Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở huyện mai châu tỉnh hoà bình - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRIỆU THỊ QUÝ

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HUYỆN MAI CHÂU - TỈNH HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRIỆU THỊ QUÝ

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HUYỆN MAI CHÂU - TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Địa lí kinh tế - xã hội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Tòng Quỳnh Hƣơng

SƠN LA, NĂM 2015


LỜI CẢM ƠN
Khóa luận hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Tòng Quỳnh

1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................... 7
1.1.1. Du lịch và định nghĩa về du lịch ................................................................. 7
1.1.2. Vai trò của du lịch ....................................................................................... 8
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của ngành du lịch.. 10
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 12
1.2.1. Tình hình phát triển du lịch ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc ........ 12
1.2.2. Tình hình phát triển du lịch ở tỉnh Hòa Bình …………………………... 13
CHƢƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN MAI CHÂU,
TỈNH HÒA BÌNH ............................................................................................. 15
2.1. Vị trí địa lí .................................................................................................... 15
2.2. Tiềm năng cho phát triển du lịch ................................................................. 15
2.2.1. Tài nguyên du lịch ..................................................................................... 15
2.2.2. Các điều kiện kinh tế - xã hội khác ........................................................... 28
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH ....................................................... 31
3.1. Thực trạng phát triển du lịch ở huyện Mai Châu giai đoạn 2000- 2014 ............ 31
3.1.1. Khách du lịch ............................................................................................ 31
3.1.2. Doanh thu du lịch ...................................................................................... 33


Mai Châu giai đoạn 2000 - 2014 ......................................................................... 34
3.1.3. Lao động trong ngành du lịch ................................................................... 35
3.1.4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật ................................................... 36
3.1.5. Đánh giá chung ......................................................................................... 37
3.2. Giải pháp phát triển du lịch ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình .................. 38
3.2.1. Cơ sở xây dựng giải pháp.......................................................................... 38
3.2.2. Các giải pháp phát triển du lịch ở huyện Mai Châu theo hướng bền vững..... 42
KẾT LUẬN........................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


NTM

Nông thôn mới


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

BẢNG

TÊN BẢNG

1

Bảng 2.1

Mật độ dân số huyện Mai Châu qua các năm

19

2

Bảng 3.1

Hiện trạng khách du lịch Mai Châu giai đoạn

32


chỉ phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX
cho đến nay. Thấy rõ vai trò quan trọng của ngành du lịch, Đảng và Nhà nước
luôn quan tâm đến việc phát triển ngành du lịch. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đã nêu: “Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động
du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm đưa
ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”… Hiện nay, du lịch đã và đang
trở thành ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao. Theo Tổng cục Du lịch, số khách
quốc tế đến Việt Nam trong năm 2012 đạt hơn 6,8 triệu lượt, vượt kế hoạch 0,3
triệu lượt và tăng gần 14% so với năm 2011. Khách du lịch nội địa đạt 32,5 triệu
lượt, tăng hơn 8,3% so với năm 2011. Nhờ vậy, tổng thu từ hoạt động du lịch
năm 2012 đạt 160.000 tỷ đồng, tăng trên 23% so với năm trước.
Cùng với cả nước thì Hòa Bình là một trong những tỉnh có hoạt động du
lịch diễn ra mạnh mẽ, trong đó đặc biệt phải kể đến Mai Châu. Huyện Mai Châu
nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hòa Bình, được núi non bao bọc, là mảnh đất hội
tụ, giao lưu của nhiều dân tộc anh em sinh sống. Mỗi dân tộc có bản sắc, phong
tục tập quán riêng góp phần tạo nên sự đa dạng phong phú cho nền văn hóa Việt
Nam. Với những đặc thù về địa lý và truyền thống văn hóa sẵn có, nhân dân
huyện Mai Châu đã và đang phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời
thúc đẩy tiềm năng du lịch nhằm giới thiệu tới bạn bè bốn phương những nét
tinh túy nơi đây.
Trong những năm qua, nhất từ năm 2000 đến nay, du lịch Mai Châu đã có
bước phát triển khá nhanh, đang dần trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp
1


phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, cải
thiện đời sống nhân dân, mở rộng các mối quan hệ, hợp tác của huyện, làm thay
đổi hình ảnh Mai Châu trong nhận thức của bạn bè trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và
lợi thế của huyện, hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch còn thấp, chất lượng

3. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
3.1. Trên thế giới
Du lịch xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, buổi ban đầu thường đi
kèm với hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm các vùng đất mới.
Những nghiên cứu đầu tiên của các nhà địa lí du lịch được tiến hành ở Đức từ
năm 1930 và được Poser (1939), Christal (1955)… phát hiện về loại hình du
lịch, khảo sát về vai trò lãnh thổ, những nhân tố ảnh hưởng đến du lịch.
Ở Liên Xô có nhiều công trình nghiên cứu, như công trình của Pirozhihic
(1985) đã phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch như là đối tượng
cho quy hoạch và quản lí. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu về các thể
tổng hợp tự nhiên phục vụ cho giải trí (Mukhina, 1973), nghiên cứu sức chứa và
sự ổn định của các địa điểm du lịch (Kadaxkia, 1972), (Sepfer, 1973). Các nhà
địa lí cảnh quan học của trường Đại học Tổng hợp Matxcova như E.D
Ximirnova, V.B Nhefedova…
Trong những năm gần đây, khi lợi ích của ngành kinh tế du lịch càng rõ rệt
và những tác động của ngành này đối với những vấn đề có tính toàn cầu thì việc
nghiên cứu du lịch gắn với việc phát triển vùng lại càng cần thiết. Ở Pháp, Jean
Prerre Jean – Lozoto (1990) nghiên cứu các tụ điểm du lịch và dòng du lịch, sau
đó phân tích các kiểu dạng không gian du lịch. Các nhà địa lí Anh, Mỹ gắn công
việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch với những dự án du lịch trên một miền hoặc
một vùng cụ thể. Ngày nay, du lịch thế giới phát triển có nhiều công trình
nghiên cứu về du lịch như du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Các nghiên cứu
này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tổ chức du lịch của các quốc gia trên thế giới.
3.2. Ở Việt Nam
Hiện nay, khi du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã và đang đem
lại nhiều lợi ích cho đất nước thì việc nghiên cứu địa lí du lịch ngày càng được
chú trọng. Về phương diện địa lí du lịch có một số công trình nghiên cứu của
các tác giả như: Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi,
3


4


4.2. Phương pháp thực địa
Địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng luôn gắn bó mật thiết với tự nhiên và
xã hội. Phương pháp nghiên cứu thực địa giúp chúng ta tiếp cận vấn đề một cánh
nhanh chóng và chủ động. Việc điều tra thực tiễn ở các điểm du lịch giúp ta có
những số liệu, những nhận xét thực tế, tránh được sự đánh giá chủ quan, mơ hồ, làm
tăng tính thực tế, tạo khả năng vận dụng các kết quả đã nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát một số điểm du
lịch của huyện Mai Châu. Những kết quả trong quá trình khảo sát là những cơ sở
cần thiết để đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn.
4.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Ngoài các thông tin, tư liệu thu thập được trong sách, báo, Internet thì việc
lấy ý kiến chuyên gia và các cán bộ thuộc lĩnh vực nghiên cứu cũng rất quan
trọng, góp phần củng cố được những thông tin thiếu sót. Từ đó, giúp tác giả
nhận định chính xác về vấn đề mình đang nghiên cứu.
Tác giả đã gặp gỡ một số cán bộ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch của tỉnh
Hoà Bình, phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch huyện Mai Châu, gặp gỡ, tiếp
xúc một số cán bộ quản lý các điểm du lịch và một số bà con nhân dân địa
phương ở các điểm du lịch để tìm hiểu về việc quản lý, khai thác các điểm du
lịch. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn.
4.4. Phương pháp dự báo
Công tác dự báo dựa trên việc tính toán của tác giả trên những cơ sở thực tiễn
và tiềm năng của từng điểm, từng cụm du lịch, có tham khảo chiến lược phát triển
kinh tế của huyện, phương hướng, nhiệm vụ phát triển ngành du lịch của sở Văn hóa
- Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, Phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch huyện
Mai Châu để dự báo một số chỉ tiêu về khu du lịch, điểm du lịch.
5. Những đóng góp của khóa luận
- Điều tra khảo sát và bước đầu đánh giá được về tài nguyên du lịch của huyện

nghiệm và trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành
nghề và mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở
bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành có mục đích
chính là làm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi
trường khác hẳn nơi định cư”.
Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan
trọng mang nội dung kinh tế sâu sắc có tính liên ngành liên vùng và xã hội hóa
cao. Quan niệm này được thể chế thành luật. Luật du lịch được quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kì họp thứ 7 Quốc hội khóa
11: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến việc di chuyển của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [7].
Du lịch ngày càng phát triển và đa dạng về hình thức, trên thế giới những
năm gần đây xuất hiện nhiều loại hình du lịch: du lịch cộng đồng, du lịch văn
hóa, du lịch xanh…
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch của người dân địa phương, họ tham
gia làm du lịch cùng với một tổ chức kinh tế nào đó (có thể cả tổ chức kinh tế
7


nước ngoài) nhằm khai thác những lợi thế (cả tự nhiên và kinh tế xã hội) để tăng
thu nhập và giải quyết việc làm, cải thiện đời sống ở địa phương, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và gìn giữ bản sắc văn hóa của địa phương.
Hội thảo phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng có quan điểm thống
nhất: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát
triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự
tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức hiểu biết các đối tượng văn

lịch còn là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu ích về các thành tựu kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội, giới thiệu về con người, phong tục tập quán của các
quốc gia.
Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường sống có ấn tượng
và cảm xúc mới, thỏa mãn trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng
ham hiểu biết. Điều đó góp phần hình thành nên những mơ ước lãng mạn, nhân
văn cho tương lai của khách du lịch.
Du lịch còn giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn nâng cao truyền thống dân tộc
thông qua các chuyến tham quan, nghỉ mát… Khách tham quan có điều kiện làm
quen với cảnh đẹp, lịch sử, văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình.
Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn
hóa dân tộc, thúc đẩy sự phát triển môi trường thiên nhiên xã hội.
Du lịch là nhân tố kích thích việc bảo vệ và khôi phục tài nguyên xung
quanh. Việc tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận trực tiếp sự hùng vĩ
trong lành và nên thơ của cảnh quan có ý nghĩa quan trọng đối với du khách, tạo
cho họ có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên
đối với cuộc sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích
cực giáo dục môi trường.
Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình
thành các kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia. Từ đó
hàng loạt các công viên quốc gia được thành lập vừa để bảo vệ các cảnh quan
thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch.

9


Trong lĩnh vực du lịch, xã hội và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ. Một
mặt xã hội đảm bảo cho sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác phải
bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch
cũng như trong việc xây dựng cơ sở vật chất phục du lịch. Như vậy, giữa du lịch

hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ du lịch.
Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du
lịch là một trong những nhân tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và
phát triển du lịch của một địa phương.
Tài nguyên du lịch tạo nên các điểm, cụm, tuyến du lịch. Nếu không có tài
nguyên du lịch sẽ không có các điểm du lịch. Số lượng tài nguyên, chất lượng
du lịch ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một
quốc gia.
Vì vậy, số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ các
tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đến sự phát triển du lịch, sức
hấp dẫn của địa phương phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên du lịch của địa
phương đó.
- Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội
Những điều kiện kinh tế – xã hội có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
đến ngành du lịch:
Dân cư là lực lượng quan trọng của xã hội. Bên cạnh công việc lao động
vất vả hàng ngày, họ cũng cần được nghỉ ngơi du lịch. Dân số càng đông, lực lượng
tham gia vào các ngành sản xuất và dịch vụ ngày càng nhiều thì du lịch ngày càng
có điều kiện phát triển, hoạt động du lịch ngày càng nhiều và đa dạng hơn.
Điều kiện sống của người dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch.
Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt tới một trình độ
nhất định. Mức sống của con người tăng lên góp phần cho du lịch phát triển
rộng rãi.
Thời gian rỗi là nhân tố rất thuận lợi để phát triển du lịch dài ngày. Có thời
gian rỗi mới có nhiều hoạt động du lịch. Con người có thực hiện được các chuyến
du lịch của mình hay không là phụ thuộc vào thời gian rỗi.
Chính trị ổn định là điều kiện quan trọng để thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển
du lịch trong nước và quốc tế. Du lịch chỉ tồn tại trong điều kiện hòa bình, hữu nghị
giữa các dân tộc. Hòa bình là điều kiện, là đòn bẩy thúc đẩy du lịch phát triển.
11

Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Giang) đạt
12


14.394.100 lượt (trong đó có 988.043 lượt khách quốc tế và 13.406.057 lượt
khách nội địa), tăng 18,2% so với năm 2013; tổng thu từ khách du lịch đạt 7.825
tỷ đồng, tăng 22,5% so với năm 2013.
Hiện nay, các doanh nghiệp đã đặc biệt quan tâm những vấn đề thiết thực
để có thể thu hút du khách trong nước và quốc tế như: vấn đề giao thông đi lại;
cung ứng sản phẩm du lịch chất lượng cao để du khách ngày càng yêu mến và
quay lại Tây Bắc; phát triển du lịch theo hướng bền vững hài hòa với môi trường
và đảm bảo phục vụ khách nhu cầu cao cấp… xây dựng bộ chương trình sản
phẩm đặc thù của từng địa phương để du khách lựa chọn; xây dựng lộ trình
quảng cáo nhất định, tận dụng mạng xã hội trong công tác tuyên truyền quảng
bá…
1.2.2. Tình hình phát triển du lịch ở tỉnh Hòa Bình
Địa hình đồi núi trùng điệp với các động Thác Bờ, Hang Rết, động Hoa
Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo
hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối. Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa
Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ
và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được
bảo tồn. Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao, bản Tày rải rác ven hồ, ven
thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Nói đến tài nguyên thiên nhiên
của Hòa Bình không thể quên nhắc đến những bãi tắm đẹp bên hồ sông Ðà và
suối nước khoáng Kim Bôi đích thực là chén thuốc vàng phục hồi sức khoẻ cho
du khách.
Hòa Bình là một tỉnh có khá nhiều những suối nước khoáng nóng, những
thung lũng hoang sơ huyền bí. Tiêu biểu nổi bật như:
Suối nước khoáng Kim Bôi với nguồn nước phun lên luôn ở nhiệt độ 36ºC,
đủ tiêu chuẩn dùng làm nước uống, để tắm, ngâm mình chữa các bệnh viêm

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN MAI CHÂU,
TỈNH HÒA BÌNH
2.1. Vị trí địa lí
Mai Châu là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hoà Bình, có
toạ độ địa lý 20o24’ - 20o45’ vĩ bắc và 104o31’ - 105o16’ kinh đông; phía Đông
giáp huyện Đà Bắc và huyện Tân Lạc, phía Tây và phía Nam giáp huyện Quan
Hóa của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Vân Hồ (của tỉnh Sơn La). Theo
số liệu thống kê năm 2014, huyện Mai Châu có tổng diện tích tự nhiên là 564,54
km²; dân số trung bình là 53.944 người.
Huyện Mai Châu có 1 thị trấn huyện lỵ (Mai Châu) và 22 xã: Cun Pheo,
Bao La, Piềng Vế, Xăm Khòe, Mai Hịch, Vạn Mai, Mai Hạ, Chiềng Châu, Nà
Phòn, Nà Mèo, Tòng Đậu, Đồng Bảng, Phúc Sạn, Tân Sơn, Tân Mai, Phúc Sạn,
Ba Khan, Pù Bin, Nong Luông, Thung Khe, Hang Kia, Pà Cò, Tân Dân.
Mai Châu có vị trí chiến lược để phát triển du lịch, nằm ở cửa ngõ Tây Bắc
với giao thông thuận tiện, đặc biệt nằm trên tuyến đường quốc lộ 6 và quốc lộ 15
là vị trí thuận lợi để du khách dừng chân trên tuyến đường du lịch vùng Tây
Bắc, giúp cho huyện Mai Châu có điều kiện giao lưu kinh tế với các tỉnh và
huyện lân cận.
Với những lợi thế về vị trí địa lý như vậy, Mai Châu có điều kiện phát triển
các ngành kinh tế nhất là thương mại, du lịch. Vấn đề đặt ra là phải khai thác có
hiệu quả những lợi thế nói trên, biến những tiềm năng thành hiện thực.
2.2. Tiềm năng cho phát triển du lịch
2.2.1. Tài nguyên du lịch
2.2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
a) Địa hình
Địa hình Mai Châu khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe, suối
và núi cao. Theo đặc điểm địa hình, có thể chia thành hai vùng rõ rệt.
Vùng thấp phân bố dọc theo suối Xia, suối Mùn và quốc lộ 15, có diện tích
gần 2.000 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ. Phần địa hình
15

việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động trong du lịch.

16


Ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc, khí hậu của vùng Mai Châu chịu ảnh
hưởng rõ rệt của chế độ gió mùa Tây Bắc, mang sắc thái riêng của khí hậu nhiệt
đới núi cao, bức xạ của vùng tương đối thấp, số giờ nóng trong ngày vào mùa hè
là 5 - 6 giờ, mùa đông là 3 - 4 giờ. Độ ẩm trung bình năm đạt 82%. Khí hậu Mai
Châu một năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10,
lượng mưa tập trung nhiều nhất từ tháng 7 đến tháng 9, bình quân có 122 ngày
mưa/năm, cao nhất là 146 ngày, chịu ảnh hưởng nhiều của bão lốc và gió Lào.
Trong mùa mưa có gió Nam luôn bổ sung độ ẩm và hơi nước, cường độ gió
tương đối mạnh. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau
với khí hậu khô hanh, độ ẩm xuống thấp, có ngày có sương muối, sương mù và
mưa phùn giá rét. Biến động nhiệt độ trong ngày cao. Hướng gió thịnh hành là
gió mùa Đông Bắc.
Nhìn chung khí hậu Mai Châu khá thuận lợi để phát triển du lịch như khí
hậu mát mẻ, có hai mùa chính là mùa hạ và mùa đông có thể phát triển du lịch
theo mùa để khai thác triệt để tài nguyên du lịch tự nhiên nơi đây. Mùa hạ có thể
phát triển du lịch nghỉ mát, du lịch cộng đồng, về mùa đông phát triển du lịch
vãn cảnh ở khu vực Hang Kia - Pà Cò nối liền với du lịch vùng Tây Bắc (Mộc
Châu - Sơn La) với sắc hoa đào rực rỡ giữa tiết trời se lạnh kết hợp với nét đặc
sắc của đồng bào vùng cao tạo nên sức lôi cuốn đặc biệt đối với khách du lịch.
c) Tài nguyên du lịch tự nhiên khác
Nguồn nước:
Mai Châu có hệ thống sông, suối khá dày đặc, là nguồn cung cấp nước
phong phú phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Ngoài hai con sông lớn
chảy qua là sông Đà và sông Mã, ở Mai Châu còn có 4 con suối lớn là suối Xia
dài 40 km, suối Mùn dài 25 km, suối Bãi Sang dài 10 km và suối Gò Lào dài 14

Lương (Vạn Mai), Đồng Bảng (Đồng Bảng)... Những khu dân cư này phân bố
chủ yếu dọc theo quốc lộ 15 và là những hạt nhân làm chuyển biến tích cực cho
kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện Mai Châu.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status