Biến đổi sinh kế của người dao di cư tự do tại huyện cư mgar tỉnh dăk lăk (TT) - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THANH THÁI

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƢỜI DAO DI CƢ TỰ DO
TẠI HUYỆN CƢ M’GAR TỈNH ĐĂK LĂK

Chuyên ngành: NHÂN HỌC
Mã số: 62. 31. 03. 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI, 2015


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI, VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP HỌC VIỆN
Họp tại Học viện Khoa học xã hội vào hồi… giờ,…. Ngày...
tháng…..năm 2016

-


thay đổi trong các hoạt động sản xuất để thích ứng với điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội ở địa bàn cư trú mới. Quá trình thích ứng đó đã diễn ra và
có nhiều yếu tố tác động tới thói quen sinh hoạt, canh tác cũng như đời
sống văn hóa tộc người. Từ kinh tế tự cung tự cấp, sản xuất cây lương
thực là chính chuyển sang sản xuất hàng hóa và thích ứng với nền kinh tế
thị trường. Do sản xuất quy mô nhỏ với diện tích canh tác hạn chế sang
sản xuất quy mô lớn với các máy móc hiện đại. Điều này đã có những tác
động không nhỏ tới đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của đồng bào
Dao ở Tây Nguyên.
Do vậy, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Biến đổi sinh kế của
người Dao di cư tự do tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk” làm luận án
tiến sĩ chuyên ngành Nhân học. Luận án góp phần làm rõ những biến đổi
và thích ứng của người dân trong quá trình định cư tại vùng đất mới,
những vấn đề đặt ra trong việc hoạch định chính sách và hỗ trợ đồng bào
1


Dao phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và bảo tồn các giá trị văn hóa
tộc người.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá những biến đổi trong sinh kế của người Dao di cư tại
huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
Phân tích những yếu tố tác động đến sinh kế của người Dao di cư,
từ đó đề xuất những giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm hỗ trợ
đồng bào Dao phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và bảo tồn các giá
trị văn hóa tộc người trên vùng đất Tây Nguyên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là sinh kế và biến đổi sinh
kế của người Dao di cư tự do tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án tập trung làm rõ những

người trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập và phát triển.
7. Bố cục của Luận án
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của đề tài, cơ sở lý thuyết và
phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Khái quát về điều kiện tự nhiên và người Dao ở huyện Cư
M’gar Chương 3: Biến đổi các loại hình sinh kế của người Dao ở huyện
Cư M’gar
Chương 4: Các yếu tố tác động tới sinh kế của người Dao di cư huyện Cư
M’gar
Chương 5: Kết quả và bàn luận
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về sinh kế
Các hoạt động sinh kế từ lâu đã được các học giả trên thế giới quan tâm
nghiên cứu. Cho tới nay không ít các công trình chuyên sâu về các loại hình
sinh kế truyền thống cũng như hiện đại của các cộng đồng trên thế giới đã
được công bố rộng rãi, qua các công trình đó chúng ta có thể nhìn thấy một
bức tranh toàn cảnh từ Châu Ấu tới các nước Châu Á và Phi Châu về những
hoạt động sinh kế đầy đa dạng và nhiều màu sắc mà các cư dân nơi đó đem
lại. Các tác phẩm của ScottM.Forrest (1996), Edward Lahiff (2003) hay
trong nghiên cứu của Priya Deshingkar và Daniel Start (2003). Các tác giả
đã lý giải các ví dụ đảm bảo sinh kế theo di cư nhằm đảm bảo cuộc sống của
họ. Một trong những vấn đề đặt ra là áp lực đối với sinh kế trong quá trình di
cư liên quan tới đất đai.
Một trong những xu hướng nghiên cứu sinh kế đó là sử dụng khung
sinh kế phát triển bền vững của DFID đã đư ợc ứng dụng trong nghiên
cứu tại nhiều nơi trên thế giới, nó được coi như một cách tiếp cận toàn
diện trong phân tích về sinh kế và đói nghèo. Đại diện là Tim Hanstad,

Các công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt
Nam. Người Dao ở Việt Nam được nhắc tới khá sớm trong chuyên khảo
Một cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng 10 năm 1901 đến tháng
giêng năm 1902 của Auguste Bonifacy những năm đầu thế kỷ XX. Từ
báo cáo này cho thấy những tư liệu về người Dao ở thượng du Bắc Bộ và
ở Thanh Hóa của Robequain đã được Nguyễn Văn Huyên dẫn lại, tuy
nhiên những tư liệu này chỉ có tính khái quát và giới thiệu về người Dao
tại Việt Nam. Phải kể tới nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc
Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến trong tác phẩm Người Dao ở Việt
Nam (1971) mới cho chúng ta một cái nhìn tổng thể và khá chi tiết về
người Dao tại Việt Nam. Một trong những chuyên khảo về người Dao
phải kể đến tác ph ẩm Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang của
Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (1999). Các tác giả đã đi sâu nghiên
cứu hai nhóm Dao tập trung và cư trú đông ở Hà Giang là Dao Đỏ và
Dao Áo dài và làm rõ những nét đặc trưng nhất trên tất cả các lĩnh vực
4


lịch sử tộc người, các hoạt động kinh tế, văn hoá vật chất, tổ chức làng
bản, gia đình và nghi lễ gia đình, tín ngưỡng tôn giáo, văn hoá dân gian,
tri thức dân gian. Các công trình nghiên cứu có tính chuyên khảo về văn
hoá vật chất của người Dao của các tác giả Nguyễn Khắc Tụng (1971),
Nguyễn Minh Phúc (2013) về nhà ở, đối với Trang phục có các nghiên
cứu của Nông Quốc Tuấn, (2002) Nguyễn Anh Cường (2003). Về văn
hoá tinh thần, có khá nhiều công trình nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là
“Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao Tiền ở Bắc
Kạn” của Lý Hành Sơn (2003), về thầy cúng người Dao Họ tại Lào Cai
của Phạm Văn Dương (2010)..... Ngoài các công trình có tính chuyên
khảo như trên chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều bài viết liên quan tới


Tiểu kết chƣơng 1
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhất là thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, áp lực về di dân và bảo đảm sinh
kế cho người dân di cư đang đặt ra với nhiều địa phương, đặc biệt là các
tỉnh khu vực Tây Nguyên. Môi trường tự nhiên là nguồn sống cơ bản của
đồng bào các dân tộc, trong đó có dân tộc Dao (vốn là cư dân sống dựa
vào rừng) đang có xu hướng bị biến đổi, quá trình thay đổi nơi cư trú từ miền
núi phía Bắc vào Tây Nguyên cũng đã có những tác động mạnh mẽ đến
sinh kế và đời sống của người Dao.
Việc lựa trọn đề tài “Biến đổi sinh kế người Dao di cư tự do tại
huyện Cư M’gar tỉnh Đăk Lăk” là thiết thực và có ý nghĩa, bên cạnh việc
tìm hiểu các hoạt động sinh kế truyền thống, luận án còn phân tích những
biến đổi và thích ứng của các hoạt động đó trong điều kiện mới. Từ đó
đưa tới những giải pháp và kiến nghị trong việc giải quyết vấn đề sinh kế
của người Dao di cư tự do tại Tây nguyên theo hướng bền vững.
Khi tiến hành nghiên cứu về biến đổi sinh kế, luận án xem xét các
vấn đề trên cơ sở lý luận của Phép biện chứng trong chủ nghĩa duy vật
lịch sử, từ đó nhìn nhận sự hình thành phát triển của các hình thái kinh tế
luôn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các thành tố trong đời
sống như: môi trường tự nhiên, điều kiện tự nhiên, môi truờng xã hội,
điều kiện lịch sử và tâm lý tộc người…Lý thuyết về sinh thái văn hoá và
lực hút lực đẩy là hai lý thuyết chủ yếu áp dụng trong luận án. Theo đó,
những hoạt động và tri thức của người Dao về sinh kế đuợc nhìn nhận
một cách khách quan cũng như đặt trong bối cảnh văn hoá riêng của họ.
Đối với những lý thuyết nêu trên các hoạt động và sự biến đổi sinh kế
của người Dao di cư được nhìn nhận như sự thích ứng với môi trường tự
nhiên và xã hội hoàn toàn mới. Viêc thay đổi hay thích ứng với điều kiện
mới của người Dao di cư chính là sự điều chỉnh các yếu tố tự nhiên và xã
hội để phục cho nhu cầu nội tại của họ.

Mnông, Hrê, Dao, Tày, Nùng, Thái, Mường, Sán Dìu, Sán Chay. Trong
đó, dân tộc thiểu số là 6.429 người (chiếm 76,4% dân số toàn xã) gồm
dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc thiểu số di cư từ các tỉnh phía Bắc. Xã
có 3 tôn giáo chính: Công giáo, Phật giáo và Tin lành; với 515 tín đồ
(chiếm 5,6% dân số của xã).
Xã Cư Suê
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 3.513ha, trong đó đất nông
nghiệp là 3.143ha (chiếm 90% tổng diện tích tự nhiên), và nhóm đất
chưa sử dụng 35ha. Đất nông nghiệp chủ yếu là loại đất nâu đỏ, nâu
vàng trên đá Bazan nên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các
cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, tiêu,
cây ăn quả...Toàn xã được chia thành 11 thôn, buôn với 2.031 hộ và
11.503 khẩu, với ba dân tộc cùng sinh sống gồm Kinh, Dao, Ê đê, trong
đó người Ê đê có 780 hộ với 4.964 khẩu, người Dao 371 hộ và 1861
nhân khẩu.
2.2.Đặc điểm kinh tế– xã hội - văn hóa của ngƣời Dao tại huyện Cƣ M’gar
2.2.1. Đặc điểm kinh tế
Hoạt động kinh tế của người Dao ở Cư M’gar chủ yếu là trồng trọt các
loại cây công nghiệp kết hợp cây lương thực. Do cư trú gần với các dân
7


tộc tại chỗ Tây Nguyên, người Dao đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm
sản xuất của người Ê đê trong trồng trọt và chăm sóc các loại cây công
nghiệp dài ngày có hiệu quả kinh tế cao. Nguồn thu nhập của hộ gia đình
người Dao ở Cư M’gar đã tăng lên đáng kể nhờ cây công nghiệp dài
ngày. Ngoài ra, người Dao cũng đã có thêm những hoạt động kinh tế mới
như buôn bán, trao đổi hàng hóa..
2.2.2. Đặc điểm xã hội
Người Dao có tập quán cư trú thành các làng bản, trong tiếng Dao

trong cuộc sống của người Dao, nhà đất thường có ba hoặc năm gian
8


đứng. Bộ sườn của nhà nền đất được cấu tạo khá đơn giản, thông thường,
mỗi vì kèo chỉ có hai hoặc ba cột, một quá giang và một bộ kèo đơn. Với
người Dao, nhà nền đất luôn mang tính chất bền vững, thích hợp với điều
kiện sản xuất tương đối ổn định ở miền núi rừng.
Về trang phục, tại Cư M’gar có các nhóm Dao di cư từ Quảng Ninh,
Lạng Sơn và Cao Bằng, bộ phận người Dao từ hai tỉnh Quảng Ninh và
Lạng Sơn có phong tục và ngôn ngữ với nhiều nét tương đồng. Ngày nay
không còn mặc trang phục truyền thống phổ biến như trước nữa, thường
ngày chỉ mặc âu phục chỉ có nữ giới thuộc thế hệ người già thỉnh thoảng
còn mặc. Tuy nhiên, trong các nghi lễ tôn giáo hay các sự kiện trọng đại
của cuộc đời thì bộ trang phục truyền thống vẫn giữ vai trò rất quan trọng
như trong nghi lễ cấp sắc, lễ cưới khi đứng trước bàn thờ trình báo với tổ
tiên. Vì vậy, trong gia đình mỗi người Dao vẫn có một vài bộ trang phục
truyền thống để mặc khi cần thiết.
Văn hóa tinh thần: Ngôn ngữ người Dao thôn Hợp Thành hiện nay
sử dụng thành thạo hai thứ tiếng là tiếng Dao và tiếng phổ thông, trong
phạm vi gia đình tiếng Dao vẫn được sử dụng thường xuyên, đặc biệt
trong các nghi lễ có tính chất tín ngưỡng. Hiện nay trong cộng đồng
người Dao tại Cư M’gar có khá nhiều thầy cúng biết và sử dụng thành
thạo chữ nôm Dao để thực hiện các nghi lễ có tính chất truyền thống của
cộng đồng.
Về tín ngưỡng: Tín ngưỡng chính là thờ cúng tổ tiên và Bàn Vương, đối
với thờ cúng tổ tiên, người Dao cho rằng tổ tiên chỉ tới thăm họ vào những
dịp lễ tết. Trong khi đó Bàn Vương đuợc coi là tổ tiên chung của tất cả người
Dao và được thờ cúng, khấn vái cùng với tổ tiên của các gia đình, dòng họ .
Hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh với niềm tin mọi vật đều có linh hồn

người Dao di cư ở Cư M’Gar làm nông nghiệp là chính, mặc dù với cơ cấu
chủ hộ người Dao thuộc dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi lao động
cao, tuy nhiên do tỷ lệ người được đào tạo thấp vì vậy số lượng lớn chủ hộ
làm nông nghiệp.
Tiểu kết chương 2
Là một tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao ở Việt Nam,
địa bàn cư trú truyền thống là các tỉnh miền núi phía Bắc. Hiện nay do
quá trình di cư tự do ngưới Dao đã có mặt khá đông đảo ở các tỉnh Tây
nguyên trong đó có Đăk Lăk là nơi tập trung số lượng người Dao sinh
sống đông nhất.
Điều kiện tự nhiên của xã Ea Mdro’h và Cư Suê khá đặc trưng địa
hình của xã tương đối bằng phẳng, khí hậu ở đây mang đặc điểm chung
của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Nằm trong tiểu vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa cao nguyên nên nơi đây có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ
tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, khí hậu khô và lạnh, độ ẩm
thấp, thường có gió mạnh từ cấp 4 đến cấp 6. Tuy nhiên, do sự lạm dụng
khoan giếng không theo quy hoạch cụ thể nên mực nước ngầm những
năm gần đây đã tụt sâu hơn. Nguy cơ thiếu nước trong mùa khô vẫn có
thể xảy ra cộng với diện tích cà phê, hồ tiêu, điều trên địa bàn có nhu cầu
nước tưới nhiều trong mùa khô cũng gây tình trạng thiếu nước.
Người Dao di cư vào huyện Cư M’gar tỉnh Đăk Lăk chủ yếu từ các
tỉnh Quảng Ninh, Cao Bằng, họ di cư thành nhiều đợt khác nhau, đến
năm 2009 toàn huyện có tới hơn 9000 người. Lý do di cư của người Dao
10


chủ yếu là do thiếu đất sản xuất và do có nghe theo họ hàng vào trước và
định cư tại đây vì có nhiều đất, chủ động được nguồn nước và quan trọng
nhất là đã có người cùng họ sinh sống từ trước. Chủ hộ người Dao đi cư
đa phần là nam, hầu hết trong độ tuổi lao động, tuy nhiên học vấn không

đảm bảo năng suất và sản lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình
3.1.1.2. Ruộng nước
Trước Cách mạng tháng Tám, một bộ phận người Dao đã biết canh tác
11


ruộng nước Việc cấy lúa được người Dao tiến hành thành hai vụ, lúa chiêm
họ thường cấy vào tháng Chạp hoặc tháng Giêng âm lịch, đối với lúa mùa
thường được cấy vào đầu tháng sáu. Trải qua quá trình chăm sóc, vào tháng
cuối tháng 9 đầu tháng 10 âm lịch hàng năm, thì tiến hành thu hoạch lúa.
3.1.1.3. Vườn
Vườn đóng vai trò rất nhỏ bé trong đời sống của người Dao. Đồng
bào chọn mảnh đất gần nhà, thường là gần các nguồn nước rồi dùng phên
quây lại, trong cùng một mảnh vườn trồ ng nhiều loại rau khác nhau để
làm nguồn cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày .
3.1.1.4. Tri thức liên quan tới nông nghiệp
Tri thức về mùa vụ
Do sinh sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu vì vậy mùa vụ đặc biệt quan
trọng trong kỹ thuật canh tác của người dân, có thể nói nó đóng góp rất lớn trong
việc quyết định tới cuộc sống.
Tri thức trong chọn đất
Việc chọn đất canh tác là công việc đặc biệt quan trọng do đó thông thường
người làm việc này là chủ nhà hoặc người lớn trong gia đình. Theo kinh nghiệm,
người Dao sẽ chọn sườn núi phía Đông theo hướng mặt trời mọc vì đó là hướng
có nhiều ánh sáng, tạo điều kiện cho ngô lúa và hoa màu phát triển.
Tri thức liên quan tới giống
Việc chọn giống cũng khá quan trọng đối với giống ngô người Dao thường
giữ những bắp to, hạt đều nhau, khi thu hoạch họ thường bẻ bắp và để nguyên
lớp vỏ bên ngoài rồi buộc túm từng bó khoảng 3 – 5 bắp treo lên gác bếp.
3.1.2.Chăn nuôi

Dao thực hiện tại vùng đất mới. Tuy nhiên, các loại giống lúa, ngô, đỗ
tương, đỗ đen cũng đã được lựa chọn thay đổi những giống mới phù hợp
với khí hậu và điều kiện tự nhiên của vùng đất mới. Bên cạnh các cây
trồng truyền thống, người Dao đã tiếp thu, học hỏi các tri thức chăm sóc,
trồng trọt các loại cây công nghiệp như cà phê, tiêu, điều là những cây
trồng công nghiệp hoàn toàn mới khác xa so với các cây trồng truyền
thống. Nhờ có sự chuyển đổi này, các cây trồng mới đã tạo thu nhập cao
và ổn định cho người Dao ở Cư M’gar.
+ Biến đổi trong kỹ thuật canh tác
Nếu như trong truyền thống, kỹ thuật canh tác chủ yếu bằng thủ
công, thiên về trồng trọt đất dốc như “đao canh hỏa chủng”, canh tác
nương rẫy dùng gậy chọc lỗ (chỉn truy) tra hạt, làm lúa nước dùng trâu
bò cày kéo thì hiện nay, người Dao đã áp dụng thêm nhiều hình thức
canh tác hiện đại, có sử dụng các kỹ thuật canh tác mới, áp dụng khoa
học kỹ thuật hiện đại mang lại năng suất và sản lượng cây trồng cao hơn
nhiều so với các kỹ thuật truyền thống. Với các loại cây công nghiệp,
người Dao đã áp dụng hoàn toàn các kỹ thuật hiện đại vào chăm sóc và
áp dụng thêm các tri thức kinh nghiệm của một số tộc người tại chỗ sống
cùng trong khu vực như Ê đê…
- Ruộng nước
Khi còn ở ngoài Bắc thì thường bà con làm một vụ (có nơi làm 2 vụ)
và một vụ lúa nương, khi mới di cư vào Cư M’gar bà con cũng áp dụng
theo truyền thống canh tác cũ của ruộng khô, tuy nhiên theo thời gian dần
chuyển đổi chuyển sang trỉa bắp. Một số diện tích ruộng khô vẫn được
duy trì để trồng lúa 1 vụ.
- Làm vườn
Trong mảnh vườn của mình người dân thường trồng các loại rau như
13



Khai thác các nguồn lợi tự nhiên
Dù với lý do như thế nào, từ thực tế cho thấy các hoạt động khai thác
nguồn lợi từ thiên nhiên của người Dao hiện nay tại Cư M’gar không còn
được người dân duy trì. Đây chính là hệ quả của việc khai thác tài nguyên
quá mức dẫn tới biến mất của rừng, đó là một thực tế hiện nay tại Cư M’gar.
Nghề thủ công
Bước vào thời kì công nghiệp hóa, các loại đồ dùng thông dụng đều
được các ngành sản xuất, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống,
những đồ dùng do công nghiệp sản xuất rất tiện dụng chiếm ưu thế hơn
14


các loại đồ dùng thông thường do thủ công làm ra.
Hoạt động mua bán, trao đổi
Trước đây đường xá đi lại khó do đó chỉ khi nào có việc cần thiết họ
mới tới chợ, hiện nay tại Cư M’gar địa hình thuận lợi, hầu hết các hộ
người Dao có điều kiện mua sắm được các xe máy, xe đạp điện… vì việc
đi lại thuận tiện không cần chờ chợ phiên như trước đây để mau hàng hóa
thiết yếu như trước.
3.2. 4. Các hoạt động sinh kế mới
Theo thống kê tại xã Cư Suê có tới 190 cơ sơ kinh tế phi nông
nghiệp với số lao động là 221 người, tại xã Ea Mdro’h có số lượng ít hơn
với 93 cơ sở và 116 lao động. Đây hầu hết là các cơ sở kinh doanh nhỏ
tại cộng đồng như buôn bán tạp hoá, bánh kẹo, hàng ăn, quán cà phê, thu
mua phế liệu…Các loại hình sinh kế khác như xây dựng cũng đã xuất
hiện trong cộng đồng người Dao, đây là những hộ lấy việc nhận các công
trình xây dựng nhỏ, tính chất gia đình. Hình thức tín dụng tư nhân cũng
xuất hiện trong cộng đồng, những người làm nghề này thường là những hộ
có điều kiện kinh tế, thường hỗ trợ các hộ gia đình khác trong cộng đồng
về tài chính trong thời gian ngắn và với phương thức thuận tiện nhất.

cung tự cấp, sản xuất cây lương thực là chính chuyển sang sản xuất hàng hóa
và thích ứng với nền kinh tế thị trường, từ sản xuất quy mô nhỏ với diện tích
canh tác hạn chế sang sản xuất quy mô lớn với các trang thiết bị canh tác
hiện đại. Điều này đã có những tác động không nhỏ tới đời sống kinh tế - xã
hội và văn hóa của đồng bào Dao di cư ở Tây Nguyên.
Các nghề mới cũng xuất hiện trong cộng đồng người Dao tại địa
phương, đã xuất hiện những hộ theo mô hình kinh doanh vừa và nhỏ, đặc
biệt mô hình trang trại với hình thức sản xuất lớn cũng đã hình thành,
một số nghề khác như xây dựng, làm thuê, cho vay…cũng đã xuất hiện
nhưng không nhiều.
CHƢƠNG 4: CÁC YẾU TÁC ĐỘNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƢỜI
DAO DI CƢ Ở HUYỆN CƢM’GAR
4.1. Các chính sách Đảng và Nhà nƣớc liên quan đến di cƣ và sinh kế
của ngƣời Dao
4.1.1. Chính sách định canh định cư
Trong thời gian gần đây, để tiếp tục hỗ trợ đồng bào các dân tộc thực
hiện việc ĐCĐC, Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho vùng và
hộ gia đình để đất sản xuất, ổn định đời sống xoá đói giảm nghèo
4.1.2. Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt
cho đồng bào dân tộc thiểu số đời sống khó khăn
Đối với người Dao tại xã Ea Mdro’h đến nay đã có 14 hộ được
hỗ trợ làm nhà theo chương trình, khi triển khai đa số người dân đều
tự xây dựng nhà ở với sự giúp đỡ của bà con thôn bản trong thời gian
qua tại xã Ea Mdro’h đã hỗ trợ cho hai hộ nghèo là người dân tộc Dao
mỗi hộ 5 sào đất nông nghiệp (5.000m2/hộ).
4.1.3. Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng
Trên cơ sở các chính sách của Đảng và nhà nước trong việc đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng đến nay tại xã Ea Mdro’h đã có 4 tuyến đường
liên xã chính với tổng chiều dài là 16,41km, hồ chứa nước, hệ thống điện
lưới quốc gia, các cấp học từ mầm non tới trung học phổ thông đã được

Những biến đổi trong nghi lễ liên quan tới mùa vụ
Duy trì các nghi lễ truyền thống là vấn đề luôn được ngườ Dao quan
tâm việc tiết giảm các nghi lễ được thông qua một cách công khai bằng
bỏ phiếu tại cuộc họp của cả cộng đồng. Từ đây các nghi lễ Ái xang môn
(1/4 âm lịch), Nám xang môn (1/7 âm lịch) và Nám xang môn (1/10 âm
lịch) và chỉ còn tổ chức Sằng môn man (cầu mùa) và Nám xang môn man
(trả lễ).
Biến đổi trong nghi lễ gia đình
Hiện nay người Dao tại xã Ea Mdro’h chỉ còn duy trì các nghi lễ:
Hóa vàng, Thanh minh, Xá tội vong nhân, Cúng cơm mới và tết Nguyên
đán.Tại đây cũng có một biệt lệ so với quê cũ đó là người đứng chủ thực
hành nghi lễ (đều là chủ nhà) nếu theo đúng phong tục phải là người đã
17


được cấp sắc mới được phép thực hiện nhưng do không phải ai cũng có
điều kiện để làm lễ (phải làm nhà thờ họ tại quê cũ).
Những biến đổi trong nghi lễ của cộng đồng
Sự thay đổi quan trọng nhất đó là hạn chế số lượng các nghi lễ cộng đồng,
hiện nay ở khu vực người Dao sinh sống tại huyện Cư M’gar không còn duy trì
các nghi lễ Ái xang môn (1/4 âm lịch), Nám xang môn (1/7 âm lịch) và Nám
xang môn (1/10 âm lịch), hiện nay chỉ duy trì 2 lễ chính là Sằng môn man – lễ
cầu mùa (đầu năm âm lịch) và Nám sang môn man (cuối năm) để trả ơn tổ tiên
và thần thánh.
4.3. Tác động của biến đổi sinh kế tới đời sống kinh tế, xã hội của hộ
gia đình ngƣời Dao di cƣ
4.3.1. Tác động đến kinh tế hộ gia đình
Với mục tiêu là làm kinh tế, vì vậy thu nhập của các hộ người Dao
định cư tại Cư Suê và Ea Mdro’h ngày càng tăng, nhất là với những hộ
đã định cư sớm. Từ kết quả điều tra cho thấy số hộ có thu nhập trên 100

con em mình.
Tiểu kết chƣơng 4
Nhằm ổn định đời sống đồng bào dân tộc thiểu số đến nay hàng loạt
các chính sách, dự án đã được thực hiện tại xã Cư Suê và Ea Mdro’h
dưới nhiều hình thức khác nhau, những chính sách đó đã giúp người dân
phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện sống của đồng bào dân tộc thiểu số
trong đó có người Dao. Mối quan hệ giữa người Dao và các tộc người
cùng sinh sống, đặc biệt là người Ê đê ngày càng được cải thiện rõ nét
thông qua các nghi lễ có tính chất cộng đồng (lễ hội đoàn kết dân tộc)
hay của hộ gia đình như việc cưới, tang ma…
Cùng với việc định cư, những nghi lễ tôn giáo trong các hoạt động
nông nghiệp được duy trì trong đồng bào, tuy nhiên những yếu tố nguyên
gốc đã thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của đồng bào tại nơi ở
mới. Các hoạt động được giản trừ về mặt số lượng, thời gian và vật phẩm
nhưng vẫn đảm bảo tính thiêng và đáp ứng các nhu cầu tâm linh của
người dân tại nơi ở mới.
Đời sống của người Dao tại Cư M’gar ngày càng tốt hơn, thu nhập
của hộ dân ngày càng tăng cao, cùng với đó là sự đa dạng trong các
nguồn thu của hộ thông qua chăn nuôi, buôn bán nhỏ, tiền tích luỹ, làm
thuê…Mặc dù vậy thu nhập chính của người dân vẫn là từ trồng các loại
cây công nghiệp như: Cà phê, tiêu..Từ việc đa dạng hoá nguồn thu cũng
như từ cà phê và tiêu số hộ có tích luỹ cao ngày càng tăng. Nhiều hộ đã
vươn lên có kinh tế khá giả và giàu có. Cùng với sự cải thiện kinh tế hộ
gia đình cơ hội tiếp cận với các dịch vụ công như y tế, giáo dục của
người Dao di cư cũng được cải thiện...Trẻ em người Dao có nhiều cơ hội
đến trường hơn và người Dao đã được tiếp cận đầy đủ hơn với các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe
CHƢƠNG 5: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
5.1. Kết quả
5.1.1. Tây Nguyên là mảnh đất hấp dẫn với những điều kiện tự nhiên

lệnh cấm phá rừng đã phần nào ảnh hưởng tới canh tác truyền thống. Từ cư
dân canh tác nương rẫy là chính họ chuyển sang làm ruộng với hai loại hình
ruộng nước và ruộng khô. Ruộng nước tại Cư M’gar không nhiều nhưng
canh tác được 2 vụ, trong khi đó đối với ruộng khô người dân trồng thêm các
loại rau củ để phục vụ cho nhu cầu gia đình. Trong những năm gần đây việc
chuyển dịch sang trồng các loại cây công nghiệp như cà phê, tiêu diễn ra
nhanh chóng trong cộng đồng nguời Dao tại Cư M’gar và đây đuợc coi là
nguồn thu chính và chủ yếu của người dân.
5.2. Bàn luận
5.2.1. Sinh kế có tác động đến quan hệ tộc ngƣời giữa ngƣòi Dao di
cƣ và các dân tộc khác tại Tây Nguyên
Tác động đến quy hoạch và phát triển sản xuất
Do đa số người dân sống bằng nông nghiệp vì vậy việc đầu tư công
sức và tiền của vào đất để tăng thu nhập là điều tất yếu. Có tới 68,6% số
người được hỏi tại xã Cư Suê và 60,2% ở xã Ea Mdro’h khẳng định họ sẽ
20


đầu tư thêm vào đất đai của gia đình. Lý do họ đầu tư thêm là có nhiều
giống cây lương thực mới cho năng suất tốt với 47,1% (Cư Suê) và
76,3% (Ea Mdro’h). Trong khi đó với lý do hệ thống thủy lợi tốt hơn hay
được nhà nước có chính sách hỗ trợ có tỷ lệ đồng ý không cao chỉ đạt từ
10 đến 16,9% trên cả hai xã.
- Vấn đề quản lý và sử dụng đất
Những người di cư thường là những hộ thiếu đất sản xuất, chính vì vậy mục
tiêu được sở hữu một mảnh đất để canh tác là một trong những mong muốn
hàng đầu của người dân. Bằng nhiều con đường khác nhau như phá rừng làm
rẫy, xâm lấn đất lâm trường, mua bán chuyển nhượng đất đai.... Chính vì vậy
dẫn đến những rủi ro và phát sinh khiế u kiện liên quan tới đất. Hầu hết các hộ
gia đình người Dao chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hơn

quyền giúp đỡ trong việc khai phá đất để đảm bảo sinh kế. Tuy nhiên số lượng
đất do chính quyền địa phương quản lý có hạn không thể đáp ứng đuợc nhu
cầu ngày cao của người dân nhất là những hộ mới di cư tới.
Chính từ sự bức xúc của người dân dẫn tới địa bàn trở thành điểm nóng
trong vấn đề an ninh trật tự tại địa phương, những phần tử xấu từ nơi khác tập
trung khai thác, lôi kéo người dân theo đạo, chống đối lại chính quyền địa
phương. Trong vài năm trở lại đây, cùng với sự vào cuộc của chính quyền địa
phương hiện nay tình hình đã ổn định, các hộ dân đều có đất đảm bảo cuộc
sống của gia đình, tuy nhiên có tới 70% số hộ không có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Đây cũng là một trong những thiệt thòi của các hộ dân vì như vậy
không thể thế chấp để vay vốn ngân hàng nhằm đầu tư làm ăn theo hướng lâu
dài và ổn định.
5.3. Một số vấn đề tiếp tục nghiên cứu
- Vấn đề đất đai và quan hệ tộc người của người Dao di cư đối với các nông
trường, xí nghiệp và các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên
- Vấn đề quản lý và sử dụng đất của người dân tộc thiểu số di cư tới Tây nguyên.
- Hoạt động sinh kế của người Dao di cư có so sánh với các dân tộc thiểu số di
cư từ miên núi phía Bắc vào Tây nguyên như Hmông, Thái, Tày, Nùng.
5.4.
Một số khuyến nghị
Di cư, tái định cư cũng như sinh kế của người di cư nhất là liên quan tới
DTTS, trong đó có người Dao đang là vấn đề đặt ra tại Tây Nguyên. Các chính
sách của tỉnh và Trung ương cần tập trung vào các giải pháp ổn định đồi sống và
sinh kế cho các hộ dân. Trên cơ sở nghiên cứu thực tế tại địa phương tôi đưa ra
nhóm kiến nghị nhằm ổn định đời sống của người di cư trong đó tập trung vào
các hộ DTTS.
Một là kiến nghị về ổn định sinh kế gắn với quản lý và sử dụng đất đai với
người di cư ở Tây Nguyên; Rà soát và có kế hoạch phân bổ lại đất một cách hợp
lý đủ cho người Dao di cư nhằm đảm bảo đời sống và ổn định sinh kế người
dân. Tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất để người

luôn thường trực trong các hộ dân nhất là giai đoạn giáp hạt. Các hoạt động sinh
kế khác như săn bắt, hái lượm hay trao đổi hàng hoá vẫn chỉ mang hình thức
kinh tế phụ trợ là chủ yếu chứ chưa chuyển thành thị trường chuyên biệt.
Ở địa bàn cư trú mới, các hoạt động canh tác nương rẫy truyền thống vẫn
được duy trì, tuy nhiên đã có sự thay đổi đáng kể trong kỹ thuật canh tác, giống,
mùa vụ để phù hợp với điều kiện tự nhiên tại vùng đất mới. Các loại cây trồng
có tính hàng hóa và cho thu nhập cao như cà phê, tiêu được người dân tiếp thu,
học hỏi và phát triển đã góp phần thay đổi đời sống của người Dao di cư, tuy
nhiên những cây lương thực truyền thống khác vẫn được người dân duy trì và
đóng góp đáng kể vào đời sống của người dân.
Khi người Dao di cư tự do đặt chân vào vùng Cư M’gar, điều kiện sản xuất
và các hoạt động sống của họ thay đổi không giống như quê cũ. Các loại giống
và nông cụ mang theo đều không phát huy hiệu quả khi sử dụng vì chúng chỉ
phù hợp với khu vực đất dốc và khí hậu như ngoài Bắc. Để tồn tại, họ đã học hỏi
cách canh tác của những những tộc người tới trước và tộc người tại chỗ nơi họ
di cư tới. Từ những thời điểm học hỏi kinh nghiệm về giống, mùa vụ đã đảm
bảo cho người dân có đủ lương thực để sinh sống và bám trụ nơi đất mới. Đất
đai là mối quan tâm hàng đầu với người di cư, do đó việc sở hữu một cuộc đất là
nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Diện tích đất trung bình của một hộ tại địa bàn điều
tra khá lớn trên 10.000m2/hộ. Giá trị đất ngày càng tăng vì vậy những hộ sở hữu
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status