức điều chỉnh của mình với nền kinh tế
và tiền tệ. .(( Cơ cấu kinh tế chủ yếu có tính hướng nội, khép kín, thay thế
hàng nhập khẩu và không khuyến khích xuất khẩu. Năm 1988, kim ngạch
xuất khẩu chỉ đạt mức 16,2 rúp / đôla trên đầu người, tức là thấp hơn nhiều
so với mức trung bình của các nước đang phát triển của năm đó, khoảng
150 USD / người. Còn mức nhập khẩu trung bình là 43,2 rúp / đôla / người
tức là cao hơn mức xuất khẩu tới 2,6 lần. Chính sách phong toả, cấm vận
kinh tế của Mỹ trong quan hệ đối với Việt Nam, những xung đột biên giới
bằng quân sự và sự xấu đi quan hệ Việt Nan - Trung Quốc, Việt Nam Campuchia đã gây ra phương hại toàn diện cả kinh tế lẫn chính trị cho Việt
Nam. Luồng viện trợ từ bên ngoài thường chủ yếu một chiều từ các nước
xã hội chủ nghĩa, không có ODA từ phía các nước phi xã hội chủ nghiã.
Đầu tư lại chủ yếu tập chung cho thực hiện các dự án công nghiệp lớn, dài
Thứ nhất, chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản miền Nam và
phong trào hợp tác hoá nông nghiệp mang tính hình thức thời kỳ 1976 1980 đã gây tác động tiêu cực đến năng lực sản xuất hàng tiêu dùng của
Việt Nam và đưa nền kinh tế Việt Nam lâm vào trạng thái trì trệ : sản xuất
công nghiệp tăng bình quân 0,6 / năm, nông nghiệp 1,9 / năm, GDP
0,4 / năm trong khi dân số tăng 1 triệu người / năm, làm căng thẳng quan
hệ cung - cầu trên tị trường xã hội.
Trang :25