B¸o c¸o tèt nghiÖp
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Sự cần thiết của đề tài
ALưới là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa - lịch sử, từng là nơi căn cứ địa
cách mạng của tỉnh (Thừa Thiên Huế) và cả nước trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và đánh Mỹ, là nơi hội tụ những sắc màu văn hóa vật thể, văn hoá phi vật thể và
văn hoá ẩm thực của các dân tộc anh em Pakôh – Tà Ôih – Katuh – Pahy – Vân Kiều
đã tạo nên cho mảnh đất này những giá trị lịch sử văn hóa quý báu, đó là những di tích
lịch sử Cách mạng; là bảo tàng sống về kiến trúc, về lối sống, sinh hoạt của đồng bào
qua nhiều thế hệ; là các làng nghề truyền thống, các món ăn dân gian truyền thống và
nguồn văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng.
Hơn 20 năm cùng với sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước, những
thành tựu về kinh tế nói chung và du lịch nói riêng, huyện ALưới đã khẳng định được
vai trò của văn hóa với những đóng góp tích cực của nó trên nền tảng của nguồn tài
nguyên văn hóa vốn có. Với những lợi thế về tài nguyên văn hóa phong phú, đa dạng,
có sức thu hút hấp dẫn đối với du khách. Tính chất độc đáo của một nền văn hóa kết
hợp với cảnh quan thiên nhiên làng bản, sông suối, núi rừng xanh tươi và các giá trị
văn hóa - nhân văn cũng như tính nhân ái hiếu khách, ứng xử có văn hóa của người
dân ALưới đã trở thành nguồn tài nguyên vô giá, hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là kinh tế du lịch ALưới sớm sẽ trở thành khu du lịch
nổi tiếng trong nước và quốc tế.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cuả đề tài
a. Mục đích
Xác định tiềm năng và đánh giá hiện trạng phát triển du lịch huyện A Lưới trên cơ sở
đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch.
b. Nhiệm vụ
- Phân tích cơ sở lý luận phát triển du lịch.
- Phân tích tiềm năng để phát triển du lịch huyện.
- Phân tích hiện trạng để phát triển du lịch.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch.
- Phương pháp thực địa: trong quá trình làm đề tài tôi đã trực tiếp đến các điểm du lịch
tự nhiên và nhân văn tại địa bàn huyện A Lưới để chụp hình và khảo sát. Đồng thời,
tôi đã trực tiếp đến đến các ban nghành có liên quan để thu thập tài liệu.
- Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu những tài liệu, số liệu tham khảo so với thực
tế để đưa ra kết quả chính xác.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung : Nghiên cứu đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở huyện Alưới.
- Phạm vi không gian : Huyện Alưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian : Giai đoạn 2005- 2020.
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
B¸o c¸o tèt nghiÖp
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG
1.Khái niệm du lịch
Du lịch, bắt đầu từ hoạt động lữ hành chủ yếu là để trao đổi hàng hóa và sau đó
nhằm mục đích tôn giáo và mục đích tiêu khiển, đã hình thành từ trong xã hội cổ đại,
khi mà sự phân công lao động xã hội giữa các ngành nông nghiệp, chăn nuôi và thủ
công với những thương nghiệp diễn ra.
Sau một thời kỳ dài phát triển, bước vào thời kỳ cận đại, do tác động của cách
mạng công nghiệp, hoạt động lữ hành bắt đầu trở thành một ngành kinh tế, mà người
đặt dấu ấn đầu tiên là Thomas Cook - người Anh Quốc, không chỉ phục vụ cho giới
quí tộc, giai cấp tư sản mới mà còn cho nhiều người tự do khác.
Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999, du lịch được hiểu là “Hoạt động
của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Qua tiếp cận với những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát: “Du
lịch là tổng thể những hoạt động với nhiều mối quan hệ phát sinh và tác động lẫn nhau
giữa du khách, nhà doanh nghiệp du lịch, chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư
các địa phương trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch, thu hút và lưu giữ du
khách từ nơi khác đến tham quan, tạm trú, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng nhằm thỏa
2. Phát triển du lịch bền vững
“Là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả
mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài
hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên, duy trì
được sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công
tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”
Tài nguyên du lịch: Là khách thể du lịch. Đây là yếu tố để hình thành các điểm
du lịch, khu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm : cảnh quan thiên nhiên; tài nguyên
văn hóa vật thể và phi vật thể như các di tích kiến trúc, di chỉ khảo cổ, di tích cách
mạng, di tích lịch sử, văn học - nghệ thuật dân gian và hiện tại tài nguyên xã hội, là
những cộng đồng dân cư, có thể thuần chủng hoặc đa chủng, với những phong tục tập
quán biểu hiện trong sinh hoạt thường ngày sinh động.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Sản phẩm du lịch: Là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất như:
tên, cơ sở khai thác tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời
gian thú vị, một kinh nghiệm trọn vẹn và sự hài lòng.
Sản phẩm du lịch là những dịch vụ không mang hình thái vật thể độc lập, cụ
thể, ngay cả trong trường hợp nó có tính sản xuất vật chất; nó là sự hoạt động, sự phục
vụ của những người làm du lịch đáp ứng những nhu cầu rất riêng, rất đặc biệt của du
khách, chẳng hạn như một “tour” du lịch hấp dẫn, mang lại những hiểu biết mới lạ,
thích thú, cung cấp các dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, du ngoạn đầy đủ sảng
khoái; nó là thứ hàng hóa mà du khách phải bỏ ra một thời gian, một lượng tiền và vừa
sức lực nhất định để đổi lấy. Mặt khác do đặc điểm của sản phẩm du lịch là được tiêu
dùng cùng thời gian, tại cùng thời điểm sản xuất ra chúng, khách hàng không thể kiểm
tra trước được, và sự tiêu dùng đó có tính thời vụ do lượng cung tương đối ổn định,
nhưng lượng cầu thay đổi theo tác động khách quan và theo sở thích cũng như nhu cầu
của du khách. Vì thế, sản phẩm du lịch mang tính tổng thể của nhiều loại sản phẩm du
lịch với ba yếu tố cấu thành, đó là: tài nguyên du lịch được khai thác một cách đặc sắc,
có hiệu quả, không tùy tiện và phải được bảo vệ tốt; cơ sở vật chất của ngành du lịch
hoàn hảo và dịch vụ du lịch - hạt nhân của sản phẩm du lịch - có chất lượng cao.
người ngày càng tăng thì du lịch ngày càng phát triển nhiều loại hình phong phú, đa
dạng. Trong điều kiện khoa học thì mọi sự phân biệt chỉ là tương đối, tuy nhiên do sở
thích riêng của du khách lại khác nhau, nên có thể kể ra một số loại hình hiện đại như
sau :
Du lịch thiên nhiên: Xu thế của thế giới hiện đại, đặc biệt là ở các quốc gia
công nghiệp hóa cao, con người thích quay về với thiên nhiên hoang dã. Tìm đến với
biển, rừng núi, thác, suối, sông hồ đắm mình trong thiên nhiên trong lành, con người
tận hưởng được sự thư giãn tuyệt vời.
Du lịch văn hóa: Đây là loại hình đang phát triển rất mạnh trong xu thế giao
lưu văn hóa toàn cầu gắn với việc bảo tồn và phát huy các nền văn hóa khác nhau của
các dân tộc trên thế giới. Du lịch văn hóa có nhiều loại hình, trong đó phát huy các di
sản văn hóa luôn thu hút một lượng khách rất lớn. Các loại hình liên hoan, lễ hội văn
hóa độc đáo của các dân tộc đặc biệt hấp dẫn với du khách. Du lịch tôn giáo cũng là
một loại hình du lịch văn hóa đáng kể.
Du lịch giải trí: Du lịch giải trí trên thế giới ngày nay phát triển rất thịnh
vượng, nổi bật nhất là các công viên giải trí mà các quốc gia đều chú ý xây dựng.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Công viên giải trí là nơi không có lưu trú và thường đóng cửa vào mùa khí hậu không
thuận lợi, còn làng giải trí thường gắn với các kỳ lưu trú nghỉ ngơi cuối tuần, kỳ nghỉ
ngắn có vui chơi giải trí.
Du lịch sinh thái: Ở các đô thị, mật độ dân số thường rất cao. Khi môi trường
đô thị, môi trường các khu công nghiệp bị ô nhiễm thì dân cư sinh sống và làm việc ở
đó có xu hướng muốn thay đổi không khí bằng cách tìm đến những nơi có môi trường
trong lành, xanh sạch của tự nhiên phóng khoáng, của đồng quê thơ mộng hoặc của
các lâm viên, vườn quốc gia, công viên nhân tạo thoáng rộng và thường xanh. Trong
du lịch xanh có loại hình du lịch nghỉ dưỡng sử dụng các liệu pháp biển, xây dựng các
khu du lịch gắn với thiên nhiên sẵn có hoặc mô phỏng tự nhiên tạo ra những sinh cảnh
núi non, sông hồ, cây cỏ, chim muông thú cùng các loại động vật nước phù hợp để thu
hút du khách là kinh nghiệm quý của thế giới và hướng phát triển mạnh của du lịch
Việt Nam. Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái (Ecotourism Spciety): Du lịch sinh thái là
quan trọng về Quốc phòng – An ninh.
Ở A Lưới, địa hình chủ yếu là rừng, núi xen lẫn những dải thung lũng có hệ
thống sông suối khá dày đặc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh Mỹ,
nhiều nhánh sông bắt nguồn từ ALưới đã trở thành hệ thống giao thông liên lạc vận
chuyển lương thực, vũ khí và lực lượng mang tính chiến lược của quân và dân ta.
Ngày nay trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá xã hội, hệ thống sông suối nơi
đây có nhiều tiềm năng để phát triển mạng lưới thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp, cung
cấp nước sạch cho sinh hoạt, xây dựng thuỷ điện, kết hợp xây dựng hệ thống tham
quan du lịch sinh thái.
Với độ cao trung bình là 700m so với mặt nước biển lại nằm trong vành đai khí hậu
nhiệt đới gió mùa nên khí hậu ở ALưới khá mát mẻ và trong lành, tiềm năng kinh tế
lớn như tài nguyên đất, tài nguyên rừng (động thực vật, rừng nguyên sinh, rừng tái
sinh… rừng còn có nhiều loại cây thuốc quý để chữa bệnh như: sâm, kỳ nam, trầm, hà
thủ ô, cây bảy lá, sơn thục, thiên niên kiện ; nhiều nguồn nguyên liệu phục vụ cho
nghê thủ công đan lát, nhất là nghề dệt Zèng nổi tiếng của dân tộc Tà Ôih), tài nguyên
nước (nước nóng, nước ngọt, sông, suối ), tài nguyên khoáng sản (mỏ đá, mỏ cao
lanh, mỏ vàng, cát sạn ).
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Trải dọc theo chiều Bắc – Nam của huyện từ xã Hồng Thuỷ vào đến xã AĐớt,
ARoàng là thung lũng tương đối bằng phẳng theo hình lòng chảo đẹp dài đến hàng
trăm km. Đây cũng là nơi có con đường mòn Hồ Chí Minh đi qua trở thành trục đường
mang tính chiến lược quốc gia. Ngoài ra dọc theo trục quốc lộ 49B theo hướng Đông –
Tây xen kẽ với núi đồi là hệ thống sông, suối, thung lũng khá dày đặc hứa hẹn nhiều
triển vọng trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
huyện nhà. Đó là sự ưu đãi của thiên nhiên về địa lý, địa hình, cho huyện A Lưới.
Trải qua thời gian dài với những biến đổi thăng trầm của lịch sử, dân số toàn
huyện hiện nay có 43.000khẩu/9.555 hộ với tổng diện tích đất là 122.901,80ha. Hiện
có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn (Katuh, Pa kôh, Tà Ôih, Vân kiều, Pa
Hy và Kinh).
2. Về kinh tế - xã hội
Vấn đề hưởng thụ văn hoá, thông tin liên lạc và giao thông được thể hiện rõ.
Hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, truyền thanh - truyền hình thường
xuyên được chú trọng và nâng cao. Các thiết chế văn hoá ngày càng được hoàn thiện,
đến nay đã xây dựng được 131 nhà sinh hoạt cộng đồng, 15 nhà Rông của dân tộc Tà
Ôih, 3 nhà Gươl của dân tộc Ka Tuh và 1 nhà Moong của dân tộc Pa Kôh, 20 điểm
bưu điện văn hoá xã, thư viện huyện, thư viện Trường học hoạt động có hiệu quả; đã
xây dựng được 11 sân Bóng đá tập trung cho 10 xã biên giới và Thị trấn. Công tác văn
hoá – văn nghệ - thể dục – thể thao từ huyện đến cơ sở đã có nhiều tiến bộ. Công tác
bảo tồn nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được quan tâm (các Lễ hội Ariêu
– Ada, Ariêu ping, dân ca, dân vũ, dân nhạc, văn hoá ẩm thực…). Phong trào
“TDĐKXDĐSVH“ được triển khai sâu rộng và được nhân dân đồng tình hưởng ứng
tích cực. Đã giải quyết chấm dứt cuộc sống du canh – du cư, xoá nhà tạm, tranh tre
nứa lá. Đã thực hiện tốt công tác tiếp thu phát sóng các chương trình của TW cũng như
địa phương (đài THVN, đài TNVN, đài TRT, đài HTV, đài HTV9 với gần 16.000 giờ,
sản xuất hơn 212 chương trình, trong đó 100 lượt chương trình bằng tiếng dân tộc
thiểu số). Hệ thống điện lưới, nước sạch và vệ sinh môi trường đang dần dần đươc phủ
kín (tỷ lệ hộ dùng điện lưới 98,5%, hộ dùng nước hợp vệ sinh 85%). Tỷ lệ tăng dân số
có chiều hướng giảm tích cực. Các chính sách xã hội được quan tâm đúng mức. Công
tác Quốc phòng – An ninh ngày càng lớn mạnh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững,
chính trị ổn định.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
3. Đặc điểm văn hóa A Lưới
Chúng ta đều biết rằng văn hoá là diện mạo tinh thần của một dân tộc. Các giá
trị văn hoá của đồng bào các dân tộc ở A Lưới đã làm nên bản sắc văn hoá riêng có
của huyện vùng cao này.
Trước hết phải khẳng định rằng thiên nhiên đã ưu đãi cho huyện ALưới có được một
môi trường sinh thái rất thuận lợi đó là: địa lý tự nhiên, khí hậu mát mẻ, ôn hoà và
trong lành, núi rừng điệp trùng với nhiều loại gỗ quý và nhiều chủng loại cây lâm sản
khác; động vật rừng đa dạng, đặc biệt tại khu vực xã A Roàng có rừng nguyên sinh
rộng 3.000 ha với nhiều loại động vật quý hiếm như: Sao la, chồn hương Ngoài ra
đồng bào cần phát huy và khai thác tạo ra những mô hình, nội dung tham quan du lịch
mang tính độc đáo riêng có của huyện nói riêng, của tỉnh và cả nước nói chung.
Với cư dân các dân tộc thiểu số ở ALưới sinh hoạt văn hóa xuất hiện thường
xuyên gắn bó với từng cá thể, từng gia đình, làng, bản. Chính họ đã hun đúc nên
những truyền thống văn hóa độc đáo, phong phú và mang đậm bản sắc dân tộc. Những
truyền thống văn hóa này thể hiện một cách sinh động khả năng thích ứng với môi
trường tự nhiên và xã hội tạo nên một nét văn hóa độc đáo riêng có, tô điểm thêm
trong bức tranh đa sắc màu của văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Trên phương diện văn hóa phi vật thể, ngoài hoạt động kinh tế sản xuất nương
rẫy thì ngôi nhà là nơi tụ họp, sinh hoạt và nghỉ ngơi sau một ngày lao động mệt nhọc.
Cấu trúc nhà ở truyền thống là nhà Sàn, người Pa kôh, Tà Ôih thường dựng ngôi nhà
Dài truyền thống – là nơi ở, sinh hoạt của đại gia đình gồm nhiều thế hệ, trong đó
mỗi gia đình được chia một gian (hoặc buồng). Mỗi gian sẽ có một bếp lửa và cứ như
vậy, có bao nhiêu bếp lửa là có bấy nhiêu gia đình nhỏ - trừ một bếp lửa chung của đại
gia đình (còn gọi là Moong). Nhà Moong (hay còn gọi là nhà Dài của dân tộc Pakôh)
mang một nét đặc trưng riêng, là nơi kết nối và hội tụ của gia tộc. Nó mang tính chất
cố kết của dòng tộc, họ tộc biểu hiện rất rõ qua nhà Dài của họ. Ngoài ra các dân tộc
thiểu số ở đây còn xây dựng nhà kho, chòi cạnh nương rẫy phục vụ cho việc mùa
màng. Nhà Rông (dân tộc Tà Ôih), nhà Gươl (dân tộc Ka tuh). Nếu như nhà Dài của
người Pakôh là nơi kết nối và hội tụ của gia tộc thì nhà Rông của người Tà Ôih là biểu
tượng của cộng đồng, là linh hồn của làng, bản, tộc người. Nơi đây sẽ diễn ra tất cả các
công việc liên quan đến cộng đồng dưới sự điều khiển của Già làng như hội họp, cúng
bái, tiếp khách…Cấu trúc ngôi nhà được thiết kế nghệ thuật, dưới bàn tay tài nghệ của
B¸o c¸o tèt nghiÖp
các nghệ nhân, một phần bên trong ngôi nhà được chạm khắc công phu, trang trí rất tài
tình. Điều đó cho chúng ta thấy được đây là một công trình mang đậm bản sắc dân tộc.
Ngoài ra các dân tộc thiểu số ở đây vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn các nghề
dệt thổ cẩm truyền thống như: dệt Zèng, các sản phẩm từ dệt Zèng, nghề đan lát, mây
tre phục cho sinh hoạt và trang trí.
Về Lễ hội, hàng năm có 03 Lễ hội chính gồm: Lễ hội đâm trâu (A riêu caar),
những màu sắc đường nét sặc sỡ, những mô típ trang trí trên cột có liên quan đến tin
ngưỡng của dân làng, nguồn gốc
Văn hoá ẩm thực của đồng bào các dân tộc thiểu số ở ALưới cũng rất đa dạng
và phong phú. Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy nên nguồn lương thực chủ
yếu ở đây là lúa Nếp. Loại này phù hợp với địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu gió Lào ở
vùng Thừa Thiên Huế. Các loại nếp thường dùng đó là Nếp đen (Atút), Nếp than
(Kachăh), Nếp trắng (Traang), Nếp tím (Amuk)… Các loại rau, củ rừng như măng
Rừng, rau Rớn, Xà lách xoong (1loại rau chỉ mọc ở suối có nước chảy quanh năm),
thức ăn có Lạp (lạp thịt, lạp cá ), Klèng (chế biến từ ruột non của bò, dê) về thức
uống có rượu Cần (Buah – được làm từ nếp), rượu Mía (aveat – được làm từ cây
mía), rượu Đoác (tuvak – được lấy từ cây đoác ở trên rừng, có vùng gọi là cây Đác),
rượu Đình đình (pardin – được lấy từ cây đình đình)
Với một vùng đất giàu tính sáng tạo đó, không có gì thuyết phục bằng, khi đến
với họ, nhìn thấy những những mái nhà, những đồng lúa, những đổi mới…. và con
người với những nụ cười đầy hữu tình của đồng bào. Tất cả đó là những di sản văn hoá
quý báu của đồng bào các dân tộc ở ALưới.
4. Đặc điểm dân tộc và phân bố dân cư
Tính đến năm 2008, dân số của huyện A Lưới là 42.392 người, với 9550 hộ và
hơn 19000 người trong độ tuổi lao động. A Lưới là huyện có nhiều dân tộc anh em
cùng chung sống nhưng chủ yếu là 6 dân tộc sau: Tà Ôi, Cơ Tu, Kinh, Pa Hy, Pa Ko,
Vân Kiều.
Trước đây, các dân tộc thiểu số khác nhau thường sinh sống và sản xuất ở
những khu riêng biệt cách xa nhau chủ yếu là bằng hình thức du canh du cư nên đời
sống rất khó khăn. Nhưng hiện nay dân cư trong huyện đã cùng sinh hoạt trên địa bàn
trọng điểm nhằm xóa bỏ sự cách biệt về kinh tế- xã hội giữa các dân tộc. Tình trạng
B¸o c¸o tèt nghiÖp
du canh du cư đã chấm dứt và nạn đốt rừng làm nương rẫy vẫn còn nhưng ở phạm vi
hẹp hơn.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Bản đồ một số điểm du lịch ở huyện A Lưới
nhiều thành phần khoáng chất có giá trị chữa bệnh. Hơn nữa, suối nước nóng này lại
nằm gần rừng nguyên sinh rộng gần 3.000ha với nhiều loại động thực vật quý hiếm
nên du khách có thể kết hợp giữa mục đích tắm suối nước nóng và tham quan nghiên
cứu.
Hiện nay suối nước nóng A Roàng đã được huyện đầu tư xây dựng thành một khu
nghỉ dưỡng, tuy nhiên vẫn còn mang tính chất sơ khai.
2.Tài nguyên du lịch nhân văn
So với tài nguyên du lịch tự nhiên thì tài nguyên du lịch nhân văn phong phú
hơn bao gồm nhiều loại khác nhau.
2.1 Các di tích lịch sử- văn hóa cách mạng
Là một huyện rất giàu truyền thống cách mạng, huyện A Lưới còn lưu giữ các
di tích lịch sử văn hóa cách mạng tiêu biểu cho một quá trình đấu tranh bền bỉ hy sinh
oanh liệt và chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.
2.1.1 Hệ thống các di tích sân bay
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Trong khoảng thời gian từ năm 1957 đến năm 1965, để thực hiện âm mưu bình
định các cuộc đồng khởi nổ ra ở miền núi Thừa Thiên Huế mà nhất là ở A Lưới, Bọn
Mỹ Ngụy đã tốn khá nhiều công sức cho việc xây dựng các sân bay quân sự và sân bay
dã chiến nhằm thực hiện mưu đồ đó.
- Sân bay A Co: nằm trên địa phận thôn Tà Bạt, xã Hồng Thượng, huyện A Lưới.
Được xây dựng vào năm 1960 nhưng có quy mô nhỏ hơn so với các sân bay khác ở A
Lưới và đồng bằng nhằm chống phá tuyến đường vận tải vào Nam ra Bắc của quân ta.
- Sân bay A Cuồn: thuộc địa phận xã Hồng Thái, nằm sát bờ sông A Sáp trước
đây thuộc xã Hồng Thượng. Sân bay này được xây dựng với âm mưu thực hiện chiến
lược chặn ngay tuyến hành lang Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây, kiểm soát và
ngăn chặn con đường liên lạc giữa A Lưới với đồng bằng.
- Sân bay A Lưới: được xây dựng ngay giữa trung tâm thị trấn hiện nay, có vị trí
chiến lược đặc biệt quan trọng về quân sự, kinh tế của huyện miền núi phía Tây tỉnh
Thừa Thiên Huế. Sân bay A Lưới là trung tâm huấn luyện biệt kích Mỹ Ngụy từ Đông
sang Tây, chặn ngang mạch máu nối liền từ Bắc vào Nam của quân ta. Được triển khai
gồm 3 ngọn đồi nhưng ở đồi 1 và đồi 2 chỉ còn rất ít các di vật của chiến tranh, ở đồi 3
còn các dấu tích căn cứ của Mỹ như dây thép gai, công sự.
Với một hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa cách mạng dâu ấn của một thời kháng
chiến của quân dân ta nói chnug và của đồng bào huyện A Lưới nói riêng nằm trên
đường Hồ Chí Minh sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách, mở ra với các loại hình du
lịch tham quan di tích lịch sử, hoài niệm chiến trường xưa kết hợp với các loại hình du
lịch sinh thái, leo núi.
2.2 Lễ hội truyền thống
Đến với A Lưới ngoài việc tham quan các di tích lịch sử - văn hóa cách mạng,
du khách còn có thể hòa mình vào các lễ hội truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa
và tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.
2.2.1 Ngày hội văn hóa các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế
Theo thông lệ cứ 2 năm một lần, trong 3 ngày từ 16 -18 tháng 5 hàng năm, ngày
hội văn hóa thể thao và du lịch các dân tộc miền núi Thừa Thiên Huế lại được luân
phiên tổ chức tại 2 huyện Nam Đông và A Lưới cùng với sự tham gia của các huyện,
các xã trung du và miền núi như Phong Điền, Hương Trà và Phú Lộc.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Ngày hội là dịp để các đoàn của huyện bạn đến giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể
dục thể thao và du lịch văn hóa tộc người của Tỉnh. Đến với ngày hội du khách sẽ có
dịp được chiêm ngưỡng các màn trình diễn ca múa nhạc, mặc trang phục của các dân
tộc, được hòa mình vào không khí tưng bừng sôi nổi của các trận đua tài thể thao như:
việt dã, bắn nỏ, bóng chuyền, đẩy gậy, kéo co Đặc biệt là lễ hội đâm trâu quy tụ hàng
trăm diễn viên quần chúng tại các xã của huyện A Lưới.
Bên cạnh những hoạt động văn hóa mang tính truyền thống của các dân tộc
miền núi Thừa Thiên Huế, còn có trưng bày triển lãm các sản phẩm làng nghề, điêu
khắc và những bức ảnh của đồng bào nơi đây với bác Hồ.
2.2.2 Lễ hội đâm trâu của người Tà Ôi
Theo tục lệ cứ 3 đến 5 năm một lần, người Tà Ôi lại tổ chức lễ hội đâm trâu.
Đây là lễ hội lớn thu hút khá nhiều người dân và du khách tham gia. Lễ hội thường
được tổ chức vào tháng 2 hoặc tháng 3 trong năm. Từ tháng 4 đến tháng 12 không thể
về hàng thủ công mỹ nghệ là không tồn tại ở bất cứ nơi nào khác, đó là cách lồng hạt
cườm vào cùng lúc đồng thời với lúc dệt vải. Kỹ xảo làm cho vải Dzèng của người Tà
Ôi đẹp và trở nên độc đáo hơn. Du khách đến đây không chỉ được chụp kiểu ảnh về kỹ
năng dệt vải điêu luyện của bàn tay người phụ nữ Tà Ôi mà hơn thế nữa, có thể mua
được những bộ váy áo phù hợp bằng vải Dzèng với những hoa văn tiêu biểu nhất của
các tộc người này để làm kỉ niệm.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
2.3.2 Làng nghề đan lát, làng nghề làm nhạc cụ
Phổ biến nhất là ở xã Nhâm và một số xã khác trên địa bàn huyện A Lưới. Dưới
bàn tay của các nghệ nhân A Lưới, khi đến thăm làng nghề đan lát, làng nghề nhạc cụ
chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng những chiếc gùi, vật dụng hàng ngày của người Tà Ôi,
người Cơ Tu rất đẹp với nhiều kích cỡ và chủng loại khác nhau như tre nứa, lồ ô
dùng làm quà lưu niệm rất có ý nghĩa. Thêm vào đó, du khách sẽ được chiêm ngưỡng
các nhạc cụ dân tộc như kèn bè, tù và sừng trâu, những chiếc trống được đẽo gọt công
phu. Chúng được các nghệ nhân nơi đây trau chuốt và thổi lên những làn điệu mượt
mà đằm thắm. Tất cả đã làm nên bản sắc riêng của xứ sở này.
B¸o c¸o tèt nghiÖp
III. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH HUYỆN
ALƯỚI
1.Tài nguyên tự nhiên
Trước năm 2003, nguồn vốn đầu tư vào huyện A Lưới không đáng kể do luật
khuyến khích đầu tư trong tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện A Lưới nói riêng
chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Sau năm 2003, trên địa bàn huyện A Lưới đã có
một số dự án đầu tư đáng kể: dự án đầu tư xây dựng khu du lịch A Roàng, xây dựng
khách sạn hai sao, làm đường và khu đỗ xe vào thác A Nor… để đưa vào phục vụ cho
hoạt động du lịch. Tuy nhiên việc thực hiện các dự án trên chỉ mang tính tạm thời,
chưa đặt ra kế hoạch lâu dài hoặc không tương xứng với nguồn tài nguyên du lịch
phong phú của huyện A Lưới.
Ngoài ra việc khai thác tài nguyên du lịch còn đang mang tính chất sơ khai, chưa thực
sự tạo điểm nhấn cho du khách biết đến một vùng đất mới với những tài nguyên tự
2.2 Lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống của dân bản huyện A lưới được tổ chức hàng năm và thu
hút một lượng lớn người tham gia, hiện nay một số lễ hội lớn quy tụ được nhiều người
và có sự quan tâm của chính quyền muốn đưa vào khai thác du lịch đó là lễ hội đâm
trâu, lễ cầu mùa và Ngày hội văn hóa các dân tộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên nó
chỉ mới có sự quan tâm, tham gia của người dân địa phương trong huyện và chính
quyền địa phương đại diện tham dự chứ ít khi thấy sự xuất hiện của du khách. Dường
như việc tổ chức lễ hội truyền thống chỉ đơn thuần là theo tín ngưỡng thờ cúng thần
linh của dân bản chứ chưa xuất hiện việc truyền bá rộng rãi cho du khách biết đến và