PHÁT TRIỂN DU LỊCH tại LÒNG hồ THỦY điện hòa BÌNH - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

------------------

ĐẶNG HOÀNG HÀ

PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÒNG HỒ
THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60.22.01.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS

Đỗ Thị Minh Đức

HÀ NỘI – 2014


LỜI CẢM ƠN !
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn:
GS.TS. Đỗ Thị Minh Đức! Cô đã ân cần chỉ bảo và hướng dẫn em từng bước trong
suốt quá trình làm Luận văn Tốt Nghiệp. Nhờ có sự quan tâm,chỉ bảo của cô mà
em đã học hỏi được nhiều ý hay, ý tốt để hoàn thành bài Luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy các cô trong trường và các thầy, các cô
trong Khoa Việt Nam học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ em trong
suốt quá trình học tập, tìm hiểu, nghiên cứu, và rèn luyện tại trường.
Chúng em đã được học những kiến thức, có những hướng đi đúng đắn trong

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch là một nhu cầu tất yếu của
xã hội. Hoạt động du lịch không những là ngành kinh tế của các quốc gia mà
còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc thuộc các vùng miền trong một đất
nước nói riêng và các dân tộc trên thế giới nói chung. Về phương diện kinh tế,
du lịch đã trở thành một ngành mũi nhọn, chiếm một tỷ trọng lớn trong thu
nhập kinh tế quốc dân và góp phần không nhỏ vào quá trình xoá đói, giảm
nghèo ở những vùng kinh tế chậm phát triển, vùng sâu vùng xa. Về phương
diện chất lượng cuộc sống, du lịch góp phần quan trọng làm cho đời sống xã
hội ngày một phong phú, lý thú và bổ ích hơn. Về phương diện văn hoá, du
lịch có vai trò to lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền
thống dân tộc.
Với lợi thế là một quốc gia có tài nguyên du lịch phong phú đa dạng ở
cả lĩnh vực tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn cho nên
hoạt động của ngành du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã tiếp tục
khai thác thế mạnh của các nguồn tài nguyên du lịch trên địa bàn cả nước.
Điều đó đã tạo ra sự thay đổi lớn về vị trí cũng như vai trò của hoạt động kinh
tế du lịch trong nền kinh tế quốc dân.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ Tây Bắc, đây là vùng đất
có lịch sử phát triển lâu đời nổi bật với diện mạo văn hóa của các dân tộc
thiểu số mà tiểu biểu là văn hóa tộc người Mường và tộc người Thái. Cùng
với những giá trị văn hóa độc đáo của các tộc người, những giá trị độc đáo về
tài nguyên thiên nhiên trở thành nguồn tài nguyên du lịch phục vụ tích cực
cho hoạt động kinh tế du lịch của tỉnh Hòa Bình nói riêng và ngành du lịch
Việt Nam nói chung.

1


Nắm bắt được những lợi thế của mình, tỉnh Hòa Bình trong những năm
gần đây đã và đang tích cực khai thác nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động

- Đưa ra định hướng, giải pháp khai thác hợp lí tài nguyên du lịch và
vấn đề bảo vệ tài nguyên du lịch tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển hoạt động du lịch tại khu vực lòng hồ
thủy điện Hòa Bình.
Về không gian: Khu vực lòng hồ thủy điện Hòa Bình tại các huyện thị:
Thành phố Hòa Bình, huyện Cao Phong, huyện Đà Bắc, huyện Tân Lạc,
huyện Mai Châu)
Về thời gian: Các số liệu về thực trạng thu thập thống kê từ năm 2000
đến năm 2012.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
4.1. Trên thế giới
Sự phát triển của hoạt động du lịch trên thế giới gần đây đã có nhiều
công trình nghiên cứu các giá trị tài nguyên phục vụ mục đích du lịch. Tiêu
biểu là công trình: Đánh giá và thành lập bản đồ các tài nguyên du lịch
(Mariod, 1971); Đánh giá tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí (L.I Mukhina,
1973); Nguyên tắc, phương pháp điều tra, đánh giá tài nguyên trong quy
hoạch vùng kinh tế nói chung và vùng du lịch nói riêng (Pertxick, 1978); nhà
địa lí học Pironik, 1985 đã tổng quan những lí luận về tài nguyên du lịch.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả địa lí trên thế giới
trong lĩnh vực du lịch, trong đó có nhiều nhà địa lí du lịch xác định đối tượng
nghiên cứu của địa lí du lịch là các hệ thống lãnh thổ du lịch hoặc thể tổng
hợp lãnh thổ du lịch. Những công trình nghiên cứu trên là những có sở lí luận
khoa học cho những nhà quản lí, nhà kinh doanh du lịch vận dụng vào hoạt
động nghiên cứu và khai thác các loại tài nguyên du lịch.[33]

3


4.2. Ở Việt Nam

du lịch và phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Hòa Bình; nghiên cứu đề xuất tổ
chức lãnh thổ du lịch tỉnh Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững có
tính đến các yếu tố xây dựng cơ sở vật chất các điểm du lịch, môi trường sinh
thái... và các giải pháp thực hiện. Trong công trình này, tác gả cũng đã đề cập
đến vấn đề phát triển du lịch cộng đồng tại bản Giang Mỗ và khu vực lòng hồ
thuỷ điện Hoà Bình;[ 19 ]
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2007) trong luận văn thạc sĩ “Tác
động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu Hòa Bình và các giải pháp phát triển” đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của hoạt
động du lịch đến toàn bộ đời sống kinh tế, văn hoá xã hội của người Thái.
Công trình đã cung cấp một hệ thống thông tin đầy đủ về lịch sử hình thành
và phá triển, thực trạng hoạt động du lịch và những tác động tích cực, tiêu cực
của du lịch đến đời sống của người dân. Từ đó tác giả đề xuất hướng phát
triển bền vững cho du lịch cộng đồng ở Mai Châu;[31]
Tác giả Đặng Hoàng Giang(2011) trong luận văn thạc sĩ“Nghiên cứu
xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình
(lấy ví dụ bản Giang Mỗ)”, đã nghiên cứu vận dụng mô hình du lịch cộng
đồng tại huyện Mai Châu đối với sự phát triển du lịch tại một số bản dân tộc
thiểu số của huyện Cao Phong. Tác giả đã đưa ra những hướng khai thác tài
nguyên du lịch nhân văn và những biện pháp bảo vệ giá trị văn hoá truyền
thống để phục vụ mục đích phát triển du lịch;[ 6 ]
Tác giả Hoàng Văn Tứ (2009) trong luận văn thạc sĩ “Khai thác tiềm
năng du lịch hồ sông Đà để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hoà Bình”, đã
nghiên cứu tình hình khai thác và phát triển du lịch tại lòng hồ sông Đà. Tác
giả cũng đưa ra những biện pháp tích cực nhằm khai thác tài nguyên du lịch
tại lòng hồ sông Đà phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình.[27 ]

5


Như vậy, những công trình trên đã đề cập đến những vấn đề liên quan

lịch tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình người nghiên cứu phải đặt nó trong cả
một hệ thống để đánh giá và xem xét đối tượng để thấy được sự tác động, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các thành phần trong một hệ thống nhất định.
- Quan điểm lịch sử
Hoạt động của ngành kinh tế không ngừng vận động trong không
gian và nó luôn biến đổi theo thời gian.Vì vậy khi nghiên cứu phát triển
hoạt động du lịch tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình cần phải nhìn nhận nó
trong bối cảnh lịch sử mới thấy được sự biến động của nó từ quá khứ, hiện
tại và đến tương lai. Đồng thời khi đánh giá riêng về các hiện trạng phát
triển du lịch cũng phải xem xét nó trong mối quan hệ với quá khứ và tương
lai, coi nó là một giai đoạn trong quá trình phát triển để xác định xu hướng
phát triển trong tương lai gần.
- Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển phải gắn với với việc bảo vệ và tôn
tạo tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.Từ đó phải đặt ra các kế
hoạch và cơ chế quản lí phù hợp với việc khai thác các giá trị thiên nhiên,
nhân văn cho hoạt động khai thác du lịch theo chiều hướng tích cực nhất và
hạn chế tối đa nhất những tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường sinh
thái và môi trường xã hội.
Du lịch là một ngành kinh doanh, trước hết phải dựa vào tài nguyên du
lịch. Việc kinh doanh hoạt động du lịch không thể tránh khỏi những tác động
tiêu cực đến cảnh quan môi trường tự nhiên, trước hết dẫn đến hiện tượng ô
nhiễm môi trường (nguồn nước, không khí, tiếng ồn…), các tệ nạn xã hội
(mại dâm, ma túy, cờ bạc…). Do vậy, việc đề xuất các tuyến điểm du lịch, các
loại hình du lịch phải khai thác trên quan điểm bền vững nhằm mục tiêu bảo
tồn và gìn giữ các thành phần tự nhiên và xã hội nhân văn trước những tác
động tiêu cực của hoạt động du lịch.
7



du lịch, tuyến điếm du lịch trên lãnh thổ tỉnh Hòa Bình nói chung và lòng hồ
thủy điện Hòa Bình nói riêng.
-Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp quan sát
Quan sát trực tiếp các hoạt động du lịch tại lòng hồ thuỷ điện Hoà
Bình để từ đó đưa ra những cảm nhận, ý kiến cá nhân về đối tượng nghiên
cứu. Phương pháp này được thực hiện tại một số điểm du lịch trên lòng hồ
như mùa lễ hội ở hai đền Thác Bờ, hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống, lưu
trú, vui chơi, giải trí tại đảo Xanh, đảo Dừa, đảo Cối Xay Gió; hoạt động vận
chuyển tàu thuyền du lịch ở bến cảng Thung Nai, cảng Bích Hạ, Bình Thanh
và cảng vận chuyển hàng hoá Ba Cấp; hoạt động hướng dẫn của hướng dẫn
viên du lịch; hoạt động du lịch tại bản Giang Mỗ, bảo tàng Không gian văn
hoá Mường, quần thể công trình nhà máy thuỷ điện Hoà Bình…
Phương pháp bảng hỏi
Phương pháp bảng hỏi nhằm thu thập số liệu sơ cấp, đáp ứng cụ thể
những yêu cầu của hoạt động điều tra. Bảng hỏi được thiết kế dành cho khách
du lịch (đang có mặt tại các điểm du lịch tại khu vực lòng hồ thuỷ điện Hoà
Bình) nhằm nghiên cứu nhu cầu về du lịch và những đánh giá chủ quan của
khách du lịch về hoạt động du lịch tại lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình.
6. Những đóng góp cơ bản của luận văn
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động du lịch
tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình.
- Khái quát hiện trạng hoạt động du lịch, từ đó đề xuất định hướng khai
thác và một số giải pháp phát triển hoạt động du lịch tại lòng hồ thủy điện
Hòa Bình.

9


- Xây dựng một số tuyến du lịch gắn kết điểm du lịch lòng hồ với các

góp phần nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hoá dân
tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân
tộc, đồng thời du lịch cũng góp phần làm nâng cao tình hữu nghị quốc tế giữa
các dân tộc trên thế giới.
Những người đứng trên góc độ mục đích chuyến đi thì hiểu du lịch đơn
giản rằng du lịch là một kỳ nghỉ hoặc một chuyến đi tham quan tích cực của
con người ngoài nơi cư trú để nghỉ ngơi, giải trí, làm phong phú thêm nhận
thức về danh lam thắng cảnh, di tích lich sử - văn hoá, nghệ thuật… Hoặc ở
mức độ rộng hơn, du lịch còn là những chuyến đi tìm kiếm cơ hội kinh doanh,
tìm cơ hội hợp tác ở trong và ngoài nước.
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO xác định rõ:
“Du lịch là hành động rời khỏi nơi cư trú để đi đến một nơi khác, một môi
11


trường khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui
chơi, giải trí, nghỉ dưỡng”.
Ở Việt Nam khái niệm du lịch được định nghĩa chính thức trong luật
Du lịch (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham
quan, tìm hiều, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Như vậy, du lịch là một hoạt động liên quan đến chuyến đi của con
người từ nơi này tới nơi khác nhằm mục đích tham quan học hỏi để trau dồi
kiến thức, nghỉ ngơi, giải trí…trong một khoảng thời gian nhất định. Tham
gia vào hoạt động du lịch bao gồm nhiều thành phần kinh tế xã hội khác nhau
(khách du lịch, đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch, người dân địa phương)
cùng nhằm thực hiện những mục đích riêng.
1.1.2. Tài nguyên du lịch
Theo Luật du lịch Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên
nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo

tạo nên giá trị của điểm đến. Các điểm đến càng chứa nhiều tài nguyên du lịch
đặc sắc thì càng có sức thu hút khách du lịch, thúc đẩy hoạt động du lịch tại
khu vực. Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải
kể đến tài nguyên du lịch. Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách du lịch, các
sản phẩm du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn, kém hấp dẫn mà phải phong
phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ.
1.1.3. Các loại hình du lịch
Du lịch là hoạt động phong phú và đa dạng trong những điều kiện môi
trường tự nhiên và xã hội khác nhau. Tuỳ theo các góc độ khác nhau, du lịch
được phân chia theo các loại hình chủ yếu sau:
- Phân loại theo môi trường tài nguyên: Bao gồm hai nhóm lớn là du
lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên.
+ Du lịch văn hoá: Là những hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong
môi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác các tài
nguyên du lịch nhân văn.[20 tr 63 ]

14


+ Du lịch thiên nhiên là loại hình hoạt động du lịch đưa du khách
về những nơi có điều kiện, môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự
nhiên hấp dẫn…nhằm thoả mãn nhu cầu đặc trưng của họ[20 tr 63]
-Phân loại theo mục đích chuyến đi
+ Du lịch tham quan: Là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết của
con người về thế giới xung quanh.
+ Du lịch giải trí: Loại hình này nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải
trí đơn thuần của con người.
+ Du lịch nghỉ dưỡng: Là loại hình du lịch thoả mãn nhu cầu tăng
cường sức khoẻ của khách du lịch.
+ Du lịch khám phá: Loại hình du lịch này nhằm mục đích khám phá

động vui chơi giải trí tại những bãi biển đẹp, hấp dẫn như: bơi lội, lướt ván,
tắm nắng, du thuyền…
+ Du lịch nghỉ núi: Khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng tại những
vùng đồi núi có khí hậu mát mẻ, trong lành, có địa hình cảnh quan hấp dẫn,
độc đáo và được tham gia các hoạt động như leo núi, săn bắn…
-Dựa theo lãnh thổ hoạt động
+ Du lịch trong nước: Là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu du
khách ở trong nước đi tham quan, nghỉ dưỡng tại các điểm du lịch ở trong
nước, chi phí bằng tiền nội tệ.
+ Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch, mà trong quá trình thực hiện có
sự giao tiếp với người nước ngoài, một trong hai phía hoặc là du khách hoặc
là nhà cung ứng dịch vụ du lịch, phải sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp. Về
mặt kinh tế, phải có sự thanh toán bằng ngoại tệ. Du lịch quốc tế được chia
thành hai loại: Du lịch quốc tế chủ động (du lịch đón khách quốc tế đến tham
quan, du lịch ở đất nước của cơ quan cung ứng dịch vụ du lịch, nghĩa là nước
này chủ động đón khách và thu ngoại tệ); Du lịch quốc tế bị động (du lịch gửi

16


khách từ trong nước đi tham quan du lịch ở nước ngoài, nghĩa là nước này gửi
khách đi du lịch sang nước khác và phải chi ngoại tệ)
-Dựa theo thời gian của cuộc hành trình
+ Du lịch ngắn ngày: Loại hình du lịch này thường kéo dài từ 1 – 6
ngày, thường tập trung vào những ngày cuối tuần. Loại hình du lịch này thích
hợp với đối tượng khách có ít thời gian, khách đi theo gia đình hoặc đi nghỉ
vào hai ngày nghỉ cuối tuần.
+ Du lịch dài ngày: Loại hình du lịch này thường gắn với những
chuyến du lịch kéo dài từ vài tuần đến một năm ở các địa điểm cách xa nơi ở
của khách, kể cả trong nước và nước ngoài.

các hoạt động và xây dựng các công trình du lịch được thể hiện ở: mức độ
thuận lợi của địa hình đối với giao thông đến địa bàn du lịch; diện tích mặt
bằng xây dựng các công trình tại điểm du lịch[26 tr 38].
Địa hình là thành phần chủ yếu của tự nhiên tạo nên phong cảnh đẹp ở
mỗi kiểu địa hình khác nhau như: kiểu địa hình karst, địa hình đồi núi, địa
hình đồng bằng, địa hình ven bờ các kho chứa nước lớn (đại dương, biển,
sông, hồ). Đặc điểm của mỗi kiểu địa hình là yếu tố cần thiết để triển khai các
loại hình du lịch đặc biệt.
Tuy nhiên, địa hình còn là tác nhân gây nên những hệ quả thời tiết –
khí hậu liên quan đến hoạt động du lịch. Nó có thể tạo ra những khu vực có
khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch hoặc cũng có thể tạo nên những mặt
hạn chế khó khắc phục[26 tr 42]
Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiện có tác động
tới hoạt động du lịch. Các tiêu chí của khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng
mưa, thành phần lý hoá, vi sinh của không khí, áp suất khí quyển, ánh nắng
mặt trời đều có sự tác động đến sức khoẻ của con người. Nhìn chung những
nơi có khí hậu ôn hoà thường được khách du lịch lựa chọn. Họ thường tránh
những nơi có khí hậu quá khô nóng, quá lạnh, quá ẩm. Tính chất khí hậu của

18


mỗi vùng miền thường ảnh hưởng đến việc khai thác du lịch như: tính mùa vụ
du lịch; loại hình du lịch; sự ổn định, bền vững của các thành phần tự nhiên
khác cũng như các công trình nhân tạo và điều kiện thời tiết để thực hiện các
chuyến đi.
Tài nguyên nước bao gồm nước trên bề mặt (biển, sông, hồ, suối) và
nước ngầm. Nguồn tài nguyên nước là điều kiện để hình thành các loại hình
du lịch sông nước (du lịch biển, du lịch lòng hồ, du lịch nghỉ dưỡng chữa
bệnh) và là điều kiện vật chất không thể thiếu trong phục vụ hoạt động du lịch

dân cư và lao động, sự phát triển của các ngành kinh tế, ổn định xã hội, và
nhu cầu tiêu dùng du lịch.
Dân cư và lao động: Là yếu tố quan trọng có tác dụng thúc đẩy sự phát
triển các hoạt động du lịch. Những hiện tượng gia tăng dân số, gia tăng mật
độ dân số, các vấn đề về đô thị hoá, toàn cầu hoá, chất lượng cuộc sống được
nâng cao…sẽ tác động đến hoạt động du lịch. Một mặt, sẽ cung cấp nguồn
nhân lực lớn phục vụ cho các hoạt động kinh doanh du lịch, mặt khác nhu cầu
tiêu dùng du lịch (nghỉ ngơi, vui chơi giải trí…) tăng nhanh, tạo nên thị
trường du lịch sôi động.
Sự phát triển của các ngành kinh tế: Các ngành kinh tế phát triển
mạnh sẽ làm cho nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định tạo nên thế và lực
cho tầm vóc mỗi quốc gia. Các ngành kinh tế luôn có mối quan hệ tác động
qua lại lẫn nhau, không có ngành kinh tế nào tồn tại một cách độc lập. Ngành
kinh tế du lịch là ngành dịch vụ nên bị chi phối bởi các ngành kinh tế khác
nhất là ngành công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải. Đó là những
ngành đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất cho khách du lịch về ăn, ở, đi lại,
mua sắm…
Sự ổn định của xã hội : sự ổn định xã hội có ảnh hưởng hoặc tích cực
hoặc tiêu cực đến sự vận động và phát triển du lịch của mỗi quốc gia và cả thế
giới. Xã hội hoà bình, ổn định sẽ thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động du

20


lịch. Đồng thời, hoạt động du lịch phát triển cũng có tác động trở lại đến nền
hoà bình thế giới. Các dân tộc có cơ hội giao lưu, học hỏi để hiểu biết nhau
hơn, có cái nhìn khoan dung hơn giữa các nền văn hoá trên thế giới. Ngược
lại, nếu tình hình xã hội mất ổn định, hiện tượng xung đột văn hoá, xung đột
sắc tộc, các cuộc chiến tranh bùng nổ phá huỷ các công trình văn hoá, văn
minh của nhân loại, phá hoại môi trường thiên nhiên, đe doạ đến sự an toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status