1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===***===
PHẠM THỊ THU HÀ BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƢỜI TÀY
Ở BIÊN GIỚI TỈNH LẠNG SƠN
TỪ ĐỔI MỚI (1986) ĐẾN NAY
(Nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh,
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Hà Nội - 2012
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 10
2. Mục đích nghiên cứu 12
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4. Nguồn tài liệu 13
5. Đóng góp của luận văn 5
6. Bố cục của luận văn 14
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 15
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 15
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 15
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước 17
1.2. Cơ sở lý luận và Phƣơng pháp nghiên cứu 23
1.2.1. Cơ sở lý luận 23
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
1.3. Một số khái niệm cơ bản 24
1.3.1. Khái niệm sinh kế 24
1.3.2. Một số khái niệm khác 26
1.4. Hƣớng tiếp cận Lý thuyết 27
Tiểu kết chƣơng 1 34
Chƣơng 2. SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI TÀY Ở
XÃ TÂN THANH 36
2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - xã Tân Thanh 36
4.1.2.Mở cửa biên giới và bình thường hóa quan hệ Việt - Trung 90
4.1.3. Sự thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh 95
4.1.4. Chương trình phát triển vùng biên của Trung Quốc - chiến lược
“Hưng biên phú dân” 100 7
4.2. Tác động của biến đổi sinh kế tới đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội
của ngƣời Tày ở Tân Thanh 101
4.2.1. Đời sống kinh tế 101
4.2.2. Đời sống văn hóa 97
4.2.3. Đời sống xã hội 105
4.3. Những vấn đề đặt ra 109
4.3.1. Đất đai và sinh kế bền vững 119
4.3.2. Vấn đề gìn giữ văn hóa truyền thống 122
4.3.3. Những bất ổn, rủi ro và bất bình đẳng 114
4.3.4. Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh biên giới 118
Tiều kết chƣơng 4 119
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHẦN PHỤ LỤC 134
8
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Bảng giá giống vụ xuân năm 2012 69
Bảng 3.2: Diện tích và Năng suất cây trồng thôn Bản Thẩu năm 2011 70
Sinh kế là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, là cách thức con
người tác động vào tự nhiên, môi trường để tạo ra của cải vật chất nhằm đảm
bảo cuộc sống mưu sinh của mình.
Sinh kế cũng là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc
người, có mối quan hệ hữu cơ với văn hóa đảm bảo đời sống (văn hóa vật
chất), văn hóa xã hội (cấu trúc, thiết chế, các quan hệ xã hội) và văn hóa nhận
thức (tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ…). Mặt khác, cũng như văn hóa tộc
người, sinh kế cũng có quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và
xã hội), có giao lưu, tiếp nhận và trao đổi với các cộng đồng khác. Chính điều
đó làm cho văn hóa cũng như sinh kế tộc người luôn có những thích ứng để
sinh tồn và phát triển.
Cũng như các thành tố khác của văn hóa tộc người, sinh kế có thể cung
cấp các dữ liệu quan trọng trong việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình tộc người,
quá trình thiên di, ảnh hưởng văn hóa…Vì thế có thể cung cấp những cơ sở
quan trọng trong việc hoạch định các chương trình, dự án phát triển kinh tế,
xã hội có tính chiến lược cho từng khu vực, lãnh thổ cụ thể.
Việc nghiên cứu sinh kế cũng giúp chúng ta hiểu được hệ thống tri thức
trong sản xuất đã tích lũy, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ở
những môi trường tự nhiên - xã hội khác nhau, các tộc người lại có những
cách ứng xử khác nhau để tồn tại và phát triển. Vì thế, nghiên cứu sinh kế
giúp chúng ta hiểu được đặc thù, sắc thái riêng biệt của từng tộc người.
Hiện nay, sự vận động, thay đổi và phát triển của xã hội ngày càng diễn
ra nhanh và toàn diện hơn. Trong bối cảnh đó, văn hóa cũng như sinh kế của
các tộc người cũng có những thay đổi để thích ứng. Việc nghiên cứu sinh kế
cũng như sự biến đổi của nó ở những thời điểm nhất định là công việc cần
11
thiết. Điều đó chẳng những góp phần hiểu biết toàn diện hơn về văn hóa tộc
người mà còn thấy được sự thay đổi, thích ứng của các cộng đồng trong
những giai đoạn cụ thể của lịch sử.
phong tục tập quán, hôn nhân gia đình, lễ hội…còn những vấn đề về văn hóa
đương đại trong mối quan hệ với sự biến đổi kinh tế - xã hội và với quá trình
giao lưu quốc tế hầu như chưa được đề cập nhiều.
Tân Thanh là một trong những xã biên giới thuộc huyện Văn Lãng, tỉnh
Lạng Sơn, nằm trong khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh - Pò Chài, phía Đông
giáp Trung Quốc, có đường biên dài 8 km, dân cư chủ yếu là người Tày -
Nùng. Nằm trong khu kinh tế cửa khẩu, có nền kinh tế thương mại - dịch vụ
khá phát triển trong nhiều năm trở lại đây, Tân Thanh là nơi gặp gỡ, giao lưu,
trao đổi mua bán giữa người Tày với cư dân ở bên kia biên giới. Các hoạt
động này đang tạo nên sự biến chuyển lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội của
người Tày ở Tân Thanh. Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài “Biến đổi sinh kế của
người Tày ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn từ Đổi mới (1986) đến nay -
(Nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh
Lạng Sơn)” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ về sinh kế truyền thống cũng như những biến đổi trong sinh
kế hiện nay của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn.
- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế của người Tày
và sự lựa chọn các chiến lược sinh kế của cư dân ở đây.
- Góp phần tìm kiếm các giải pháp tốt nhất để ổn định đời sống, phát triển
kinh tế cùng với việc bảo tồn các giá trị văn hóa của người Tày ở Tân Thanh.
* Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra đối với đề tài này là:
13
- Sinh kế truyền thống của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh
là gì? Hiện nay nó có những thay đổi như thế nào? Nguyên nhân nào dẫn đến
sinh kế của họ biến đổi như vậy?
- Hoạt động sinh kế chính hiện nay của các hộ gia đình người Tày ở
thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh là gì?
vùng biên giới, cùng với đó là những yếu tố tác động đến sự chuyển đổi này.
- Luận văn đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, hoạch
định chính sách có những giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định sinh kế bền vững
đối với người Tày ở Tân Thanh.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 4 chương với nội dung như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Tày ở Tân Thanh
Chương 3: Sự biến đổi trong phương thức mưu sinh của người Tày ở
Tân Thanh từ Đổi mới (năm 1986) đến nay
Chương 4: Những yếu tố tác động đến biến đổi sinh kế của người Tày ở
Tân Thanh.
15
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Cho đến nay, công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về người
Trong công trình này, tác giả đã tìm hiểu mối quan hệ giữa con người
với môi trường theo nghĩa rộng (bao gồm cả con người và các quan hệ xã hội)
để đề ra chính sách và chiến lược bảo vệ và phát triển môi trường bền vững,
chống đói nghèo trên toàn thế giới. Phải chăng có thể quy cho đói nghèo đã
gây nên khủng hoảng môi trường toàn cầu hay ngược lại, sự xuống cấp của
môi trường toàn cầu mới là nguyên nhân chính của nghèo khổ? Câu hỏi đó
nằm ở tâm điểm của cuốn sách mà tác giả quan niệm “môi trường” theo nghĩa
rộng nhất: Môi trường bao gồm cả con người và các quan hệ xã hội. Trước
hết, nó phản ánh những mối quan hệ giữa đói nghèo với sự thay đổi của môi
trường, từ cả góc độ lý thuyết và thực hành. Tiếp đó, cuốn sách giới thiệu các
khung hành động của các cơ quan phát triển, thăm dò các quan hệ quyền lực
và tư tưởng về sự tham gia của những người có lợi ích thiết thân và đặc biệt là
quan niệm về sinh kế bền vững. Sau nữa, cuốn sách thảo luận những công cụ
và phương pháp tiếp cận dự án quản lý. Cuối cùng, nó xem xét làm thế nào để
các chiến lược và chính sách có thể giải quyết được những nguyên nhân cơ
cấu của môi trường xuống cấp và nghèo đói.
17
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Người Tày ở Việt Nam là một trong những tộc người có lịch sử và
truyền thống văn hóa lâu đời. Chính vì thế đã thu hút được nhiều nhà khoa
học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ngay từ thời kỳ nhà Lê và nhà
Nguyễn đã xuất hiện những tập sách viết về các dân tộc ở Việt Nam, trong đó
có người Tày như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi; Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy
Đôn; Lịch triều hiến chương loại chí và Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy
Chú; Cao Bằng lục của Phan Lê Phiên; Cao Bằng ký lược của Phạm An Phù;
Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật; Cao Bằng thực lục của Bế Hữu
Cung; Cao Bằng tạp chí của Bế Huỳnh; Cao Bằng sự tích của Nguyễn Đức
Nhã; Hưng Hóa xứ phong thổ lục của Hoàng Bình Chính…Những công trình
này tuy còn sơ sài nhưng có ý nghĩa nhất định, giúp chúng ta hiểu được phần
các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (1994) của Đỗ Thúy Bình… Các
công trình trên đã trình bày những nét khái quát về điều kiện tự nhiên và dân
cư, lịch sử tộc người, kinh tế truyền thống, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội,
tín ngưỡng tôn giáo và văn học của các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam.
Năm 1995 hai tác giả Hoàng Quyết và Tuấn Dũng đã cho ra mắt cuốn
Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc. Đây là công trình nghiên cứu về
những phong tục, tập quán trong sinh đẻ, hôn nhân, tang ma, quan hệ xã hội,
trong lễ hội và ngày tết của người Tày.
Năm 1999, tác giả Trần Văn Hà cho ra mắt cuốn Các dân tộc Tày,
Nùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Đây là một công trình
nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học - tộc người, đi sâu tìm hiểu về qúa trình
phổ biến và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp cũng như những
biểu hiện của sắc thái văn hóa sản xuất của hai dân tộc Tày, Nùng trong giai
đoạn Đổi mới kể từ sau Khoán 10 (1989 - 1995). Xuất phát từ quan niệm coi
tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp như là một quá trình kéo theo những biến
đổi kinh tế - xã hội, với thời gian 15 năm (1981 – 1995) từ khi bắt đầu thay
19
đổi cơ chế trong quản lý nông nghiệp diễn ra đến thời điểm nghiên cứu, tác
giả muốn đưa ra những đánh giá, nhận xét về hiệu quả tác động của chính
sách Đổi mới với phát triển nông nghiệp và nông thôn miền núi, những nỗ lực
của nhân dân lao động Tày, Nùng trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Cuốn Tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng (2009) của Nguyễn Thị Yên và
Văn hóa dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam (2010) của Hà Đình Thành…đã
trình bày về nội dung văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình, tín ngưỡng, tôn giáo
và lễ hội của hai dân tộc. Qua đây, các tác giả đã nêu lên được hiện trạng đời
sống văn hóa tín ngưỡng và vai trò của nó trong đời sống người Tày, Nùng.
Gần đây, năm 2010, tác giả La Công Ý - một nhà Dân tộc học người
Tày đã cho ra mắt cuốn sách Đến với người Tày và văn hóa Tày. Công trình
được hoàn thành dựa trên vốn tư liệu điền dã của bản thân tác giả và những
Cuốn Phát triển nông thôn bền vững - chính sách đất đai và sinh kế:
Một số kết quả nghiên cứu 2004 - 2007 của các tác giả Võ Tòng Xuân, Trần
Thị Phương, Lê Cảnh Tùng, được xuất bản năm 2008 với sự tài trợ của tổ
chức SIDA/SAREC (Thụy Điển). Cuốn sách tập hợp những bài nghiên cứu
liên quan tới chính sách đất đai và vấn đề sinh kế của người dân nông thôn
như: sự phát triển của nông thôn và môi trường; các chính sách về đất đai cho
người nghèo; ảnh hưởng của đô thị hoá đối với đời sống nông thôn…
Vấn đề sinh kế của người dân miền núi cũng được đăng tải nhiều trên
các tạp chí như Kinh tế gia đình trong đời sống các dân tộc ở Lạng Sơn hiện
nay của Lê Bé, Tạp chí Dân tộc học số 4/1982; Một số vấn đề về kinh tế gia
đình hiện nay ở miền núi của Nguyễn Văn Huy, Tạp chí Dân tộc học số
4/1984; Thu nhập của nông dân miền núi và mối quan hệ gắn bó với hợp tác
xã của Trần Văn Hà, Tạp chí Dân tộc học số 3/1986; Kinh tế hộ gia đình ở
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc của Lê Sỹ Giáo, Tạp chí Thông
tin Lý luận số 5/1990…Các bài viết trên đã trình bày về đặc điểm kinh tế gia
đình các dân tộc thiểu số nước ta trước Đổi mới. Qua đó đã làm rõ kinh tế gia
21
đình là một hình thức sản xuất dựa trên sở hữu tuyệt đối của Nhà nước về đất
đai, nó phát sinh và phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế - xã hội và là
nguồn thu nhập bổ sung của người lao động. Đó là cơ sở sản xuất nhỏ trong
thời kỳ quá độ, chịu sự tác động cơ bản của quy luật giá trị và thị trường.
Khi đề cập đến Sinh kế của một tộc người cụ thể, có bài viết Vai trò
giới trong cải thiện sinh kế của người Xơ đăng của Bùi Thị Thanh Hà, Tạp
chí Khoa học về phụ nữ, số 1/2005. Bên cạnh đó còn có bài viết “Sinh kế phụ
thuộc vào tài nguyên rừng của người Tà ôi (Pacoh) ở thôn Phú Thượng, xã
Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế trong bối cảnh hiện nay” của
tác giả Nguyễn Xuân Hồng và bài viết “Sinh kế người Cơ tu: Khả năng tiếp
cận và cơ hội – Nghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên -
Huế” của tác giả Trần Thị Mai An. Hai bài viết này đều được đăng trên
được đảm bảo.
Gần đây, tác giả Nguyễn Văn Sửu đã giới thiệu hai công trình: “Tác
động của Công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế người nông dân Việt
Nam - trường hợp một làng ven đô Hà Nội” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế
Việt Nam học lần thứ III (2008) và “Khung sinh kế bền vững - Một cách phân
tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo” trên Tạp chí Dân tộc học số
2/2010. Trong hai bài viết này, tác giả đã giới thiệu về Khung sinh kế bền
vững DFID, coi đó là một cách tiếp cận toàn diện về sinh kế của con người
trong các bối cảnh khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu này cũng đi sâu tìm hiểu
về việc thu hồi đất nông nghiệp của Nhà nước đã tác động đến cuộc sống
người nông dân ở làng Phú Điền từ cuối những năm 1990 trở lại đây.
Hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về biến đổi sinh
kế của người Tày trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác, những nghiên cứu gần
đây đã chỉ ra rằng tại Lạng Sơn đã có một bộ phận đáng kể người Tày tham
gia vào các hoạt động buôn bán hàng qua biên giới hoặc từ biên giới về miền
23
xuôi. Do đó, ngoài việc giao lưu kinh tế - văn hóa với các dân tộc sinh sống ở
Việt Nam, dân tộc này còn có mối quan hệ với các tộc người ở Trung Quốc.
Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình. Thông qua
nghiên cứu này, tôi muốn khám phá không gian xã hội vùng biên và những
năng động kinh tế - xã hội của cư dân ở đây.
1.2. Cơ sở lý luận và Phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn sử dụng quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong
cách tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi đề tài. Đặt vấn đề sinh kế
trong điều kiện tự nhiên của vùng người Tày cư trú, trong mối quan hệ biện chứng
giữa truyền thống và hiện đại, trong mối quan hệ với các nhân tố khác.
Một trong những luận điểm của Mác cho rằng “Tồn tại xã hội quyết định ý
Theo Bùi Đình Toái (2004) thì “Sinh kế của hộ hay một cộng đồng là
một tập hợp các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những
quyết định và hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà
còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác sinh kế của một hộ gia
đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay
cộng đồng đó”.
Sinh kế còn có một số cách hiểu khác rộng hơn và rõ nghĩa hơn. Trả lời
câu hỏi what is livelihood – sinh kế là gì?, trang web livelihood.wur.nl đã
tổng hợp ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, có thể tóm tắt như sau: “Khái niệm
sinh kế được hiểu một cách rộng rãi trong giới học giả và thực hành phát
triển là cách và ý nghĩa của việc kiếm sống”. Một định nghĩa khác cũng được
chấp nhận khá rộng rãi của Robert Chambers và Gordon Conway là: “Sinh kế
bao gồm những năng lực, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội) và những
hoạt động đáp ứng cho việc sống”. Về nguồn lực, theo DFID’s Sustainable
25
Livelihood Guidance Sheet có 5 loại cơ bản là vốn tự nhiên, vốn con người,
vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính.
Ellis lại đề nghị sinh kế là sự tổng hòa những hoạt động, tài sản và những
cách thức quyết định cách sinh sống đạt được bởi một cá nhân hay hộ gia đình.
Wallman trong khi tiến hành nghiên cứu về sinh kế ở London vào
những năm đầu thập niên 80 đã tiếp cận sinh kế không chỉ dừng lại ở việc tìm
kiếm và xây dựng nơi ở, chuyển tiền và chuẩn bị thức ăn để đặt lên bàn hay
trao đổi trên thị trường. Đó còn là vấn đề quyền sở hữu, sự lưu chuyển thông
tin, quản lý các mối quan hệ xã hội, sự xác nhận bản sắc của nhóm và đặc
trưng cá nhân. Tất cả những nhiệm vụ mang tính sản xuất đó cùng nhau hợp
thành một sinh kế”. Đối với nhà nhân học như Wallman, sinh kế là một khái
niệm nền tảng cho thấy đời sống xã hội được phân lớp và những lớp này được
chồng chéo lên nhau, cả trong cách thức mà con người nói về họ cũng như
trong cách thức mà họ sẽ được phân tích. Đây là đặc điểm quan trọng nhất
kinh tế cửa khẩu ở xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã làm cho
sinh kế của người Tày ở đây biến đổi mạnh mẽ theo hai chiều hướng: Thứ
nhất là sự chuyển đổi trong sinh kế truyền thống (thay đổi về cơ cấu cây
trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa); thứ hai là sự xuất hiện thêm
các nguồn sinh kế mới đem lại thu nhập cho họ như đi làm thuê bên Trung
Quốc, bốc vác, cùng với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ…Điều đó đã thể
hiện những năng động vươn lên trong sinh kế, đồng thời cũng thể hiện những
thích ứng của tộc người Tày ở đây để sinh tồn ở vùng biên giới.
1.3.2. Một số khái niệm khác
Vùng biên giới (borderland, border region): được hiểu là một khu vực
địa lý gần đường biên (borderline), trong đó có các cộng đồng cư dân sinh
sống và các cộng đồng này có thể có cùng bản sắc văn hóa tộc người mặc dù
họ có thể bị chia cắt bởi một đường biên giới lãnh thổ quốc gia. Như
27
vậy,vùng biên cần được xem xét như một không gian văn hóa – xã hội, các
mối quan hệ qua lại của cư dân ở trong và ngoài biên giới cùng sự tác động
trong quản lý của Nhà nước đối với khu vực giáp biên đã tạo nên các thuộc
tính biên cương của cư dân và hình thành nên khu vực biên giới.
Kinh tế vùng biên: là tổng hợp các hoạt động kinh tế khác nhau ở khu
vực biên giới đất liền. Phát triển kinh tế vùng biên là nhân tố quan trọng thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội và một số lĩnh vực khác của các tỉnh biên giới
nói riêng và của một nước nói chung.
Khu kinh tế cửa khẩu. Khu kinh tế cửa khẩu ở nước ta là một không
gian kinh tế xác định, do Chính phủ và Thủ tướng quyết định thành lập. Ở đó
có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc
thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả
kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác và sử dụng, phát
triển bền vững các nguồn lực.
1.4. Hƣớng tiếp cận Lý thuyết