Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời
sống văn hóa - xã hội. Du lịch (DL) được xem là một trong những ngành kinh tế quan
trọng hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà nó đem lại. Do đó, có
nhiều quốc gia đã coi phát triển du lịch là một chiến lược quan trọng để phát triển đất
nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam. Với những tiềm
năng, lợi thế về mặt địa lý, về tài nguyên thiên nhiên và Khu kinh tế Chân Mây - Lăng
Cô đang đầu tư phát triển; Phú Lộc sẽ có điều kiện khai thác những lợi thế để phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng tương xứng với vùng kinh tế động
lực, bộ mặt phía Nam của Thừa Thiên Huế.
Những năm qua, ngành DL đã có nhiều đóng góp trong phát triển kinh tế của
huyện PL. Ngành DL tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp khách sạn, nhà hàng, gắn
với tổ chức hoạt động lễ hội, Lăng Cô - huyền thoại biển, Lăng Cô - vịnh đẹp thế giới,
tạo ra những sản phẩm du lịch mới có chất lượng. Bên cạnh đó, ngành DL ở PL đóng
góp tích cực trong việc tạo ra việc làm và giảm nghèo trên địa bàn. Sự đầu tư cho du
lịch đã thực sự góp phần làm cho bộ mặt đô thị TTH ngày càng khang trang. Phú Lộc
là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, là điểm nối 2 trung tâm đô thị lớn
nhất miền Trung là Huế và Đà Nẵng. Dân cư sống tập trung dọc theo tuyến quốc lộ
1A, đường sắt và vùng ven biển đầm phá. Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên gần
73.000ha, trong đó đất rừng có hơn 34.000 ha. Vườn Quốc gia Bạch Mã là một điểm
nhấn trong hệ sinh thái rừng nguyên sinh còn lại trong dãy Trường Sơn hùng vĩ; mặt
nước đầm phá Cầu Hai - Lăng Cô hơn 12.000ha. Có bờ biển dài hơn 60 km với những
bãi biển nổi tiếng như: Hàm Rồng, Cảnh Dương, Lăng Cô, Bãi Chuối và vùng đảo Sơn
Chà (đảo Ngọc). Với vị trí địa lý khá đặc biệt, Phú Lộc là nơi hội tụ của nhiều tiềm
năng phong phú, đa dạng để phát triển sản xuất và mở rộng giao thương với các địa
phương các vùng trong tỉnh và khu vực. Tuy vậy, những khó khăn trước mắt cũng rất
lớn: sức hấp dẫn du lịch của huyện PL chưa được quảng bá, xúc tiến phù hợp, số
lượng điểm đến nhiều nhưng chất lượng điểm đến chưa được đầu tư cao; sản phẩm du
lịch - dịch vụ còn thấp
văn như sau:
Huỳnh Thị Anh Đào (2005), Đánh giá tác động kinh tế của Festival Thừa Thiên
Huế 2004 đối với khách sạn nhà hàng tại thành phố Huế, luận văn thạc sĩ, trường Đại
học Kinh tế - Đại học Huế.
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
Trần Tư Lực (2005), Những giải pháp cơ bản phát triển ngành du lịch tỉnh Hà
Tĩnh, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế.
Trương Thị Minh Thảo (2005), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Đà nẵng, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại
học Kinh tế - Đại học Huế.
Nguyễn Thanh Hiền (2006), Du lịch nội địa - tiềm năng và thế mạnh của du
lịch Thừa Thiên Huế, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế.
Đặng Ngọc Hiệp (2008), Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
trong phát triển du lịch ở thành phố Huế, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế -
Đại học Huế.
Trần Hoài Anh (2009), Phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở tỉnh
Thừa Thiên Huế, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế.
Tuy đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch, song nghiên cứu
một cách có hệ thống, toàn diện dưới góc độ đánh giá tình hình phát triển của DL đến
phát triển kinh tế trên địa bàn thì gần như là chưa có công trình nào.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài này
3.1. Mục tiêu
Đề tài được nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình phát triển du lịch của huyện
Phú lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó đưa ra những giải pháp để phát triển ngành DL
thúc đẩy phát triển kinh tế ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Nhiệm vụ
Làm rõ cơ sở lý luận về DL và phát triển DL phục vụ cho phát triển kinh tế xã
hội.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và phát triển du lịch.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế ở huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Giải pháp phát triển ngành du lịch nhằm phát triển kinh tế ở huyện
Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Du lịch và phát triển du lịch
1.1.1. Du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch
Du lịch là hoạt động của con người, đã hình thành từ khi con người xuất hiện
trên trái đất. Thủa xa xưa khi điều kiện kinh tế kỹ thuật còn ở trình độ thấp kém và lạc
hậu cũng đã xuất hiện nhiều chuyển giao du dưới nhiều hình thức khác nhau của một
số người trong xã hội. Với thực tế đó DL mang tính tự nhiên, vì nó đáp ứng được nhu
cầu của con người. Xã hội loài người càng phát triển, nhu cầu tự nhiên của con người
cũng tăng. Trước thế kỷ XIX DL chỉ là hiện tượng đơn lẽ của một số ít người thuộc
tầng lớp giàu có, và người ta xem DL là một hiện tượng nhân văn. Sau đại chiến thế
giới lần thứ 2, khi dòng người đi DL ngày càng tăng thì việc giải quyết nhu cầu về nơi
ăn, chốn ở, đi lại… cho du khách đã trở thành cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
Du lịch không chỉ là hiện tượng nhân văn mà còn là một hoạt động kinh tế. Vì vậy
người ta cho rằng, du lịch là toàn bộ những hoạt động công việc phối hợp kết hợp
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Giáo sư Edmod Pieasa cho rằng: “ Du lịch
là tập hợp các tổ chức và các chức năng của nó, không chỉ về phương diện khách vãng
lai mà cái chính là phương diện về giá trị mà khách du lịch mang lại”.[14,10]
Với một cách tiếp cận mang tính du lịch bền vững thì “Du lịch là quan hệ tương
hỗ do sự tuơng tác của bốn nhóm: Du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền
bệnh,…trong một thời gian nhất định, có thể một hoặc nhiều ngày có chi tiêu chứ
không vì lý do nghề nghiệp và kiếm sống ở nơi đến.
Theo khoản 2 điều 4 Luật du lịch “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết
hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi
đến” [4,20].
Khách du lịch được phân chia thành hai nhóm cơ bản sau:
Khách du lịch quốc tế: Năm 1989, trong Bản tuyên bố Lahaye về du lịch của
Hội nghị Liên minh Quốc hội về du lịch được tổ chức ở Lahaye - Hà Lan, khách du
lịch quốc tế được định nghĩa như sau: “Khách du lịch quốc tế là những người trên
đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ cư trú thường xuyên; mục
đích của chuyến đi tham quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi không quá thời gian 3
tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn; không được làm bất cứ việc gì để
được trả thù lao tại nước đến dù do ý muốn của khách hay yêu cầu của nước sở tại; sau
khi kết thúc đợt tham quan (hay lưu trú) phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước
nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác” [10, 13-14].
Theo quy định của Tổng cục du lịch Việt Nam: “Khách du lịch quốc tế là người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam không quá 12 tháng
với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè, kinh
doanh… trên lãnh thổ Việt Nam” [5,13 - 14].
Khách du lịch nội địa: Với nội dung này, thường được xác định không giống
nhau đối với các nước khác nhau.
Mỹ: “Khách du lịch nội địa là những người đi đến một nơi cách nơi ở thường
xuyên của họ ít nhất 50 dặm với những mục đích khác nhau ngoài việc đi làm hàng
ngày” [10].
Pháp: “Du khách nội địa là những người rời khỏi cư trú của mình tối thiểu là 24
giờ và nhiều nhất là 4 tháng với một hoặc một số mục đích sau: giải trí (nghỉ hè, nghỉ
phép, nghỉ cuối tuần); sức khỏe (chữa bệnh, phục hồi sức khỏe bằng nước khoán, nước
biển,…); công tác và hội họp dưới mọi hình thức (Hội nghị, Hội thảo, hành hương, thể
thao, công vụ,…)” [10].
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
Phân loại theo quốc tịch của khách: DL có thể chia ra: DL nội địa và DL
quốc tế. Trong DL quốc tế, người ta lại phân thành hai nhóm: DL quốc tế chủ động và
DL quốc tế thụ động.
Du lịch quốc tế: là hình thức DL mà ở đó, điểm xuất phát và điểm đến của
khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.
Du lịch nội địa: là hình thức đi DL mà điểm xuất phát và điểm đến của khách
nằm ở lãnh thổ của một quốc gia.
Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động DL: Theo tiêu thức này DL
được phân thành những loại hình sau:
Du lịch chữa bệnh: ở loại hình này, khách đi DL do nhu cầu điều trị các bệnh
tật về thể xác và tinh thần của họ. Có những hình thức chữa bệnh như sau: chữa bệnh
bằng khí hậu, chữa bệnh bằng nước khoáng, chữa bệnh bằng bùn, chữa bệnh bằng hoa
quả…
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: đây là loại hình DL có tác dụng giải trí và giải thoát
con người ra khỏi công việc hằng ngày.
Du lịch thể thao
Du lịch thể thao chủ động: Khách đi DL để tham gia trực tiếp vào các hoạt
động thể thao. Du lịch thể thao chủ động bao gồm: DL leo núi, DL săn bắn, DL câu cá.
Du lịch thể thao thụ động: Những cuộc hành trình đi DL để xem các cuộc thi
thể thao quốc tế, các thể vận hội Olympic…
Du lịch văn hóa
Mục đích chính nhằm nâng cao hiểu biết của cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch
sử, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập
quán của đất nước DL.
Du lịch công vụ
Mục đích chính của loại hình DL này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác
hoặc nghề nghiệp nào đó, ví dụ như các cuộc triển lãm hàng hóa, hội chợ…
giáo dục, chất lượng cuộc sống, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Để phản ánh
đúng thật chất và khách quan về phát triển, ngoài các chỉ tiêu về kinh tế GNP (Gross
National Product), GDP (Gross Domestic Product), thu nhập bình quân đầu người cần
phải bổ sung các chỉ số khác như HDI ( Human Development Index), HFI (Human
Freedom Index) [11].
Phát triển du lịch, là việc đầu tư các yếu tố vật chất và con người để khai thác
loại hình du lịch dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc,
những phong tục tập quán, tín ngưỡng, tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, thông
qua đó để tạo sức hút đối với khách DL bản địa và khách DL từ khắp nơi trên thế giới,
tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy ngành DL nói riêng và nền kinh tế nói chung
phát triển, bảo tồn nguyên vẹn các tài nguyên thiên nhiên, giá trị văn hóa lịch sử [16].
1.1.2.2. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch
Để hình thành và phát triển ngành du lịch, cần có sự tham gia của nhiều ngành
kinh tế, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của xã hội. Có thể nêu những nhân tố cơ
bản ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của ngành du lịch:
Dân cư và lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội, trong
đó dân cư đóng góp một phần không nhỏ với chính quyền, ban ngành, doanh nghiệp
du lịch cho hoạt động kinh doanh du lịch vùng được phát triển. Cùng với hoạt động
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch. Như thế, dân cư là một trong
những nguồn lực phục vụ cho kinh doanh du lịch, đồng thời cũng là một tiềm năng
khách hàng của ngành du lịch.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: Nền sản xuất xã hội
phát triển càng cao phát sinh ra nhiều nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và du lịch.
Trong nền sản xuất xã hội nói chung, hoạt động của một số ngành như công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông… có ý nghĩa quan trọng để phát
triển du lịch. Hoạt động của các ngành liên quan này tạo lập nên cơ sở hạ tầng vững
chắc, thiết lập các mạng lưới giao thông, truyền thông thuận lợi… càng làm tăng độ an
nguyên nhân văn. Trong quá trình khai thác những tài nguyên DL không bị mất đi nếu
biết bảo tồn gìn giữ và cũng không gây ra ô nhiễm môi trường như sản xuất công
nghiệp và một số ngành kinh tế khác. Có lẽ đó là lý do DL được gọi là ngành công
nghiệp không khói.
Phát triển DL là sự phát triển dựa trên lợi thế so sánh. Tài nguyên DL của mỗi
quốc gia mang nét đặc trưng riêng của dân tộc đó, không thể bắt chước hay tạo ra
được. Nhưng giá trị tài nguyên thiên nhiên là do quá trình kiến tạo hàng nghìn năm
của trái đất còn giá trị tài nguyên nhân văn là do con người tạo ra từ đời này sang đời
khác. Chính do những ưu điểm này, DL được coi là cứu cánh của một số quốc gia, góp
phần vực đậy nền kinh tế yếu kém và què quặt của họ.
Đánh giá DL của một quốc gia trước hết là nhìn vào sự đóng góp của DL đến
tổng thu nhập quốc dân GDP. Tùy vào mỗi nước mà tỷ lệ nguồn thu từ DL với GDP là
khác nhau nhưng nhìn chung tỷ lệ này là cao và rất đáng kể. Ngày nay ở nhiều nước
công nghiệp, thu nhập từ DL thường chiếm 20% hoặc cao hơn trong tổng sản phẩm
quốc gia (GDP). Với một số quốc gia trong ASEAN như Phillippines tỷ lệ đóng góp
của DL vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước là 8 - 10%, với Malaysia là 12%,
Thái Lan là 16%, Singapore là 20%. Theo Hội đồng DL và Lữ hành Thế Giới năm
2012, giá trị đóng góp trực tiếp và GDP của ngành DL Việt Nam tăng 6,6% so với
năm 2011 và sẽ tăng bình quân 6,1% hàng năm tính đến năm 2022; tổng giá trị đóng
góp của toàn ngành (trực tiếp, gián tiếp và phát sinh) vào GDP tăng 5,3% năm 2012 và
sẽ tăng bình quân 6,0% tới năm 2022. Tốc độ tăng trưởng Việt Nam cả năm 2013 đạt
khoảng 6,56%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của năm 2012 (5,9%). Tổ chức DL thế giới
đánh giá Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng phục hồi nhanh nhất
sau khủng hoảng (2008, 2009).
1.1.3.2. Đẩy mạnh phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế hàng
hóa phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
DL phát triển góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, vì hoạt động
kinh doanh DL đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác phát triển.
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
11
động rất lớn, nâng cao mức sống của người dân. Đối với nhiều người, DL được nhìn
nhận như một nghề kinh doanh béo bỡ, dễ làm. Vì vậy, xu hướng chuyển đổi hay
chuyển hướng sang kinh doanh du lịch là một động cơ tốt để mọi người trau dồi, bổ
sung các kiến thức cần thiết như ngoại ngữ, giao tiếp, lịch sử.
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
1.1.3.4. Góp phần tạo vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mặc dù ra đời sau các ngành kinh tế khác nhưng DL đã sớm khẳng định được
vai trò và vị trí của mình trong quá trình kinh tế - xã hội. Ngày nay, khi kinh tế càng
phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao hơn thì DL là nhu cầu không thể
thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội. DL ngày càng phát triển hơn và được chú trọng
đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi của con người. Đối với Việt Nam,
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: phát triển DL trở thành
một ngành mũi nhọn. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác
về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống lịch sử văn hóa, đáp ứng nhu cầu DL
trong nước và phát triển nhanh DL quốc tế, sớm đạt trình độ trong khu vực. Để thực
hiện được mục tiêu đó thì trước tiên cần phải có đủ vốn, vì vậy khi DL ngày càng phát
triển thì nó sẽ tạo tiền đề cho việc tạo ra nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
1.1.3.5. Góp phần hiện đại hóa cơ sở vật chất – kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo
ra và thực hiện sản phẩm DL cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng DL
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách DL. Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành DL
bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.
DL là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hóa nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách DL do vậy cơ sở vật chất kỹ thuật DL gồm nhiều thành
phần khác nhau. Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hóa DL đòi hỏi phải có một hệ thống
các cơ sở, công trình đặc biệt… Tài nguyên DL chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong
tiêu dùng của khách DL. Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên DL đòi hỏi phải xây
1.2.1.1. Thái Lan
Thái Lan là nước có ngành DL phát triển mạnh ở châu Á. Truyền thống văn hóa
và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu
hút khách DL đến với đất nước này. Ngành DL là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ
yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Hàng năm, Thái Lan đón một
lượng khách DL quốc tế trên 10 triệu lượt người. Thị trường khách quốc tế chủ yếu
của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng
kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân
bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình
phát triển DL. Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên DL, bảo vệ môi trường, văn hóa,
nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển DL bền vững. Thúc đẩy hợp tác giữa khu
vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai
thác, phát triển và quản lý tài nguyên DL. Tăng cường hợp tác với các nước láng
giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
giao thông và các tiện ích phục vụ DL. Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng
cường đào tạo đội ngũ cán bộ DL cả về số lượng và chất lượng. Thực hiện nghiêm túc
các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách và môi trường kinh doanh lành
mạnh cho các doanh nghiệp DL.
1.2.1.2. Malaysia
Malaysia là đất nước có ngành DL rất phát triển, đứng thứ 10 trong danh sách
các quốc gia thu hút DL nhiều nhất theo xếp hạng của tổ chức Du Lịch toàn cầu của
Liên Hợp Quốc. Malaysia hứa hẹn năm 2014 là một mùa lễ hội “Open House” với quy
mô lớn để đạt được mục tiêu sẽ đón tiếp 28 triệu lượt khách DL quốc tế. Mục tiêu phát
triển DL Malaysia đặt ra đến năm 2020 trở thành nước phát triển về DL, hàng đầu
trong khu vực và quốc tế.
Để đạt được những thành tựu đó và đưa ngành DL ngày càng phát triển đạt
kiện DL lớn như Lễ hội Quảng Nam - Hành trình Di sản, Năm DL Quảng Nam…Kết
quả là, ngành DL Quảng Nam những năm gần đây luôn đạt mức tăng trưởng đáng kể
về lượng khách đến cũng như thu nhập xã hội từ DL.
1.2.2.2. Khánh Hòa
Với những lợi thế về địa hình (nối liền các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên),
giao thông đường thủy, bộ, hàng không đều thuận lợi; bãi biển đẹp, khí hậu trong lành,
có nhiều danh lam thắng cảnh; là một trong những vùng đất có thương hiệu về DL, hệ
thống khách sạn có quy mô lớn với cơ sở vật chất, phong cách phục vụ, dịch vụ đáp
ứng được nhu cầu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, mua sắm… Và những tên tuổi gắn liền
như Vinpearland, Diamond Bay, Yasaka Sài Gòn - Nha Trang, Evason Hideaway… đã
tạo nên một thương hiệu nổi tiến cho Khánh Hòa - nơi tổ chức thành công các sự kiện
văn hóa, chính trị, địa điểm được lựa chọn hàng đầu với du khách trong và ngoài nước.
Theo Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Khánh Hòa năm 2013, có trên 3 triệu
lượt du khách trong và ngoài nước đến lưu trú, tham quan, nghỉ dưỡng tại thành phố
biển Nha Trang và các địa điểm DL khác trong tỉnh, tăng trên 29% so với năm 2012.
Trong đó, khách quốc tế đạt gần 712.000 lượt, tăng hơn 34% và khách nội địa đạt gần
2,3 triệu lượt, tăng 28% so với năm 2012.
Một giải pháp có tỉnh đột phá mà Khánh Hòa thực hiện có hiệu quả trong thời
gian qua là tỉnh đã đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng DL. Những năm
gần đây, việc đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật DL ở Khánh Hòa trở nên sôi động.
Ngoài các công trình giao thông được đầu tư bằng ngân sách địa phương và trung
ương, tỉnh còn kêu gọi và thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Ngành DL tỉnh đang xây dựng mô hình liên kết đào tạo nguồn nhân lực, tổ
chức lại các khóa đào tạo, tăng cường sự liên kết trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân
lực, giữa nhà trường với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện định
hướng trong quy hoạch đào tạo phù hợp quy hoạch phát triển ngành.
1.2.3. Kinh nghiệm một số huyện trong tỉnh Thừa Thiên Huế
1.2.3.1. Hương Trà
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
16
triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái gắn với cảnh quan thiên nhiên vùng đầm phá
ven biển, du lịch gắn với di tích lịch sử, du lịch tâm linh…
1.2.3.2. Phú Vang
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
Huyện có nhiều tiềm năng và thế mạnh về DL biển, từ sau lễ hội Festival
"Thuận An biển gọi" từ 28-30/4/2012 đến nay, hàng ngày có tới cả vạn người đổ về
bãi tắm Thuận An để tránh nắng nóng. Đây trở thành thương hiệu nổi tiếng về du lịch
giải trí, tham quan nghỉ dưỡng biển vào mùa hè của huyện Phú Vang nói riêng và
Thừa Thiên Huế nói chung.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện, DL biển là động lực để
thúc đẩy phát triển cho các ngành nghề khác. Trước mắt, cùng với khai thác du lịch
biển Thuận An, Phú Vang tiếp tục đưa vào khai thác thêm những bãi biển đẹp như
Vinh An, Vinh Xuân để thu hút khách du lịch.
1.2.4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển du lịch ở huyện Phú Lộc, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Có thể thấy rằng, để phát triển DL và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối
với hoạt động DL huyện Phú Lộc cần tham khảo và học tập các nước trong khu vực và
các tỉnh, huyện trong nước về các vấn đề chủ yếu:
Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách giải pháp
để thúc đẩy ngành DL phát triển.
Chiến lược phát triển ngành DL phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế đất
nước, phát triển DL đồng bộ, kiện toàn bộ mối quan hệ giữa ngành DL với các ngành
khác có liên quan. Chiến lược tiếp thị, quảng cáo năng động đáp ứng được thị hiếu của
khách DL. Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho ngành DL, đồng thời tích cực tuyên
truyền giáo dục mọi người dân hiểu rõ tầm quan trọng của DL. Chiến lược sản phẩm,
đa dạng hóa sản phẩm DL, chú trọng phát triển sản phẩm DL đến với mọi tầng lớp
nhân dân, có môi trường DL an toàn thuận tiện, có nền kinh tế và chế độ chính trị ổn
định.
dưỡng, giáo dục cho đội ngũ nhân viên có ý nghĩa quan trọng nên nhiều nước phát
triển DL đều rất chú ý vấn đề này. Cho nên người làm việc trong ngành DL phải được
đào tạo, huấn luyện một cách chính quy, ngày càng được nâng cao trình độ bằng nhiều
phương pháp như: vừa học vừa làm, tập huấn nâng cao trình độ hiểu biết cho cán bộ
nhân viên trong ngành DL…
Sáu là, phát triển DL đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên môi trường.
Việc phát triển DL hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề không thể xem nhẹ: gây tổn hại
môi trường, tài nguyên sinh thái ở nhiều vùng, các công trình văn hóa lịch sử, các tệ
nạn xã hội. Tình trạng rác thải, tắc nghẽn giao thông… cũng là hiện tượng phổ biến.
Phân tích theo cặp phạm trù “nhân quả” giữa DL và môi trường, thì DL là nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường và đến lượt DL phải chịu hậu quả của môi trường ô
nhiễm tác động, hạn chế đến khả năng phát triển của ngành DL.
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ Ở HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Tổng quan về huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Nằm ở cuối phía Nam của tỉnh Thừa Thiên Huế, huyện Phú Lộc có vị trí địa lý
từ 16
0
10’32’’ đến 16
0
24’45’’ vĩ độ Bắc và 107
0
49’05’’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp
huyện Hương Thủy, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp Biển Đông và
phía Tây giáp huyện Nam Đông.
phức tạp và bị chia cắt mạnh, phía Tây dãy Trường Sơn là đồi núi, tiếp đến là lưu vực
các con sông. Với địa hình phong phú như vậy, cho phép huyện Phú Lộc có thể phát
triển nền kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa dựa trên các mũi nhọn đặc
thù của từng vùng, ví dụ ở vùng núi thì trồng các cây công nghiệp dài ngày, trông cây
ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm ở vùng đồng bằng, các loại thủy hải sản ở vùng
đầm phá, ven biển và biển. Tuy nhiên với địa hình phức tạp như vậy sẽ gặp khó khăn
trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và khắc phục thiên tai
cho sản xuất nông nghiệp.
Bản đồ 2.2: Huyện Phú Lộc
2.1.1.3. Khí hậu
Phú Lộc là nơi tiếp giáp giữa hai vùng khí hậu Bắc - Nam, chịu ảnh hưởng của
khí hậu ven biển, lại có khí hậu của vùng núi cao. Khí hậu phân làm hai mùa rõ rệt;
mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 7. Nhiệt độ
trung bình là 24,4
0
C, thấp nhất là 18 – 19
0
C, cao nhất là 32,1
0
C. Lượng mưa hằng năm
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
lớn và tập trung, dao động trung bình 1.900 – 3.2000mm/ năm; Độ ẩm không khí cao
nhất là tháng 2 (98,2%), thấp nhất là tháng 7 (47,6%) [6]. Vào mùa nắng thì nắng
nhiều, gây gắt, vào mùa mưa thì mưa nhiều, kéo dài với điều kiện khí hậu vừa thuận
lợi lại vừa khắc nghiệt, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế huyện, nhưng
cũng ảnh hưởng nhiều đến mùa màng, sản xuất của người dân, dẫn đến thu nhập
không ổn định, việc làm bấp binh.
2.1.1.4. Tài nguyên du lịch
Năm 2013 dân số trung bình toàn Huyện là 136.042 người, trong đó dân số nam
chiếm 68.446 người chiếm 50,31%; dân số nữ 67.464 người, chiếm 49.75%. Trong
tổng dân số toàn huyện, khu vực thành thị có 21.957 chiếm 16,14%, dân số ở nông
thôn là 114.085 người chiếm 83,86%.Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2013 là 1,04%.
[2]
2.1.2.3. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Mạng lưới điện quốc gia
Mạng lưới điện trên địa bàn huyện được trang bị tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động phục vụ tại các điểm DL như xây dựng hệ thống cáp ngầm qua vườn quốc gia
Bạch Mã, trạm 110kV Lăng Cô và các trạm hạ thế phục vụ cho khu du lịch Cảnh
Dương - Lăng Cô và ven đầm Lập An. Hệ thống cung cấp và thoát nước, xử lý rác thải
tại các điểm DL chính cũng được đầu tư và xây dựng.
Hệ thống thông tin liên lạc
Thông tin liên lạc được coi là điều kiện cần hỗ trợ cho nhóm cung trong việc hình
thành và cung cấp sản phẩm DL đồng thời cũng hỗ trợ cho khách DL tiếp cận với
điểm đến và trao đổi thông tin trong nước và quốc tế. Đối với huyện PL, hoạt động
viễn thông trong thời gian qua đã được huyện chú trọng đầu tư và phát triển, cụ thể
hoạt động viễn thông ước đạt 28.350 máy cố định và ADSL trên toàn huyện, từng
bước nâng cao các dịch vụ công cộng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.[8]
Mạng lưới giao thông
DL gắn liền với hoạt động di chuyển của con người trên một phạm vi nhất định
và hoạt động DL phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải. PL có vị trí địa lý thuận
lợi nên mạng lưới và phương tiện giao thông ở khu vực này khá thuận tiện, đáp ứng
nhu cầu của khách DL trên tất cả các phương tiện di chuyển. Năm 2012, khối lượng
hàng hóa luân chuyển trên toàn huyện ước đạt 12.500 tấn/km, lượng hành khách luân
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Võ Thị Thu Ngọc
chuyển ước đạt 30.100 hành khách/km; Năm 2013, khối lượng hàng hóa luân chuyển
trên toàn huyện ước đạt 14.000 tấn/km, lượng hành khách luân chuyển ước đạt 37.000
và đường sắt xuyên Việt. Diện tích đất khu vực cảng là 227 ha, cảng có độ sâu 6-14km
SVTH: Bùi Thị Ngân – K44KTCT
25