Một Số Biện Pháp Sử Dụng Tư Liệu Dạy Học Trong Giờ Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học - Pdf 41

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU DẠY HỌC
TRONG GIỜ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC.
Phần I- ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.Lí do chọn đề tài:
Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI chỉ đạo về
việc “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đã nêu rõ: “Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ
quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, cơ chế,
chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục- đào tạo và việc
tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả
các bậc học, ngành học”.
Thực hiện theo định hướng chỉ đạo của nghị quyết, những năm gần đây,việc đổi
mới phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng đã và đang được thực hiện một
cách đồng bộ ở các cấp học, các môn học. Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy học
phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học góp phần bồi dưỡng phương
pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh.
Nằm trong hệ thống các môn văn hoá cơ bản của cấp học Trung học phổ thông,
bộ môn Ngữ văn cũng đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương
pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm nhằm từng bước nâng cao chất lượng
giáo dục, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Dạy văn là quá trình hướng
dẫn học sinh khám phá, rung động với vẻ đẹp nội dung và hình thức của tác phẩm.
Từ đó, trang bị năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và
bồi dưỡng tình người, lẽ sống cho học sinh.
1


Để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả ở tất cả các môn học nói chung
và môn Ngữ văn nói riêng, học sinh và giáo viên không thể chỉ bằng lòng với

học”.
Tư liệu dạy học có thể thực hiện được ở các tiết Đọc văn, tiết Tiếng Việt và
Tập làm văn trong chương trình toàn cấp : lớp 10,11,12. Tuy nhiên, ở đề tài này,
chúng tôi chỉ nghiên cứu ở phạm vi hẹp đó là trong giờ đọc – hiểu văn bản văn học.
2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
2.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học giờ đọc – hiểu văn bản, bộ môn Ngữ văn trong trường Trung
học phổ thông.
2.2. Đối tượng nghiên cứu :
Học sinh trường Phổ thông Dân tộc Nội Trú Tỉnh Phú Thọ.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, sách báo....
- Phương pháp điều tra: Ra câu hỏi trắc nghiệm.
- Phương pháp quan sát: giao nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá.
Để thực hiện đề tài này, tôi đã thu thập thông tin, đúc kết kinh nghiệm từ thực tế
giảng dạy Ngữ văn của bản thân trên nhiều đối tượng học sinh trong các năm học
trước và thực nghiệm đối chứng trong năm học 2015 - 2016.

3


Phần II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm về tư liệu và tư liệu dạy học:
- Tư liệu là những thứ vật chất để con người sử dụng trong một lĩnh vực
hoạt động nhất định nào đó ( Ví dụ: Tư liệu dạy học, tư liệu lao động, tư liệu sản
xuất…)
- Tư liệu dạy học là tài liệu sử dụng cho việc nghiên cứu, dạy học của giáo viên
và việc học tập của học sinh.
1.2.

+ Phù hợp với nội dung bài dạy: Bảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học.
+ Mang tính chất minh họa, khắc sâu kiến thức bài dạy: Sử dụng với mức độ
thích hợp, vừa phải, tránh lạm dụng.
+ Có những câu hỏi hướng dẫn học sinh phát hiện và khai thác tư liệu một
cách hợp lý, trong một số trường hợp có thể biến tư liệu thành ngữ liệu.
+ Chú ý đến thời điểm ra đời, nguồn gốc, xuất xứ và tính chuẩn xác của tư liệu.
+ Tư liệu không quá khó hoặc quá xa lạ với đối tượng học sinh.
- Tư liệu dạy học phải có tính thẩm mỹ :
+ Tư liệu dạy học dùng để biểu diễn trước học sinh, phải được nhìn rõ ở khoảng
cách vừa phải . Màu sắc phải sáng sủa, hài hòa và giống với màu sắc của vật thật
(nếu là hình ảnh, tranh vẽ). Phải bảo đảm tỉ lệ cân xứng, hài hòa về đường nét và
hình khối giống như các công trình nghệ thuật.
+ Phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh; phải làm cho thầy trò
thích thú khi sử dụng, làm cho học sinh nâng cao và cảm thụ được “chân, thiện,
mỹ”.
- Tư liệu dạy học phải có tính sáng tạo: Thể hiện ở sự lựa chọn tư liệu phù hợp; sử
dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ; phải làm tăng hiệu quả của quá trình
nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh thu nhận được kiến thức về đối tượng
thực tiễn khách quan. Nói chung tính sáng tạo là sự hợp thành của các tính chất đã
nêu trên.

5


1.5. Một số công việc chuẩn bị trước khi sử dụng tư liệu dạy học:
1.5.1. Chuẩn bị của giáo viên: Lập sổ kế hoạch sử dụng tư liệu dạy học .
Để sử dụng tư liệu dạy học có hiệu quả và có tư liệu để sử dụng thì ngay từ đầu
năm học người giáo viên phải xây dựng kế hoạch sử dụng tư liệu dạy học cho từng
khối lớp mà mình có tham gia giảng dạy.


Thông

điệp

ngôn.
nhân Các số liệu, hình ảnh về

ngày thế giới phòng HIV/AIDS.
chống AIDS (Cophi - Một số tri thức về căn bệnh
an-nan)

AIDS:

nguyên

nhân,

con

đường lây truyền, một số biểu
hiện của bệnh, phương pháp
8

22, 23

Việt Bắc (Tố Hữu)

điều trị hiện nay...
- Chân dung tác giả Tố Hữu.


13

38, 39

nhà thơ.
Đàn ghi ta của Lor-ca - Chân dung tác giả Thanh
(Thanh Thảo)

Thảo.
- Tranh ảnh : đàn ghi ta, khối
vuông rubich...

14

40, 41

- Ảnh Garxia Lorca.
Người lái đò sông Đà - Chân dung tác giả Nguyễn
(Nguyễn Tuân)

Tuân.
- Tranh ảnh về Sồng Đà; 1 số
kiến thức địa lí liên quan đến
sông Đà.
- Hình ảnh các nhà máy thủy

15

43, 44

- Bản đồ thành phố Huế.
Vợ chồng A Phủ (Tô - Chân dung tác giả .
Hoài)

- Phong cảnh Tây Bắc.
- Phim Vợ chồng A Phủ.

22

61, 62, Vợ nhặt (Kim Lân)

23

63
64, 65

Rừng



(Nguyễn

- Tục bắt vợ của người Hmông
- Chân dung tác giả .

- Cảnh nạn đói năm 1945.
Nu - Chân dung tác giả .
Trung - Tranh ảnh về rừng Xà nu.

Thành)

Hượu, giáo viên cũng có thể gợi ý để các em sưu tầm những hình ảnh tiêu biểu cho
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam như : Lễ hội (chọi gà, đâm trâu, đua thuyền, Hội
Lim, Hội Gióng..) ; trang phục (áo dài, áo tứ thân...) ; phong tục (cúng tất niên, đón
giao thừa, chúc Tết ...)... Những hình ảnh đó không chỉ minh họa trực tiếp cho nội
dung bài dạy mà còn tạo nên sự sinh động, phong phú của tiết học, để lại những ấn
tượng rõ nét về văn hóa dân tộc trong nhận thức của học sinh.
2. Thực trạng của phương pháp sử dụng tư liệu dạy học trong giờ đọc – hiểu
văn bản văn học:
2.1. Thuận lợi :
- Hiện nay, hệ thống mạng internet ngày càng phát triển, cho nên giáo viên và học
sinh có thể khai thác, lựa chọn, xử lý và tự tạo các tư liệu, phương tiện theo mục
tiêu bài học một cách thuận tiện.
- Sống trong một môi trường xã hội mới, học sinh ngày nay có cơ hội tiếp xúc với
lối sống hiện đại, nên các em rất năng động, sáng tạo, tự tin ham hiểu biết, ưa khám
phá, thích tìm tòi.
- Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, có rất nhiều bài học có thể sử
dụng tư liệu dạy học.
9


- Song song với việc đổi mới phương pháp là trang thiết bị dạy học được cải thiện
với kỹ thuật hiện đại. Nguồn thông tin để thu thập tài liệu để làm tư liệu khá phong
phú, đảm bảo điều kiện tối thiểu cho việc sưu tầm và tự tạo các loại tư liệu dạy học.
2.2. Khó khăn :
- Tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái
hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng. Đa phần học
sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học. Người học chưa có
hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể,
cho nên khi phải nói và viết, học sinh cảm thấy khá khó khăn. Học sinh phải học
một lúc nhiều môn, môn nào cũng quan trọng.

thông Dân tộc Nội Trú tỉnh. Mục đích của việc điều tra là:
- Tìm hiểu việc sử dụng tư liệu dạy học của giáo viên ở giờ đọc - hiểu văn bản
văn học đem lại hiệu quả cho giờ dạy như thế nào.
- Tìm hiểu mong muốn, nguyện vọng của học sinh về cách dạy và học hiện nay.
Kết quả điều tra thu được như sau:
2.3.1. Về phía giáo viên:
Thực tế điều tra về các giờ dạy đọc hiểu văn bản hiện nay cho thấy : hầu hết
các giáo viên đều nhận thấy rằng việc sử dụng tư liệu dạy học trong giờ đọc- hiểu văn
bản văn học dạy học là rất cần thiết vì giúp cho giáo viên có thể phát huy hết năng
lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, đồng thời lại vừa làm cho hoạt
động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, làm cho người học
dễ dàng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và sẽ đem lại sự hứng thú trong học tập cho
học sinh. Từ đó chất lượng, hiệu quả dạy học được nầng cao hơn. Nhưng hiện nay,
trong nhiều giờ đọc – hiểu văn bản văn học, giáo viện vẫn còn dè dặt, chưa sử dụng
triệt để tư liệu dạy học vì những khó khăn như chúng tôi đã nêu trên ( mục 2.2 ).
2.3.2. Về phía học sinh:
Chúng tôi tiến hành thăm lớp dự giờ giáo viên ở một số giờ đọc- hiểu có sử dụng
tư liệu dạy học, sau đó tiến hành điều tra học sinh bằng phiếu hỏi và kết quả thu được
như sau:
11


Nội dung

Câu 1:

Phương án trả lời

Theo em


h/s

- Đáp án A =

khác so với giờ

- 0/ 139 h/s chọn 20,9 %

giảng hàng ngày ?

đáp án C.

- Đáp án C =
0%
- Đáp án A =

Câu 2:

Em thấy

A.Giáo viên sử

-

101/139

h/s

điều lý thú nhất


27,3%

C. Cách giảng của
giáo viên.
Câu 3: Các tư liệu

A. Có kiến thức

-

100/139

h/s

dạy học mà cô thực

phong phú, sinh

chọn A.

72 %

hiện trong giờ học

động hơn. Từ đó ,

- 10/139 chọn B

- Đáp án B =



văn bản..
A.Rất thích

-

B. Bình thường.

chọn A.

139/139

h/s

- Đáp án A =
100 %
12


giờ đọc – hiểu văn

C. Không thích.

- 0/139 chọn B

- Đáp án B, C

bản văn học, em có

- 0/ 139 h/s chọn


chọn A.

84,9 %

văn học, em có

C. Bình thường.

- 6/139 chọn B

- Đáp án B =

thích được thầy cô

- 15/ 139 h/s

4,3 %

giao nhiệm vụ sưu

chọn đáp án C.

- Đáp án C =

118/139

h/s

tầm và khai thác tư


- 0/ 139 h/s chọn

13%

các giờ học bình

đáp án C.

- Đáp án C =

121/139

h/s

- Đáp án A =

thường hàng ngày?
0%
Căn cứ vào kết quả bảng điều tra trên, chúng tôi nhận thấy rằng: hầu hết các em
học sinh đều thấy thích thú, hứng khởi khi giáo viên sử dụng tư liệu dạy học trong
giờ đọc – hiểu văn bản; đa phần các em cũng sẵn sàng hợp tác với giáo viên để đón
nhận nhiệm vụ sưu tầm, tìm hiểu thêm tư liệu mà giáo viên giao cho.
Tóm lại, để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Văn, đặc biệt là giờ đọc- hiểu
văn bản văn học, giáo viên và học sinh cần phải chú trọng nhiều hơn nữa đến việc
sử dụng tư liệu trong các giờ học, tạo không khí sôi nổi, sinh động, hấp dẫn gây
13


hứng thú tham gia của học sinh; lại vừa rèn đựơc tính chủ động, sáng tạo, khả năng


phòng chống AIDS, ngày 1/ 12 / 2003” của Cô-Phi An-Nan. Trong quá trình
hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm hiểu về
HIV/AIDS và sưu tầm hình ảnh, tư liệu về căn bệnh này. Với cách làm này, học
sinh sẽ có những kiến thức ban đầu về căn bệnh thế kỉ, giáo viên có một bộ sưu tập
tài liệu phục vụ cho bài dạy hiệu quả hơn. Trong quá trình đọc hiểu chúng ta cung
cấp cho học sinh số liệu và cho học sinh xem hình ảnh về vi rút HIV cũng như hình
ảnh người mang bệnh AIDS. Rất rõ rằng, sau khi tìm hiểu bài đọc - hiểu có tư liệu,
học sinh cảm nhận sâu sắc, ý thức đầy đủ về căn bệnh nguy hiểm này cũng như
thấy rõ trách nhiệm của bản thân về phòng chống HIV/AIDS. Như vậy, bài học đã
đến với các em một cách hiệu quả. Như vậy, việc sử dụng tranh ảnh phù hợp sẽ phát huy
được những hiệu quả cụ thể, thiết thực của nó.
3.2. Phương pháp tạo tình huống văn học:
3.2.1. Sử dụng tư liệu phim hoặc video:
Phim là tác phẩm điện ảnh được chuyển thể từ một kịch bản văn học hoặc một
tác phẩm văn học. Có khá nhiều tác phẩm văn học được đưa vào giảng dạy trong
nhà trường đã được chuyển thể thành phim và chúng ta có thể tổ chức khởi động
cho học sinh trước giờ học hoặc sau khi kết thúc bài học bằng những bộ phim,
chẳng hạn như :
- Ở chương trình Ngữ văn lớp 10, giáo viên có thể sử dụng tư liệu của một số
bộ phim sau:
+ Phim “Tấm Cám” chuyển thể từ truyện cổ tích cùng tên, do nghệ sĩ Ngô
Thanh Vân vừa là đạo diễn, vừa là nhà sản xuất phim; đồng thời lại vừa là diễn
viên trong vai dì ghẻ của bộ phim này.
+ Vở cải lương “Vương Thúy Kiều” phỏng theo cốt truyện của “Truyện Kiều” –
Nguyễn Du; do đạo diễn Hoa Hạ dàn dựng.
- Ở chương trình Ngữ văn lớp 11, giáo viên có thể sử dụng tư liệu của một số
bộ phim hoặc video sau:
+ Bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” chuyển thể dựa trên 3 tác phẩm của nhà văn
16



hiểu tác phẩm đó. Bởi lẽ không phải giáo viên dạy văn nào cũng có khả năng minh hoạ
cho các bài thơ bằng âm nhạc hay ngâm thơ. Bản thân tôi cũng vậy, nên có lúc tôi
đã dùng giọng ca hay giọng ngâm thơ của các nghệ sĩ để thay cho giọng đọc của
mình khi bước vào phần đọc - hiểu văn bản. Lúc đó cả cô và trò cùng thả hồn vào
bản nhạc và như một lẽ tự nhiên việc đọc - hiểu diễn ra thật nhẹ nhàng mà sâu lắng.
Ví dụ: khi dạy bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
(Ngữ văn 12), có thể sử dụng bài hát “Dòng sông ai đã đặt tên?"; Khi dạy bài thơ
“Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, giáo viên có thể sử dụng video ngâm thơ bài
"Đây thôn Vĩ Dạ" ….
Chính sự kết hợp giữa tài năng của nhà thơ với cảm hứng của nhạc sĩ và nghệ
thuật biểu diễn của người nghệ sỹ sẽ tác động mạnh mẽ đến người nghe , lôi cuốn
các em nhập tâm vào các tác phẩm thơ ca.
3.3. Phương pháp trải nghiệm:
- Các giờ đọc- hiểu văn bản văn học, giáo viên có thể đưa ra tư liệu về một số
tình huống, một số vấn để liên quan đến tác phẩm văn học để học sinh trao đổi,
thảo luận hoặc bằng chính sự trải nghiệm của bản thân mà bày tỏ ý kiến quan điểm
của mình về tình huống, vấn đề văn học đó.
VD: Khi đọc – hiểu truyện “Tấm Cám”, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi như sau:
+ Sau khi học xong truyện Tấm Cám, em có suy nghĩ như thế nào về phần kết
truyên ? Em có đồng tình với hành động trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám không?
+ Giả sử em là Tấm, em sẽ xử sự như thế nào với mẹ con Cám?
- Ở một số giờ đọc – hiểu văn bản, để khơi dậy niềm yêu thích văn chương nghệ
thuật, giáo viên có thể để cho học sinh tự trải nghiệm dưới hình thức sân khấu hóa
tác phẩm văn học: học sinh có thể trải nghiệm bằng cách nhập vai, hóa thân thành
nhân vật, hình tượng trong tác phẩm văn học. Từ đó, khiến các em dễ nhớ, nhập
tâm hơn với những tác phẩm văn học.
Chẳng hạn như: sau khi học xong “Truyện An Dương Vương và Mị ChâuTrọng Thủy”( Ngữ văn 10), giáo viên có thể hướng dẫn học sinh dàn dựng lại tác
18


- Hiểu được những nét khái quát về tiếng hát than thân và tiếng hát yêu thương
tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến xưa qua nghệ thuật đậm sắc
màu dân gian của ca dao.
- Biết cách tiếp cận và phân tích được lời than thân ở bài ca dao số 1 theo đặc
trưng thể loại.
2- Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc- hiểu ca dao.
3- Thái độ: Đồng cảm, sẻ chia với thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ
thông qua tiếng hát than thân. Lên án, tố cáo giai cấp thống trị chà đạp quyền sống
của người phụ nữ.
II. CHUẨN BỊ:
- GV: Đọc SGK, SGV, tài liệu tham khảo; soạn giáo án + Máy tính, máy chiếu;
một số hình ảnh về loại hình nghệ thuật dân ca; một số tư liệu về bài ca dao minh
họa cho chủ đề.
- HS: đọc và soạn bài theo hướng dẫn.
III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP:
1- Ổn định tổ chức
2- Kiểm tra bài cũ: kết hợp trong bài dạy.
3- Tiến trình bài học:
Hoạt động 1- Giới thiệu bài mới: Ca dao, dân ca được ví như dòng sữa ngọt ngào
nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người dân lao động Việt Nam. Trong đó, ca dao
than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa là bộ phận phong phú nhất trong kho tàng
ca dao trữ tình Việt Nam. Nó phản ánh những cung bậc cảm xúc khác nhau trong
đời sống tình cảm của người Việt Nam xưa. Cụ thể tìm hiểu tiết 26: Chủ đề ca dao
than thân, yêu thương, tình nghĩa.
Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về ca dao .
- Thao tác 1: Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm về ca dao.
- Thao tác 2: Giáo viên trình chiếu 2 tư liệu
+ Tư liệu 1: 1 số hình ảnh về loại hình nghệ thuật hát dân ca.
20

21


Giáo viên nêu câu hỏi: Quan sát những bài ca dao trên , hãy cho biết ca dao có
những nét đặc sắc gi về nghệ thuật?
Học sinh có thể trả lời : Đặc sắc nghệ thuật của ca dao là:
- Ngôn ngữ: Ngắn gọn, hàm súc; gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, giàu hình
ảnh so sánh, ẩn dụ, biểu tượng truyền thống.
- Thể loại: Thường sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Ngoài ra, còn có
các thể khác: song thất lục bát, vãn bốn ( câu 4 tiếng), vãn năm (câu 5 tiếng).
- Cấu trúc: Sử dụng 1 số mô tuýp (công thức) quen thuộc mang đậm sắc thái dân
gian.
* Nội dung 3: Phân loại ca dao.
Gv nêu câu hỏi: Quan sát vào các bài ca dao trên + kiến thức cũ đã học về ca dao
ở Trung học cơ sở, hãy cho biết: Ca dao được phân ra làm mấy loại?
Gồm có 3 loại: Than thân; yêu thương, tình nghĩa; hài hước , trào phúng.
- Thao tác 3: Hướng dẫn học sinh tìm cung cấp thêm tư liệu về ca dao than thân và
ca dao yêu thương tình nghĩa.
Ngoài những tư liệu do giáo viên cung cấp, giáo viên cũng có thể gợi ý để
các em sưu tầm những tư liệu khác bằng cách nêu câu hỏi gợi mở: Hãy lấy ví dụ 1
số bài ca dao than thân, ca dao yêu thưng tình nghĩa mà em biết?
Các tư liệu đó không chỉ minh họa trực tiếp cho nội dung bài học mà còn tạo nên
sự sinh động, phong phú , khắc sâu kiến thức cho tiết học.
Hoạt động 3: Hướng dẫn đọc – hiểu khái quát bài ca dao số 1,4,6:
- Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm bài ca dao số 1, 4, 6 .
- Thao tác 2: nêu câu hỏi:
Trong 3 bài ca dao trên, bài ca dao nào thuộc chủ đề than thân, bài nào thuộc
chủ đề yêu thương, tình nghĩa?
Từ các tư liệu và nội dung đã tìm hiểu ở hoạt động 2, học sinh có thể phân loại
được:
Mô tuýp ( công thức) quen
thuộc trong ca dao than thân.
- Giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm tư liệu về 1 số bài ca dao than thân có
cùng mô tuýp mở đầu “Thân em”...
1- Thân em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sơng…”
2-“ Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa gió đi về chùi chân”
3- Thân em như ớt trên cây
Càng tươi ngoài vỏ, càng cay trong lòng.
4- Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dìu biết nấp vào đâu.
5- Thân em” như như hạt mưa sa

bất kì người nào có nhu cầu mua bán.
Như vậy, số phận của “tấm lụa đào” - người thiếu nữ ấy không có quyền lựa
chọn và định đoạt số phận của cuộc đời mình.
24


- Đảo ngữ: Đưa từ láy “phất phơ”(láy tượng hình) đặt đầu câu và đặt trước
“giữa chợ” (Bổ ngữ) kết hợp với câu hỏi tu từ “Biết vào tay ai”?
-> Tác dụng: Gợi nỗi xót xa, lo lắng cho thân phận bấp bênh, mong manh của
người phụ nữ trong xã hội cũ.
- Thao tác 3: Giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh liên hệ và rút ra bài học.
Câu 1: Tiếp mạch cảm hứng bài ca dao này, nhà thơ nào cũng bày tỏ sự ngậm
ngùi, xót thương cho thân phận phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong
kiến?
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc hoạ rõ nét hơn trong tiếng thơ đầy bản sắc
của bà để tạo nên 1 tiếng nói chung trong bài thơ : "Bánh trôi nước" (Giáo viên
cung cấp tư liệu bài thơ này)
Câu 2: Thông qua bài ca dao trên, đã để lại cho em những cảm xúc gì?
+ Cảm thông, chia sẻ với thân phận phụ thuộc của người phụnữ trong xã hội cũ.
+ Liên hệ với xã hội ngày nay: được sống trong xã hội công bằng, dân chủ, thế
nên người phụ nữ có quyền chủ động làm những việc mà mình muốn: Họ đc học
tập, chủ động trong tình yêu , lựa chọn hạnh phúc cho cuộc đời mình; được tham
gia vào các hoạt động xã hội; được học tập và vui chơi...Họ không còn bị kìm kẹp
bởi những quan niệm bất công của xã hội cũ.
 Vì vậy, chúng ta cần phải biết trân trọng những gì mà chúng ta đang được
hưởng để phấn đấu trở thành những người có ích cho xã hội.
Hoạt động 4: Củng cố bài học.
- Hiểu được những nét chính về ca dao; ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.
- Nội dung và những biện pháp nghệ thuật được sử dụng bài ca dao than thân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status