Biến đổi sinh kế của người mường vùng lòng hồ thủy điện hòa bình ở nơi tái định cư - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRỊNH THỊ HẠNH

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI MƯỜNG VÙNG
LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH
Ở NƠI TÁI ĐỊNH CƯ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2017
i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRỊNH THỊ HẠNH
BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI MƯỜNG VÙNG
LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH
Ở NƠI TÁI ĐỊNH CƯ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62 22 70 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.PGS.TS Nguyễn Văn Chính
2. PGS.TS Trần Văn Bình

Hà Nội – 2017

ngay từ khi tôi mới chập chững bước chân vào cánh cửa trường Đại học.
- Cục Tham mưu, Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an – nơi tôi
đang công tác, đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên
cứu và bảo vệ luận án.
- Ủy ban nhân dân xã Hiền Lương và những người dân ở đây đã yêu
quý, giúp đỡ tôi như một người con của vùng đất này từ những năm 2009 đến
nay, không ngại ngần chia sẻ với tôi những câu chuyện vui buồn trong đời
sống của mình.
Cảm ơn gia đình, quý thầy cô, những người bạn và đồng nghiệp đã luôn
khích lệ, động viên tôi vượt qua nhiều trở ngại để hoàn thành luận án.
Hà Nội, ngày 15 tháng 2 năm 2017
Nghiên cứu sinh

Trịnh Thị Hạnh

ii


Mục lục
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hộp
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 3
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 3
4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................... 3

3. 1 Quá trình tái cấu trúc lại xóm Ké sau tái định cư ................................................. 68
3.2 Các nguồn sinh kế ở xóm Ké ............................................................................... 69
3.3 Nguồn vốn xã hội ở xóm Ké ................................................................................ 78
3.4 Các hoạt động sinh kế sau “di vén” ...................................................................... 88
3.5 Đánh giá kết quả của nguồn sinh kế mới ............................................................ 102
Tiểu kết ................................................................................................................... 106
CHƯƠNG 4: BIẾN ĐỔI SINH KẾ TRONG MÔ HÌNH LẬP LÀNG MỚI XÓM
LƯƠNG PHONG................................................................................................... 108
4.1 Sự hình thành xóm Lương Phong sau tái định cư ............................................... 108
4.2 Các nguồn sinh kế .............................................................................................. 117
4.3 Nguồn vốn xã hội ở xóm Lương Phong.............................................................. 120
4.4 Các hoạt động sinh kế sau lập làng tái định cư ................................................... 128
4.5 Đánh giá kết quả của nguồn sinh kế mới ............................................................ 132
Tiểu kết ................................................................................................................... 134
CHƯƠNG 5: CÁC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ . 137
5.1 Hoạt động hỗ trợ phát triển của nhà nước........................................................... 137
5.2 Hoạt động hỗ trợ phát triển của các tổ chức phi chính phủ (NGO)...................... 143
5.3 Đánh giá các hoạt động hỗ trợ phát triển ............................................................ 147
Tiểu kết ................................................................................................................... 159
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 161
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ......................................................................................... 166
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 167

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAV


Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

JENFODA

Dự án phục hồi rừng đầu nguồn tự
nhiên đã bị suy thoái tại miền Bắc Việt
Nam

HTX

Hợp tác xã

NIAPP

Viện quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp

NGOs

Các tổ chức phi chính phủ

Nxb

Nhà xuất bản

Tc

Tạp chí




Danh sách bảng, hộp trong luận án

Trang
Bảng 2.1

Chuyển dân xã Hiền Lương (1982-1992)

54

Bảng 3.1

Số dân xóm Ké qua một số năm

65

Bảng 3.2

Địa hình thổ nhưỡng xóm Ké

66

Bảng 3.3

Tài sản cơ bản của các hộ gia đình xóm Ké trong năm 72
2004 và 2011

Bảng 3.4



Nguồn gốc các hộ xóm Lương Phong

113

Bảng 4.2

Tuổi đời bình quân chủ hộ xóm Lương Phong

113

Bảng 4.3

Địa chỉ và số tiền của khách mừng đám liên hoan con lên 118
đường nhập ngũ

Bảng 4.4

Thu nhập các nhóm hộ ở Lương Phong

123

Bảng 4.5

Tỷ lệ đóng góp của các hoạt động kinh tế vào tổng thu 123
nhập hộ gia đình xóm Lương Phong

Hộp 3.1: Chi công xóm Ké năm 2015, tr.82
Hộp 3.2: Câu chuyện đầu tư vào nghề đánh bắt tôm cá lòng hồ của gia đình ông
Hà Viết Sâm, tr. 93

được sinh kế của họ. Nhóm nguyên nhân được biết đến nhiều nhất là thiếu/khó tiếp
cận được vốn tự nhiên (đất canh tác, rừng, diện tích mặt nước, bãi chăn thả tự
nhiên…), vốn vật chất (cơ sở hạ tầng nghèo nàn…), vốn con người (trình độ dân trí
thấp, không áp dụng được khoa học kỹ thuật vào sản xuất…). Và để khắc phục hiện
trạng này, hầu hết các nghiên cứu đều khuyến nghị cần có chính sách TĐC thỏa đáng
hơn, với số tiền đền bù lớn hơn, thời gian hỗ trợ lâu hơn, có cơ chế hỗ trợ toàn diện,
vốn đầu tư trực tiếp cho sản xuất lớn hơn… để giúp người dân khôi phục sinh kế. Tuy
1


vậy, cho tới nay đảm bảo sinh kế người dân TĐC bắt buộc vẫn là một vấn đề khó.
Chưa có được lời giải cho bài toán trên từ góc độ kinh tế, một số học giả trên thế giới
đã cố gắng tìm những căn nguyên và giải pháp từ góc độ văn hóa. Theodore
E.Downing và Carment Garcia – Downing (2009) chỉ ra rằng những nghiên cứu về tác
động của TĐC bắt buộc trên thế giới hiện nay ít chú ý đến các khía cạnh phi kinh tế,
khía cạnh văn hóa, tâm lý xã hội, trong khi giảm thiểu những thiệt hại này có thể ngăn
chặn rất nhiều vấn đề khác. Một số nghiên cứu khác cũng cho rằng, TĐC bắt buộc đã
làm phân tán kết cấu xã hội đang tồn tại mà những hộ gia đình nghèo dựa vào đó để có
được những nguồn lực để sống sót (Melissa Quetulio-Navarra, 2012; Tulsi C.Bisht,
2014). Tuy nhiên, vai trò và cách thức mà các yếu tố văn hóa đóng góp trong việc xây
dựng sinh kế cho người dân sau TĐC bắt buộc dường như vẫn là câu hỏi treo lơ lửng.
Tìm được câu trả lời này, chúng ta cũng sẽ tìm được cách để hiện thực hóa chủ trương
“văn hóa là động lực của phát triển”.
Việt Nam là nước đang phát triển, nơi mà rất nhiều dự án phát triển đã và đang
được triển khai, điều này đồng nghĩa với số lượng người phải TĐC bắt buộc ngày càng
lớn. Các dự án về năng lượng, đặc biệt là việc xây dựng các công trình thủy điện ở nơi
đầu nguồn các con sông, đã phải di chuyển một số lượng lớn dân cư, chủ yếu là đồng
bào các tộc người thiểu số đã có lịch sử cư trú lâu đời, gắn chặt với hoạt động sản xuất
nông nghiệp. Việc đảm bảo đời sống cho đối tượng là người dân tộc thiểu số phải TĐC
bắt buộc trong điều kiện quỹ đất sản xuất ở các địa phương hạn hẹp, khả năng chuyển

người Mường, là tộc người có bề dày lịch sử, có bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời;
2/Tập trung nghiên cứu tộc người Mường phải TĐC trong hai mô hình TĐC cụ thể là
di vén và lập làng mới; 3/Những biến đổi trong việc tiếp cận/ sử dụng các nguồn sinh
kế và sự biến đổi trong quá trình triển khai các chiến lược sinh kế của cộng đồng dân
cư của người Mường tại nơi TĐC.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt thời gian: từ khi bắt đầu quá trình TĐC ở địa bàn nghiên cứu (1982)
đến nay;
Về không gian: nghiên cứu 2 mô hình TĐC trên địa bàn xã Hiền Lương, huyện
Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cụ thể là ở 2 xóm: xóm Ké và xóm Lương Phong;
Về nội dung: tập trung nghiên cứu biến đổi sinh kế, bao gồm: các nguồn lực
sinh kế, trong đó tập trung vào nguồn vốn xã hội, các chiến lược và kết quả sinh kế và
các thể chế, tổ chức (tập trung vào các chính sách phát triển của Nhà nước và các
NGO) mang tính kết nối, tăng cường/giảm thiểu các nguồn lực sinh kế.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học

3


Đã có nhiều nghiên cứu về sinh kế của người dân TĐC bắt buộc từ nhiều góc
độ như xã hội học, chính trị học, dân số học, pháp luật, môi trường và xung đột tài
nguyên…và có nhiều nghiên cứu mang tính ứng dụng của các NGO quốc tế cũng như
trong nước. Nhưng dưới góc độ của nhân học, khoa học lấy con người làm trung tâm,
đặc biệt là những nhóm dân số dễ bị tổn thương, thì vấn đề sinh kế không chỉ mang
tính kinh tế đơn thuần, mà nó là vấn đề biến đổi và thích ứng văn hóa của tộc người bị
TĐC bắt buộc. Cho đến nay, những nghiên cứu mang tính nhân học về tộc người thiểu
số, đặc biệt là về những nhóm tộc người thiểu số bị tổn thương do các chương trình dự
án phát triển của Nhà nước gây ra chưa nhiều. Nghiên cứu nhân học này lấy sự đa
dạng văn hóa của con người làm trung tâm, và quan điểm văn hóa là động lực của sự

ở mức độ cao nhất. Có như thế những hoạt động hỗ trợ mới đạt được mục đích của
mình và người dân mới đạt được sinh kế bền vững.
5.Bố cục của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu
Chương 2: Quá trình tái định cư thủy điện Hòa Bình và địa bàn nghiên cứu
Chương 3: Biến đổi sinh kế trong mô hình “di vén”: xóm Ké
Chương 4: Biến đổi sinh kế trong mô hình “lập làng mới”: xóm Lương Phong
Chương 5: Các hoạt động hỗ trợ phát triển sau tái định cư.

5


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về
TĐC bắt buộc do các dự án phát triển và vấn đề về sinh kế/biến đổi sinh kế của người
dân sau TĐC trên thế giới, cụ thể sẽ trình bày những lý thuyết nghiên cứu chính cũng
như các cách tiếp cận đang được các học giả sử dụng. Chúng tôi cũng chỉ ra những
điểm mạnh và điểm yếu của từng lý thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận và khoảng trống
trong nghiên cứu về sinh kế của người dân sau TĐC. Tương tự, phần tổng quan tình
hình nghiên cứu về sinh kế/biến đổi sinh kế của người dân TĐC thủy điện ở Việt Nam
và thủy điện Hòa Bình cũng được phân tích để chỉ ra những thành tựu cũng như những
khoảng trống cần được bổ sung. Từ phần tổng quan tài liệu này, chúng tôi xác định
được nội dung, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong luận án.
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Vấn đề tái định cư bắt buộc trong các công trình thủy điện
TĐC thực chất là một hình thức di dân. TĐC được hiểu là con người phải tạo

những hiểu biết quan trọng và đưa ra những khuyến nghị chính sách. TĐC không
thành công không được mô hình hóa trong lý thuyết của Scudder và Colson.
Tuy nhiên, những minh chứng từ trên khắp thế giới cho thấy rằng các chương
trình TĐC bắt buộc phần lớn là thất bại. Chính Scudder (2005) đã làm một cuộc cuộc
khảo sát về đời sống của người dân sau TĐC ở 50 dự án thủy điện trên toàn thế giới và
kết quả là 36 trường hợp (chiếm 82% tổng số trường hợp được khảo sát), đời sống
người dân bị bần cùng hóa so với trước khi bị di chuyển và chỉ 7% trường hợp mức
sống của người dân được cải thiện1. Do vậy, mô hình 4 giai đoạn trên dần bị thay thế
bởi các mô hình lý thuyết khác.
*Mô hình lý thuyết IRR của Cernea
Mô hình IRR (Impoverishment risks and reconstruction model) – mô hình rủi ro
bần cùng hóa và tái thiết của Cernea (1997) đã đưa ra 8 nguy cơ rủi ro có thể xảy ra
bởi TĐC không tự nguyện, đó là: không có đất (sự chiếm đoạt vốn đất), thất nghiệp
(thậm chí ở cả những dự án có đưa lại vài công việc mới), vô gia cư (mất nhà, không
chỉ là ngôi nhà hiện hữu về vật chất, mà là một gia đình, một không gian văn hóa), bị
lề hóa (lạc hậu cả về kinh tế và tinh thần), thức ăn hạn chế hay không đủ dinh dưỡng
(lượng calo trung bình mỗi ngày thấp, bị suy nhược), tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao,
mất quyền truy cập vào các tài sản và dịch vụ chung (rừng, nguồn nước, đất chăn thả
vốn bổ sung thức ăn và thu nhâp cho những người nghèo), cộng đồng bị chia cắt. Từ
những nguy cơ rủi ro này, chiến lược tái thiết được thực hiện dựa trên sự đảo chiều
1

http://people.hss.caltech.edu/~tzs/50%20Dam%20Survey.pdf

7


những nguy cơ trên. Mô hình này cũng tích hợp trong nó tất cả sự hiểu biết về các
nguồn vốn, và khẳng định rằng, trong quá trình TĐC bắt buộc, người dân bị mất vốn
dưới tất cả các hình thức của nó. Mô hình này có chức năng dự đoán, chuẩn đoán



Một lý thuyết khác bắt nguồn từ sự băn khoăn của Theodore E. Downing và
Carmen Garcia – Downing (2009) là liệu sự chú ý quá mức và những khía cạnh kinh tế
của TĐC có bỏ qua những vấn đề cốt yếu trong văn hóa có thể giảm thiểu nguy cơ bần
cùng hóa do TĐC gây ra?. Từ đây, Theodore và Carmen Garcia (2009) đã phác thảo
một lý thuyết để nghiên cứu văn hóa tâm lý xã hội của cộng đồng bị di chuyển bắt
buộc trong một bài nghiên cứu ngắn. Đây là một bài viết mang tính lý thuyết, có minh
họa bằng những nghiên cứu của các tác giả khác. Trong bài viết này, các tác giả cho
rằng, TĐC bắt buộc đã chuyển đổi nền văn hóa quen thuộc sang một nền văn hóa đối
nghịch/xa lạ và sau một thời gian, một nền văn hóa quen thuộc gần giống như trước
được hình thành (mô hình R-D-R’: Routine – Dissonant - Routine’ (tạm dịch: quen
thuộc – đối nghịch – quen thuộc’)). Các tác giả nhấn mạnh, nền văn hóa quen thuộc
sau TĐC, nếu được tái lập sớm có thể giúp giải quyết những những căng thẳng gây ra
do sự di chuyển. Và vấn đề chúng ta cần làm là tạo điều kiện để văn hóa quen thuộc
mới được thiết lập nhanh chóng. Điều này sẽ giúp giảm thiểu các vấn đề về bần cùng
hóa văn hóa, tâm lý xã hội cũng như tăng cường năng lực về văn hóa và xã hội cho
những người di chuyển. Các tác giả cho rằng những rủi ro về văn hóa, tâm lý xã hội có
thể nhìn thấy ở mọi nơi: trong cuộc sống khó khăn, việc tổ chức lại các mối quan hệ xã
hội, những tài sản kinh tế và xã hội bị mất, những người đứng đầu bị lật đổ, mọi người
(đặc biệt là người già) trở nên ốm yếu, năng lực chống lại những đe dọa từ bên ngoài
bị giảm. Tuy nhiên những thông tin này lại không tiết lộ những động lực nằm bên dưới
để có thể giảm thiểu chúng. Một câu hỏi mang tính giả thiết được đặt ra là việc tổ chức
lại các quan hệ xã hội phải chăng là ưu thế hơn những cách khác trong việc ổn định lại
đời sống sau TĐC?. Từ đó các tác giả đi tìm những dẫn chứng trong các nghiên cứu
thực địa khác và lý giải rằng: nền văn hóa quen thuộc với những đặc tính cơ bản là trật
tự, an toàn và có thể dự đoán trước được trong cuộc sống hàng ngày đưa lại cảm giác
về sức khỏe và sự thịnh vượng. Trong diễn tiến của văn hóa quen thuộc luôn có đổ vỡ/
đứt gãy vi mô và sự điều chỉnh trở thành vô cùng thông dụng. Cá nhân thường dựa
vào mạng lưới thân tộc hay bạn bè của mình để mở rộng nguồn lực và vượt qua những

gây ra. Tuy nhiên, sự áp dụng mô hình R-D-R’ để giải quyết các bài toán TĐC bắt
buộc trong thực tế chưa có nhiều.
Trong 3 lý thuyết trên, luận án chủ yếu sử dụng mô hình lý thuyết R-D-R’ của
Theodore E. Downing và Carmen Garcia – Downing vì nó phù hợp với mục tiêu luận
án đề ra.
1.1.1.2 Các cách tiếp cận đối với TĐC bắt buộc
Hiện nay trên thế giới, đang phổ biến 3 cách tiếp cận với TĐC là: 1/cách tiếp
cận từ góc độ quản lý (cách tiếp cận từ trên xuống) ; 2/ tiếp cận dựa trên quyền (từ

10


dưới lên); 3/ cách tiếp cận trung gian của hai tiếp cận trên là: tiếp cận từ quyền và
những rủi ro (Phạm Hữu Tý 2015, tr .99).
* Các tiếp cận từ góc độ quản lý cho rằng, TĐC là đầu ra không thể tránh khỏi
và chắc chắn sẽ xảy ra nhưng lại không được định hướng trước của quá trình phát
triển. Cách tiếp cận này được đề cao bởi những người lập kế hoạch TĐC, những nhà
quản lý, thường tìm kiếm giải pháp để giảm thiểu tác động bất lợi của TĐC trong việc
lập và thực hiện những chính sách liên quan đến TĐC. Mô hình IRR của Cernea là
một minh chứng điển hình cho cách tiếp cận này. Việc vận dụng mô hình IRR vào việc
đo lường, đánh giá những rủi ro và đưa ra các biện pháp để khôi phục cuộc sống cho
người dân sau TĐC trở thành phổ biến trong các dự án mà Ngân hàng thế giới (WB)
cho vay vốn,
Tuy nhiên cách tiếp cận này bị phê phán là mang nặng tính chất áp đặt từ trên
xuống, quá nhạy cảm với “nhu cầu” của người dân mà thường bỏ qua những nguồn lực
mà họ đang nắm giữ (Phạm Hữu Tý, 2015, tr.9).
*Cách tiếp cận dựa trên quyền.
Theo Phạm Hữu Tý (2015), cách tiếp cận thứ hai được yêu thích bởi những học
giả nghiên cứu thiên về hành động, xem TĐC như một biểu hiện của cuộc khủng
hoảng về phát triển và họ làm việc với những nguyên nhân chính gây ra nó. Họ cho

yếu tố cơ bản: bình đẳng trong việc phân bổ nguồn lực và lợi ích; đảm bảo sự bền
vững trong của các nguồn lực cơ bản trên thế giới; mở rộng sự tham gia trong việc ra
quyết định; sự quản lý có hiệu quả; đáp ứng những nhu cầu của hiện tại và tương lai
(Koenig 2006, tr.112). Và để công bằng trong phát triển, WCD lập luận rằng, những
chương trình phát triển phải tập trung vào nâng năng lực con người, mở rộng những cơ
hội về mặt xã hội bằng việc tập trung giải quyết những hạn chế về mặt xã hội, con
người mà chúng tạo ra sự hạn chế trong việc lựa chọn của con người (WCD 2000).
Cũng như các mô hình lý thuyết, cho đến hiện nay, chưa cách tiếp cận nào về
TĐC bắt buộc là hoàn hảo. Nhưng tất cả đều không thể phủ nhận được một thực tế
rằng, những người TĐC bắt buộc “thường bị nghèo hơn, bị lề hóa và cô lập” (Phạm
Hữu Tý, 2015, tr 101).
Dù theo hướng tiếp cận nào, các nhà nghiên cứu về TĐC bắt buộc trên thế giới
đang có một sự đồng thuận lớn với quan điểm mà Mc Donald (1996) nêu ra trong cụm
từ “TĐC với phát triển”, và nó không ngừng được mở rộng bởi những nhà nghiên cứu
mang tính hàn lâm trên thực địa, những người làm chính sách ở các tổ chức quốc tế và
cả các quan chức chính phủ. Vilayvanh Phonepraseuth (2012) cho rằng, những người
cổ vũ cho quan điểm này thường tập trung tập trung vào việc phê phán vấn đề bồi
thường, và có một sự đồng thuận lớn, cho rằng: bồi thường là phần không thể thiếu
trong TĐC bắt buộc và có ý nghĩa quan trọng đối với sự khôi phục của những người
12


buộc phải di chuyển, nhưng khoản tiền và mảnh đất người dân được đền bù hoàn toàn
không đủ để khôi phục sinh kế trước đó của họ. Những người thực hành phát triển lập
luận rằng bần cùng hóa có thể được giảm thiểu hoặc tránh được bằng cách lập kế
hoạch cẩn thận, trong đó có chương trình phát triển cho các cộng đồng bị ảnh hưởng.
Để giảm thiểu những tác động của TĐC và sau đó đưa những người TĐC quay trở lại
con đường phát triển trước đó của họ, những nhà thực hành phát triển bình luận thêm
rằng, TĐC phải được đảm bảo như là một dự án phát triển đúng nghĩa của nó. Khái
niệm về TĐC với phát triển đang được ủng hộ rộng rãi của các học giả trong lĩnh vực

Các nghiên cứu về TĐC thủy điện trên thế giới dù là theo lý thuyết hay hướng
tiếp cận nào hầu hết đều bắt nguồn và tập trung vào giải quyết vấn đề khôi phục sinh
kế cho người dân sau TĐC. Vilayvanh Phonepraseuth (2012; tr 25), cho rằng, đã có sự
tích hợp những khái niệm phát triển bền vững trong những sáng kiến khôi phục sinh
kế. Và vấn đề ‘khôi phục sinh kế’ trở thành vấn đề quan trọng nhất trong mọi cuộc
thảo luận về TĐC và phát triển. Khôi phục sinh kế cho người dân sau TĐC là cả một
quá trình bên cạnh việc đền bù và định cư để đảm bảo rằng, dòng thu nhập, sinh kế và
hệ thống xã hội được dựng lại, những người bị ảnh hưởng và con cháu của họ đạt được
sự bền vững tốt hơn. Theo Vilayvanh phonepraseuth (2012; tr 25), có một sự đồng
thuận lớn giữa nhiều nhà nghiên cứu khi cho rằng trong quá trình chuyển cư, người
dân thường mất tất cả mọi loại vốn: vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn xã
hội, và việc mất các loại vốn trên làm yếu đi khả năng của cộng đồng trong việc xây
dựng lại cuộc sống và sinh kế của họ. Những mất mát này còn tước quyền
(disempowering) của những người bị ảnh hưởng, làm cho những yêu cầu về quyền và
tiếp cận tài nguyên của họ trở lên khó khăn hơn.
Để khôi phục sinh kế cho người dân sau TĐC, phần lớn các nghiên cứu đều
hướng tới việc khôi phục các nguồn vốn sinh kế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến
nguồn vốn mang tính vật chất như đất, rừng, cơ sở hạ tầng, tiền đền bù (ADB 1998,
2003; WB, 2004; Mathur 1995; Duan & McDonald 2004; McDonald 2006). Như trong
các nghiên cứu của mình, Cernea đánh giá nguồn vốn tự nhiên, đặc biệt là đất đai rất
quan trọng với người dân TĐC trong việc khôi phục sinh kế. Trong bài giới thiệu cuốn
sách viết vào năm 2000, Cernea cho biết, thành phần đầu tiên của việc kiến thiết và
khôi phục sinh kế mà mô hình IRR chú ý đến là đất và việc làm, sau đó xem xét việc
kiến thiết lại cộng đồng, nhà ở và các dịch vụ xã hội. Theo tác giả, “bố trí cho những
người dịch chuyển đất sản xuất hay thu nhập có từ việc làm là trung tâm của việc xây
dựng lại sinh kế” (Cernea 2000, tr.33). Nghiên cứu của Mahapatra (1999) về những
cộng đồng TĐC do việc xây dựng đập ở Ấn Độ cũng khẳng định rằng mất đất sản xuất
đưa lại sự bần cùng hóa cao nhất trong TĐC không tự nguyện.
Trong các nguồn vốn để khôi phục sinh kế cho người dân sau TĐC, vai trò của
nguồn vốn xã hội cũng đã dành được sự quan tâm nhiều của một số nhà nghiên cứu.

Việc phải di chuyển bắt buộc đã chia cắt, làm mất đi các mạng lưới xã hội của họ
khiến họ cảm thấy bị bất lực, phụ thuộc và dễ bị tổn thương. Kể cả khi được di chuyển
cả nhóm, nhóm này vẫn mất đi năng lực làm việc trong một bối cảnh mới. Quá trình lề
hóa được nhìn nhận là một quá trình mà trong đó cá nhân, gia đình bị mất đi quyền lực
kinh tế và kinh nghiệm do họ không thể sử dụng các kỹ năng cũ tại một địa điểm mới
(điều này đồng nghĩa với việc vốn con người trở nên lỗi thời). Sau TĐC, họ mất đi khả
năng kiểm soát không gian vật lý và những kiến thức, kỹ năng cũ trở nên vô tác dụng.
15


Điều này cũng có thể đưa một nhóm dân tộc xuống nấc thang cuối cùng trong bảng
xếp hạng quốc gia. Để khắc phục những rủi ro này, các chiến lược phục hồi cần nhấn
mạnh vào việc tái thiết cộng đồng và mạng lưới xã hội cho người chuyển cư, kiên trì
theo đuổi chiến lược gắn kết xã hội. Biện pháp giáo dục và tăng cường kỹ năng để sử
dụng các nguồn tài nguyên mới trong môi trường mới là một phần cần thiết để chống
lại nguy cơ lề hóa. Tuy nhiên, việc chuyển cư theo nhóm cũng đặt ra nhiều vấn đề về
việc phân bố quyền lực, về sự xung đột giữa nhóm chuyển cư và nhóm nhận cư và
xung đột ngay trong một cộng đồng. Từ đó, Koenig đặt trọng tâm nghiên cứu của
mình vào những cách gắn kết xã hội bị mất và sự lề hóa của cá nhân/cộng đồng ảnh
hưởng đến khả năng của người TĐC trong việc sử dụng những nguồn lực kinh tế và
kiểm soát cuộc sống của họ. Đặc biệt, Koenig quan tâm đến việc bần cùng hóa do sự
mất đi giá trị của kiến thức cá nhân (vốn con người), kiến thức xã hội (vốn xã hội)
trong một môi trường vật lý mới và bần cùng hóa do sự mất mát năng lực tổ chức hiệu
quả những mục tiêu của địa phương. Những mất mát về nguồn lực xã hội và văn hóa
không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà nó còn là sự mất mát lớn trong chính bản thân nó.
Những phát hiện này của Koenig giúp chúng ta hiểu sâu hơn về nguy cơ cuối
cùng trong 8 nguy cơ bần cùng hóa trong mô hình của IRR của Cernea và cũng bổ
sung thêm cho mô hình này nguy cơ còn thiếu, đó là nguy cơ của việc mất đi các giá
trị của kiến thức cá nhân, tri thức bản địa.
Những mất mát mà cộng đồng bị di chuyển có thể nhìn thấy đầu tiên là việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status