Nghiên cứu hiện tượng mạch đùn, mạch sủi và biện pháp xử lý ứng dụng cho đoạn đê từ k14+600 k15+500, đê hữu sông kinh thầy, huyện nam sách tỉnh hải dương - Pdf 41

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG MẠCH ĐÙN, MẠCH SỦI .............6

1.1 Khái quát chung ........................................................................................................ 6
1.2 Đặc điểm địa chất nền đê khu vực có khả năng xảy ra hiện tượng mạch đùn, mạch
sủi. ................................................................................................................................... 6
1.3 Hiện trạng đê điều, các sự cố và tác hại do hiện tượng mạch đùn, mạch sủi. .......... 7
1.3.1 Hiện trạng đê điều nước ta hiện nay .....................................................................7
1.3.2 Các sự cố và tác hại do hiện tượng mạch đùn, mạch sủi .......................................9
1.4 Các giải pháp kiểm tra, đề phòng, xử lý hiện tượng mạch đùn, mạch sủi. ............. 11
1.4.1 Giải pháp kiểm tra, đề phòng hiện tượng mạch đùn, mạch sủi ...........................11
1.4.2 Các giải pháp xử lý hiện tượng mạch đùn, mạch sủi. ..........................................13
CHƯƠNG 2 TÍNH TOÁN, MÔ HÌNH HIỆN TƯỢNG MẠCH ĐÙN, MẠCH SỦI.20
2.1 Giới thiệu chung, khái quát nghiên cứu thấm dưới đê............................................ 20
2.1.1 Ngoài nước ...........................................................................................................20
2.1.2 Trong nước ...........................................................................................................22
2.2 Các phương pháp tính thấm .................................................................................... 24
2.2.1 Định luật thấm và phương trình cơ bản ...............................................................24
2.2.2 Giải bài toán thấm bằng phương pháp giải tích ................................................28
2.2.3 Giải bài toán thấm bằng phương pháp số ..........................................................29
2.3 Cách kiểm tra hiện tượng mạch đùn, mạch sủi ....................................................... 32
2.3.2 Kiểm tra bục tầng phủ và xói ngầm....................................................................32
2.4 Phần mềm tính toán ................................................................................................ 38
2.4.1 Giới thiệu modul SEEP/W ..................................................................................38
2.5 Các giải pháp xử lý ................................................................................................. 41
2.5.1 Giải pháp xử lý nền đê trước mùa lũ ..................................................................41
CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN ÁP DỤNG THỰC TẾ CHO ĐOẠN ĐÊ TỪ K14+600 K15+500 ĐÊ HỮU SÔNG KINH THẦY, HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI
DƯƠNG.........................................................................................................................49
3.1 Nghiên cứu thực trạng đoạn đê ............................................................................... 49


DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1: Hiện tượng mạch sủi ..........................................................................................2
Hình 2: Xử lý mạch đùn, mạch sủi bằng giếng giảm áp .................................................3
Hình 3: Xử lý mạch đùn, mạch sủi bằng mành tre ..........................................................3
Hình 1.1 Sơ đồ xử lý mạch sủi đùn cát ở ruộng ............................................................14
Hình 1.2 Sơ đồ xử lý mạch sủi đùn cát ở ao hồ.............................................................15
Hình 1.3 Sơ đồ xử lý tập đoàn mạch sủi đùn bùn cát ....................................................16
Hình 1.4 Sơ đồ xử lý sự cố xuất hiện mạch sủi ở hạ lưu cống ......................................17
Hình 1.5 Sơ đồ xử lý sự cố xuất hiện mạch sủi ở trong lòng cống ...............................18
Hình 2.1: Dòng thấm trong mặt phẳng Oxz của một phân tố đất bão hòa nước hoàn
toàn ................................................................................................................................26
Hình 2.2 : Minh họa mặt hàm xấp xỉ của phần tử .........................................................31
Hình 2.3: Xác định các tham số cho ma trận [C] ..........................................................40
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí sân phủ ngoài đê ........................................................................41
Hình 2.5: Sơ đồ đắp khối phản áp tiêu nước .................................................................42
Hình 2.6: Giếng đào giảm áp ........................................................................................44
Hình 2.7: Giếng bơm giảm áp .......................................................................................45
Hình 2.8: Tầng lọc ngược ..............................................................................................46
Hình 2.9: Khoan phụt tạo màn chống thấm...................................................................47
Hình 2.10: Dựng tường chống thấm ..............................................................................47
Hình 3.1: Mặt cắt 1 tại K14+813 ...................................................................................51
Hình 3.2: Mặt cắt 1 tại K15+213 ...................................................................................51
Hình 3.3: Kết quả tính toán Gradient cho TH1 .............................................................57
Hình 3.4: Kết quả tính toán Gradient cho TH2 .............................................................58
Hình 3.5: Kết quả tính toán Gradient cho TH3 .............................................................58
Hình 3.6: Kết quả tính toán Gradient cho TH4 .............................................................59
Hình 3.7: Kết quả tính toán Gradient cho TH5 .............................................................60
Hình 3.8: Kết quả tính toán Gradient cho TH6 .............................................................60
Hình 3.9: Kết quả tính toán Gradient cho mặt cắt 1 sử dụng giếng giảm áp ................66

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, với hệ thống sông ngòi dày đặc. Từ xa
xưa chúng ta đã biết tầm quan trọng của hệ thống đê điều trong việc điều tiết và sản
xuất nông nghiệp. Hàng năm hệ thống đê điều ở nước ta được Trung ương và địa
phương quan tâm đầu tư tu bổ, nâng cấp tăng cường ổn định và loại trừ dần các trọng
điểm đê điều xung yếu. Tuy vậy, do tác động của thiên nhiên như sóng, gió, thủy triều,
dòng chảy và các tác động trực tiếp của con người, quy mô và chất lượng công trình
đê điều luôn bị biến động theo thời gian. Vì vậy khi có bão, lũ mực nước sông dâng
cao, độ chênh lệch với mức nước trong đồng lớn, do đó nhiều đoạn đê xuất hiện các sự
cố mạch đùn, sủi, thẩm lậu, sạt trượt mái đê phía sông và phía đồng. Các sự cố liên
quan đến đê điều ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất. Việc đảm bảo an toàn đê
điều vô cùng cần thiết và cấp bách, đặc biệt trong điều kiện thời tiết diễn biến ngày
càng bất thường và nguy hiểm. Một trong những hiện tượng nguy hiểm và thường gặp
đó là hiện tượng mạch đùn, mạch sủi.
Hiện tượng khi mặt đất tự nhiên nằm trên tầng cát và áp lực đẩy ngược của nước ngầm
lớn sẽ hình thành các chỗ cát bị cuốn theo nước ngầm đi lên bề mặt đất tự nhiên. Hiện
tượng này gọi là mạch đùn hoặc mạch sủi. Mạch đùn có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc ở
nhiều chỗ, còn gọi là tập đoàn mạch sủi. Với hệ thống đê điều hiện tượng mạch đùn,
mạch sủi diễn ra rất bất thường, khó phát hiện và kiểm soát.
Mạch đùn thường xuất hiện ở nơi mà tầng chứa nước (cát) có chiều dày lớn,
nhưng tầng phủ phía trên (đất thịt) có độ bền (cơ học, thấm) tương đối cao. Khi nước
sông cao, những nơi có chiều dày lớp phủ nhỏ (thùng trũng, ao hồ, ...) dễ bị bục tầng
phủ, nước thoát ra với tốc độ lớn qua các khe nứt, hang hốc… rất nguy hiểm đối với
ổn định của đê.
Mạch sủi thường xuất hiện ở những nơi mà tầng chứa nước nằm nông, phân bố ở gần
chân đê hạ lưu, cách chân đê từ 0÷20m cá biệt có nơi từ 100÷200m. Kích thước
mạch sủi quan sát được từ vài cm tới hàng chục cm, trung bình từ 10÷20cm. Nước
thoát ra từ mạch sủi có tốc độ và lưu lượng tuỳ thuộc vào kích thước miệng thoát và


- Xử lý mạch đùn, mạch sủi bằng giếng giảm áp

Hình 2: Xử lý mạch đùn, mạch sủi bằng giếng giảm áp
- Xử lý mạch đùn, mạch sủi bằng mành tre

Hình 3: Xử lý mạch đùn, mạch sủi bằng mành tre
Ngày nay với các tiến bộ của khoa học công nghệ chúng ta đã có thể tính toán đưa ra
nhiều biện pháp xử lý như dùng vải địa kỹ thuật, làm hệ thống giếng khoan
giảm áp, lấp ao đến cao độ hạ lưu, làm giếng cọc vây...
Đối với tỉnh Hải Dương đê và công trình trên đê là công trình thủy lợi chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm an toàn của sản xuất, đời sống trên địa bàn tỉnh và
các tỉnh lân cận. Trong lịch sử đã xảy ra nhiều sự cố vỡ đê, đe dọa an toàn về tính
mạng và tài sản cũng như hoạt động sản xuất của nhân dân trong vùng đê bảo vệ. Do

3


cấu tạo địa chất nền đê ở Hải Dương khá phức tạp, tồn tại tầng cát có hệ số thấm lớn
thông với sông, lớp tầng phủ phía trên bằng đất sét tương đối mỏng. Vì thế khi mực
nước sông dâng cao, thường xuất hiện mạch sủi, tập đoàn mạch sủi ở nhiều
đoạn đê xung yếu, ảnh hưởng đến sự ổn định của đê. Hiện tượng này còn xuất hiện
ở giếng nước sinh hoạt trong thôn xóm và những khu vực khai thác đất làm gạch...
Xói ngầm đặc biệt hay xảy ra tại các cống dưới đê được xây dựng trên vị trí lòng sông
cũ, do khi thi công cống đã đào bỏ tầng phủ thấm nước yếu phía trên. Đã có nhiều giải
pháp được sử dụng để ổn định nền đê như đắp ao, làm giếng giảm áp... Tuy nhiên còn
gặp rất nhiều khó khăn trong việc đưa ra giải pháp xử lý nhanh và hiệu quả vấn đề này.
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ổn định
thấm nền đê phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh Hải Dương. Đây là vấn đề hết sức
quan trọng và cần thiết cho công tác quản lý đê điều của tỉnh Hải Dương nói riêng, cả
nước nói chung. Đặc biệt đối huyện Nam Sách, nơi được bao bọc bởi 3 tuyến đê của

- Thông qua kết quả tính toán mô hình đưa ra giải pháp áp dụng thực tế đảm bảo an
toàn cho đê điều nước ta đặc biệt trong mùa mưa bão.

5


CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG MẠCH ĐÙN, MẠCH SỦI
1.1 Khái quát chung
Đê sông thường nằm trên lớp đất thịt phủ trên mặt dày 3 đến 4m, dưới đó là tầng cát
dày thông với sông. Mùa lũ, dòng thấm có áp trong tầng cát gây áp lực lên tầng phủ.
Tầng phủ thường bị phá hoại tại những điểm yếu, vị trí tầng phủ mỏng, yếu, vùng hồ
ao, chỗ có khuyết tật... Từ đó nước trào lên mang theo hạt đất, cát, vật chất hữu cơ. Vì
vậy, biến dạng thấm nền đê phát triển theo 3 giai đoạn. Đầu tiên là phá vỡ tầng phủ
theo các khuyết tật mang theo các hạt bụi, tiếp theo là sự mở rộng lỗ thoát gây ra đất,
cát chảy trong nền, rồi đến giai đoạn phát triển biến dạng thấm phát triển mạnh mẽ gây
mạch đùn, mạch sủi.
1.2 Đặc điểm địa chất nền đê khu vực có khả năng xảy ra hiện tượng mạch đùn,
mạch sủi.
Mạch đùn thường xuất hiện ở nơi mà tầng chứa nước (cát) có chiều dày lớn, nhưng
tầng phủ phía trên (đất thịt) có độ bền (cơ học, thấm) tương đối cao. Khi nước sông
cao, những nơi có chiều dày lớp phủ nhỏ (thùng trũng, ao hồ…) dễ bị bục tầng phủ,
nước thoát ra với tốc độ lớn qua các khe nứt, hang hốc…rất nguy hiểm đối với ổn định
của đê.
Mạch sủi thường xuất hiện ở những nơi mà tầng chứa nước nằm nông, phân bố ở gần
chân đê hạ lưu, cách chân đê từ 0÷20m các biệt có nơi từ 100÷200m. Kích thước mạch
sủi quan sát được từ vài cm tới hàng chục cm, trung bình từ 10÷20cm. Nước thoát ra
từ mạch sủi có tốc độ và lưu lượng tùy thuộc vào kích thước miệng thoát và gradient
áp lực thấm. Vật liệu mang theo là các hạt nhỏ, mịn lẫn nhiều bụi. Mực nước sông
dâng càng cao thì các mạch sủi xuất hiện càng nhiều và thường tập trung ở các vị trí
trọng điểm thành tập đoàn mạch sủi hay bãi sủi.

1.3.1 Hiện trạng đê điều nước ta hiện nay
Việt Nam là một nước có hệ thống sông ngòi dày đặc. Các khu dân cư, thành phố và
vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các hệ thống sông lớn, nên thườngbbị đe
dọa bởi yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt. Hệ thống đê dọc theo các nhánh sông là giải
pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư
ven sông và toàn bộ vùng châu thổ trước nguy cơ ngập lụt. Trải qua quá trình phát
7


triển, hệ thống đê hiện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn với
khoảng 13.200 km đê, trong đó có khoảng 10.600 km đê sông và gần 2.600 km đê
biển. Các hệ thống đê sông chính với trên 2.500km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt còn
lại đê dưới cấp III và đê chưa được phân cấp. Trong đó:
- Hệ thống đê Bắc bộ và bắc Trung bộ: Dài 5.620km, có nhiệm vụ bảo vệ chống lũ
triệt để, bảo đảm an toàn cho vùng Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ.
- Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Trung bộ và Nam Trung bộ: Có tổng
chiều dài 904km.
- Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: Có chiều dài
4.075km.
Hầu hết các hệ thống đê điều và phòng chống lụt bão tồn tại hiện nay ở nước ta được
thiết kế xây dựng dựa theo kinh nghiệm tích góp từ nhiều thế hệ và áp dụng các tiêu
chuẩn an toàn phù hợp với tình hình thực tế của một vài thập kỷ trước. Trong điều kiện
các hình thái thời tiết và thiên tai ngày càng gia tăng do hiệu ứng nóng lên toàn cầu và
biến đổi khí hậu (BĐKH), các quy luật khí tượng thủy văn lưu vực có những diễn biến
bất thường so với thời điểm thiết kế, cần phải đánh giá an toàn của các hệ thống đê
hiện tại ở Việt Nam.
Hàng năm hệ thống đê điều ở nước ta được Trung ương và địa phương quan tâm đầu
tư tu bổ, nâng cấp tăng cường ổn định và loại trừ dần các trọng điểm đê điều xung yếu.
Tuy vậy, do tác động của thiên nhiên như sóng, gió, thủy triều, dòng chảy và các tác
động trực tiếp của con người, quy mô và chất lượng công trình đê điều luôn bị biến

lường, lâu dài về môi trường sinh thái...
Nguyên nhân chính gây nên các hiện tượng này là do khi có lũ, mực nước sông lên
cao, áp lực nước trong tầng chứa nước ở nền đê gia tăng vượt quá cột nước giới hạn,
làm phá vỡ tầng bảo vệ.
Cụ thể: khi biến dạng thấm phát triển mạnh, nước từ dưới đùn lên với tốc độ và lưu
lượng lớn mang theo nhiều hạt cát làm rỗng nền đê, dẫn đến mặt đất bị sụt xuống và
nền đê có thể bị phá vỡ một cách nhanh chóng gây nên vỡ đê. Mức độ và quy mô
phát triển các biến dạng thấm rất khác nhau, lưu lượng nước chảy ra có thể lôi cuốn

9


tới hàng chục, hàng trăm mét khối cát. Trong thời gian qua các sự cố liên quan tới hiện
tượng mạch đùn, mạch sủi suất hiện ngày càng nhiều trên toàn Miền Bắc và gây rất
nhiều thiệt hại, lấy ví dụ như: Tại Thái Bình, xuất hiện mạch sủi nước trong với đường
kính 15 cm tại Km6+950 và Km7 đê tả Trà Lý (xã Bạch Đằng). Sự cố này đã được xử
lý bằng tầng lọc ngược. Ba mạch sủi tại Km10+500, Km10+975, Km10+990 của đê
hữu Trà Lý đi qua xã Song Lãng cũng đang được theo dõi. Trên tuyến đê Hồng Hà 2,
xã Hòa Bình, có một lỗ rò nước đường kính 50 mm tại Km158+600 và đã được bắc
máng để tiêu nước. Tại Bắc Ninh, đã phát hiện một mạch sủi nước trong tại Km0+10 ở
đê hữu Thái Bình, cách chân đê 35 m, đường kính lỗ sủi 8 cm. Tại Hà Nam đã xảy ra
sự cố đùn sủi, sụt lún ở cống và âu thuyền Tắc Giang thuộc tiểu dự án Hệ thống thủy
lợi Tắc Giang, tại vị trí Km129+530 trên đê Hữu Hồng, giữa hai huyện Lý Nhân và
Duy Tiên...
Đối với tỉnh Hải Dương theo “Báo cáo đánh giá hiện trạng đê điều tỉnh Hải Dương
năm 2014” thì trên các tuyến đê của địa bàn tỉnh đã xảy ra rất nhiều sự cố mạch đùn
mạch sủi như:
- Đê tả Thái Bình khi lũ vượt báo động III trên tuyến đê này thường xuất hiện sự cố
đùn sủi ở các vị trí: tại K19,4 - K19,7 (Minh Tân - Nam Sách) có mạch đùn đường
kính từ 5-15 cm tập trung trong phạm vi 100m2 và cách chân đê từ 50 - 70m , khu vực

1.4.1 Giải pháp kiểm tra, đề phòng hiện tượng mạch đùn, mạch sủi
* Tuần tra, kiểm tra bảo vệ đê:
Mọi sự cố của công trình đê đều có dấu hiệu báo trước, diễn biến từ nhỏ đến lớn. Nếu
không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời thì từ những hư hỏng nhỏ sẽ nhanh chóng
phát triển, có thể gây ra những hiểm họa, nguy hiểm nhất dẫn đến vỡ đê. Hiện tượng
mạch đùn, mạch sủi cũng như vậy. Nên công tác tuần tra, kiểm tra đê là rất quan trọng,
có thể phát hiện được các hiện tượng khởi đầu của mạch đùn, sủi để có những biện
pháp, kỹ thuật xử lý đơn giản mà hiệu quả, không tốn công, vật liệu.
* Sự cần thiết của tuần tra, kiểm tra đê
- Về nguyên tắc đê thường được xây dựng từ đất, vật liệu tại chỗ trên cơ sở có sẵn của
các nguyên vật liệu tại địa phương.

11


- Hệ thống đê hiện tại được hình thành từ lâu và đã trải qua nhiều lần tôn cao, sửa
chữa,... Tuy nhiên theo thời gian, sự phát triển của tiến bộ khoa học công nghệ đê dần
được kè hóa phương pháp xây dựng đê thay đổi. Dẫn đến trên nhiều tuyến đê có sự
không đồng nhất về vật liệu làm đê và độ bền của vật liệu.
- Thông qua công tác tuần tra như vậy sẽ phát hiện được các điều kiện, tình trạng bất
thường của đê và những thay đổi chất lượng đê, các hiện tượng ban đầu của mạch đùn,
sủi. Kết quả kiểm tra đê được lưu lại như là nguồn thông tin dữ liệu quan trọng cho các
công tác như: khảo sát chi tiết, sửa chữa, khắc phục sự cố...
- Phát hiện sớm tìm đúng nguyên nhân để có thể xử lý đúng kỹ thuật ngay từ giờ đầu,
phút đầu không để diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng.
* Những yêu cầu của công tác tuần tra, bảo vệ đê
- Phải tiến hành một cách thường xuyên và tỷ mỷ đặc biệt là trong mùa mưa bão.
- Tất cả các điểm gần cũng như xa đê đều phải được xem xét kỹ, để phát hiện kịp thời
ngay những biểu hiện đáng nghi ngờ.
- Các dấu hiệu đùn, sủi dù lớn hay nhỏ, dù bình thường hay nguy hiểm đều phải được

phụ trợ trên đê trong những giờ đầu khi xuất hiện hiện tượng mạch đùn, mạch sủi. Các
biện pháp đơn giản và được áp dụng phổ biến ngoài thực tế trong một số trường hợp
cụ thể.
a. Sự cố xuất hiện mạch sủi đùn cát ở ruộng

13


Hình 1.1 Sơ đồ xử lý mạch sủi đùn cát ở ruộng
Khi gặp sự cố mạch sủi đùn cát ở ruộng (có thể ở gần hay cách xa thân đê) ta xử lý
như sau: Quây lỗ sủi bằng phên tre hoặc nứa vòng trong cách vòng ngoài 20-30cm ở
giữa bỏ đất thịt tạo thành giếng dâng nước có bán kính cách bờ lỗ sủi ít nhất là 5060cm. Nếu mực nước lũ cao, thành giếng lọc cần nâng cao thêm sao cho chênh lệch
cột nước H càng nhỏ càng tốt. Dùng nút rơm nút lỗ sủi sau đó ép tấm phên rơm lên,
trường hợp sủi mạnh tốt nhất bỏ một lớp đá dăm, gạch củ đậu dày 10-15cm ép tấm
phên xuống để giảm tốc độ nước lên. Sau đó bắc máng dẫn nước ra xa, nước trong
giếng dâng lên từ từ tiến hành bỏ lớp lọc vào giếng. Kể từ dưới lên: cát thô dày 20 cm,
sỏi dày 20 cm, đá dăm dày 20 cm.
b. Sự cố xuất hiện mạch sủi đùn cát ở ao hồ

14


Hình 1.2 Sơ đồ xử lý mạch sủi đùn cát ở ao hồ
+ Trường hợp độ sâu mực nước trong ao dưới 1m
Quây giếng chìm vòng trong có bán kính cách lỗ sủi 1-1,5m và cách vòng ngoài 30
cm. Trong giếng ta sắp xếp lớp lọc từ dưới lên: bao tải cát thô 40 cm, bao tải sỏi 20
cm, bao tải đá dăm 20cm. Cũng có thể dùng thùng gỗ, thùng phi thủng đáy để làm
giếng lọc.
+ Trường hợp độ sâu mực trong ao nước trên 1m
Ta xử lý bằng cách cắm cọc cừ cách mép sủi 1,5m đến 2m quây thành hình tròn giữa

Khi bãi sủi ở gần đầm, ao hồ sâu cũng tiến hành xử lý như trên, nhưng phên phải đan
bằng tre tươi, nẹp thật chắc bằng tre cây cách nhau từ 1,5-2 m và đặt lên khu vực bãi
sủi rồi chất bao tải cát hoặc đá hộc cho chìm dần xuống đáy.
Khi bãi sủi ở gần bờ ao, hồ sát chân đê cách tốt nhất là nên lấp ao, hồ. Lấp cao bằng
mặt ruộng , đắp lấn từ chân đê ra, chiều rộng tùy theo điều kiện cụ thể mà quyết định
(nhưng không được nhỏ hơn 10m). Biện pháp này có tác dụng giải quyết được mạch
đùn mạch sủi vừa có tác dụng củng cố chân đê.
Chú ý: Khi thi công các biện pháp nói trên cần gia cố kỹ xung quanh để nước chỉ chảy
qua các lớp lọc thì mới có hiệu quả. Để tránh phát sinh các mạch sủi mới không nên
dẫm xéo nhiều ở khu vực xung quanh làm kết cấu đất ở đó bị phá hoại.
e. Sự cố xuất hiện mạch sủi ở hạ lưu cống

Hình 1.4 Sơ đồ xử lý sự cố xuất hiện mạch sủi ở hạ lưu cống
Cách sửa chữa: Nâng cao mực nuớc ở hạ lưu cống, để giảm bớt áp lực thấm, làm cho
đất, cát ở nền cống không bị xói trôi.
17


Có thể nâng cao mức nuớc ở hạ lưu bằng 2 cách sau:
+ Nếu ở kênh phía đồng có công trình điều tiết gần cống, thì đóng cống điều tiết để
nâng mực nuớc ở phía đồng .
+ Nếu không có công trình điều tiết, thì đắp một đập dâng nuớc qua kênh ở phía đồng.
Vị trí đập phải đủ xa để khỏi sinh ra mạch sủi mới ở hạ lưu đập, đập dâng phải cách
sân sau từ 30-100m là đủ.
Để giảm khối lượng đất đắp, có thể cắm hai hàng cừ tre, lót phên rồi đổ đất vào giữa
với mặt rộng từ 2-3m. Chiều cao đập lấy tuỳ theo mạch sủi mạnh hay yếu. Cao trình
đỉnh đập phải cao hơn mực nuớc cần dâng từ 0,5-0,8m. Nếu bờ kênh từ cống ra đến
đập dâng nuớc còn thấp thì cần phải tôn cao bằng con trạch. Chiều cao con trạch cũng
phải cao hơn mực nuớc cần dâng từ 0,5-0,8m.
f. Sự cố xuất hiện mạch sủi ở trong lòng cống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status