Văn hóa đảm bảo đời sống của người nùng cháo (trường hợp thôn nà lầu, xã tân thanh, huyện văn lãng, tỉnh lạng sơn) - Pdf 52

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG
CHÁO (TRƯỜNG HỢP THÔN NÀ LẦU, XÃ TÂN THANH,
HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN)

Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40

LUẬN ÁN TIẾN SỸ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Hoàng Cầm
2. TS. Đỗ Lan Phương

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu đã sử dụng trong luận án là trung thực. Những kết luận trong luận án
chưa có công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Vân Anh


LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài, tôi xin trân trọng cảm ơn:


tr

Trang

UB

Ủy ban

UBND

Ủy ban nhân dân

VHTT

Văn hóa thông tin


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ

7

LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

71

CHÁO Ở NÀ LẦU HIỆN NAY
3.1. Bối cảnh chuyển đổi

71

3.2. Quá trình chuyển đổi kinh tế nông – thương nghiệp

79

3.3. Phương thức mưu sinh mới với cơ sở của nền kinh tế trọng tình

88

Chương 4: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG

110

CHÁO Ở NÀ LẦU: THAY ĐỔI VÀ THÍCH ỨNG
4.1. Yếu tố trọng tình trong thực hành sinh kế của người dân Nà Lầu

110

4.2. Yếu tố duy lý trong thực hành sinh kế của người dân Nà Lầu

113

4.3. Văn hóa đảm bảo đời sống – những vấn đề liên quan trong bối cảnh


lấm, tay bùn, một nắng hai sương” trên những thửa ruộng hay mảnh nương
sườn đồi, nay đã thành những “thị dân”. Có lẽ, quá trình thay đổi này đã
không đơn giản khi tôi được nghe tâm sự của bà Xéo, người phụ nữ hơn 60
tuổi có cửa hàng buôn bán ở khu chợ Tân Thanh, rằng: “Bây giờ thì đỡ hơn
nhiều rồi nhưng cũng không phải như mọi người nghĩ là ngày ngày chỉ cần
mở cửa ra là đã có tiền, không còn lo làm ruộng không đủ ăn,... bán hàng lo
lỗ vốn, đi vác hàng bị mệt, bị bắt...”. Bà kể, kinh tế của gia đình trước kia chủ
yếu là từ làm ruộng, làm vườn, thu hoạch chỉ đủ ăn, không có dư thừa. Sau
khi chuyển đổi, bà và các con đã làm rất nhiều nghề: từ làm ruộng, buôn bán
nhỏ cho đến làm “cửu vạn” (vác hàng). Trong quá trình mưu sinh đó, nhà bà
luôn có sự tương trợ giúp đỡ của họ hàng, xóm giềng, song bản thân bà và gia
đình cũng có những toan tính để có một cuộc sống ổn định như hiện nay.
Không chỉ có nhà bà mà hầu hết những người Nùng Cháo sống tại thôn Nà

1


Lầu, sau khi đất nông nghiệp của họ bị chuyển đổi, đều phải trải qua những
giai đoạn tìm kiếm các cách thức mưu sinh không dễ dàng như vậy.
Là một thôn nằm giáp với biên giới Việt - Trung của tỉnh Lạng Sơn và
nằm trong khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, sinh kế cổ truyền của người Nùng
Cháo ở Nà Lầu, về cơ bản là nền “kinh tế trọng tình” (moral economy), lối
sống thiên về yếu tố tình cảm, sống dựa trên sự tương trợ, giúp đỡ nhau, tính
cố kết cộng đồng cao. Trước những năm 1990, nền kinh tế của họ chủ yếu là
nông nghiệp trồng lúa nước, làm nương rẫy kết hợp với chăn nuôi và buôn
bán nhỏ tại các chợ Na Sầm (huyện Văn Lãng), Đồng Đăng (huyện Cao Lộc),
bên cạnh đó còn thực hiện buôn bán, trao đổi hàng hóa với người dân ở thôn
Pò Chài (Trung Quốc). Khi quan hệ hai nước Việt - Trung trở nên căng thẳng
do cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hoạt động buôn bán giữa người dân
Nà Lầu (Việt Nam) với người dân Pò Chài (Trung Quốc) bị nghiêm cấm. Từ

chính vào các khía cạnh liên quan đến các thực hành sinh kế, luận án hướng
tới cung cấp một nghiên cứu trường hợp về sự thay đổi trong mô hình sinh kế
và những ứng xử văn hóa đi cùng của người nông dân Việt Nam trong xã hội
đương đại, một chủ đề đã và đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các
nhà khoa học xã hội ở Việt Nam và trên thế giới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát tình hình nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống nói
chung và văn hóa của tộc người Nùng Cháo ở xã Tân Thanh, huyện Văn
Lãng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
- Làm rõ các hoạt động sinh kế của người Nùng Cháo trong quá khứ để
nhận thấy vai trò cơ bản của canh tác nông nghiệp trên nền tảng trọng tình của
cư dân nơi đây trong suốt chiều dài lịch sử.
- Làm rõ các hoạt động sinh kế và các ứng xử liên quan của người
Nùng Cháo hiện nay để nhìn ra sự đa dạng, phong phú, các chiều cạnh chuyển
đổi văn hóa - xã hội và lựa chọn sinh kế trên cơ sở duy lý có sự đan xen với
trọng tình của người dân trong bối cảnh phát triển kinh tế và dịch vụ tại khu
vực cửa khẩu.

3


- Thảo luận về sự kết hợp trọng tình - duy lý trong tư duy và thực hành
sinh kế của người dân trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Theo đó là
những vấn đề liên quan đến biến đổi văn hóa - xã hội, nguồn lực lao động,
việc làm, những thách thức trong thực hành sinh kế của người Nùng Cháo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hoạt động sinh kế của người Nùng
Cháo ở thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) trong
quá khứ và trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay ở vùng biên giới Lạng Sơn.

Nhóm thứ nhất, những người già sống trong thôn được phỏng vấn để
tìm hiểu về phương thức mưu sinh mà người dân Nà Lầu đã sử dụng trong
quá khứ, những thói quen, phong tục tập quán, truyền thống tương trợ, chia
sẻ, giúp đỡ nhau trong suốt quá trình chung sống.
Nhóm thứ hai, những phụ nữ ở trong thôn được phỏng vấn để tìm hiểu
về công việc của họ hiện nay, so sánh và đối chiếu với công việc của họ trước
khi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh có những điểm khác biệt gì?.
Nhóm thứ ba, đối tượng các thanh niên: tìm hiểu công việc hiện tại của
họ, có những chiến lược nào để đảm bảo cuộc sống của bản thân?
Nhóm thứ tư, các các bộ quản lý ở thôn - xã: tập trung tìm hiểu các
quan điểm cá nhân đối với việc chuyển đổi phương thức mưu sinh của người
dân; Những thay đổi trong phong tục và tập quán văn hóa và sinh kế ở địa
phương.
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện chủ yếu bằng tiếng phổ thông,
được ghi âm, ghi chép lại với sự đồng ý của những người cung cấp tin. Toàn
bộ tư liệu từ phỏng vấn, ghi chép đều được phục vụ để phân tích, tên của
thông tín viên được mã hóa để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh.
Bên cạnh phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nghiên cứu sinh cũng tham
gia vào các hoạt động văn hóa của người dân, dự các đám tiệc, nghi lễ gia
đình và cộng đồng, tham dự các cuộc hội họp của thôn - bản hay khu kinh
doanh để tìm hiểu thêm các bối cảnh, khơi gợi các vấn đề cho những cuộc
phỏng vấn sâu.
5


Kết hợp với nguồn tư liệu thực địa là tư liệu thứ cấp được tập hợp và hệ
thống, phân tích, từ các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài
nước đã công bố có liên quan tới đề tài. Nghiên cứu sinh cũng tiến hành thu
thập và phân tích các bài báo, tạp chí và các tài liệu có liên quan để có những
thông tin cơ bản về đặc điểm kinh tế, xã hội và bức tranh toàn cảnh về các

cứu về văn hóa đảm bảo đời sống của người nông dân trong xã hội đương đại.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về ý nghĩa lý luận: Luận án góp thêm một nghiên cứu về văn hóa đảm
bảo đời sống qua chiến lược sinh kế của người nông dân trong bối cảnh
chuyển đổi, so sánh với các ý kiến đã được thảo luận trong các các công trình
nghiên cứu đi trước ở Việt Nam và Đông Nam Á; cung cấp dữ liệu cụ thể ở
cấp vi mô nhằm bổ sung vào những lý thuyết về sự thích nghi, sự chủ động về
sinh kế của người nông dân ở vùng biên giới.
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn tư
liệu quan trọng, cơ sở thực tiễn để các nhà hoạch định chính sách tham khảo,
vận dụng vào thiết kế, xây dựng các chương trình và chính sách phát triển
sinh kế bền vững ở vùng các tộc người thiểu số Lạng Sơn nói riêng và ở miền
núi Việt Nam nói chung.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
các công trình của tác giả, phụ lục, luận án bao gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa
bàn nghiên cứu
Chương 2: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo ở Nà
Lầu trong xã hội cổ truyền
Chương 3: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo ở Nà
Lầu trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay
Chương 4: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo ở Nà
Lầu: Thay đổi và thích ứng

7


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

với việc thiếu ruộng đất cũng được cho là nguyên nhân khiến họ thực hiện
những cuộc thiên di lớn sang Việt Nam để mong tìm được nơi sinh sống ổn
định hơn. Quan điểm thứ 2 cho rằng: lịch sử của người Nùng gắn với nguồn
gốc bản địa. Theo Hoàng Nam, tổ tiên của người Nùng chắc chắn đã tham gia
vào việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Lịch sử
còn ghi tên tuổi của Nùng Chí Cao đã một thời là thủ lĩnh của người Tày,
Nùng ở vùng biên giới Việt - Trung [48, tr 8].
Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện
Dân tộc học đã đưa ra nhận định: “Người Nùng cùng với các nhóm nói tiếng
Tày - Thái nằm trong khối Bách Việt. Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, ở
lưu vực sông Cầu và sông Hồng, nước Âu Lạc với vị thủ lĩnh Thục Phán đã ra
đời mà người Nùng có thể là một thành phần của nó. Một số các nhà nghiên
cứu khác cho rằng: người Tày và người Nùng là những cư dân có chung một
nguồn gốc, cùng thuộc khối Bách Việt xưa kia” [99, tr.48]. Trong nghiên cứu
về người Nùng Cháo ở Nà Lầu, NCS đồng ý với quan điểm nghiên cứu thứ
nhất cho rằng: người Nùng hiện nay là được di cư từ Trung Quốc sang, với
lịch sử định cư từ 200 đến 300 năm.
Một vấn đề cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đó là tộc danh
Nùng mà trong các công trình của họ đã nêu các tên gọi khác nhau như: Nùng
Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng An, Nùng Dín, Nùng Lòi, Nùng
Tùng Slìn, Nùng Quý Rỉn. Sự khác nhau này có liên quan tới các địa danh ở
Trung Quốc trước khi họ di cư vào Việt Nam như: người Nùng Inh di cư từ
Long Anh đến, Nùng Phàn Slình di cư từ Vạn Thành đến, Nùng Cháo di cư từ
Long Châu, Nùng An đến từ An Kết, Nùng Quý Rỉn đi từ Quý Thuận, Nùng
Lòi di cư từ Hạ Lôi, Nùng Tùng Slìn từ Tùng Thiện... Ngoài ra, tên gọi của
các nhóm Nùng còn căn cứ trên đặc điểm về y phục và trang sức của phụ nữ
như: phụ nữ Nùng Phàn Slình Hua Lài thường đội khăn chàm có những chấm

9


10


nước và làm nương rẫy. Trong đó, những nghiên cứu về dân tộc Nùng cho thấy,
địa bàn cư trú trong tự nhiên là tiền đề quy định hoạt động sinh kế, và nơi sinh
sống của họ là ở các vùng thung lũng. Trong điều kiện như vậy, họ phải vừa
thích nghi với việc khai phá đất bằng để làm ruộng nước (Nà) - tạo nên văn minh
lúa nước, đồng thời vừa phải biết khai thác đất dốc, đất núi để làm nương (Lầy)
và trồng cây khô cạn. Ngoài ra, họ còn có các hoạt động kinh tế mang tính chất
phụ trợ khác như: làm vườn, trồng cây đặc sản, tiểu thủ công nghiệp, săn bắt,
đánh cá. Đặc điểm của canh tác lúa nước ở vùng các dân tộc miền núi là thửa
ruộng nhỏ, thường cách bản làng không xa và nằm ở ven đồi núi, rìa thung lũng
hay ngay trong lòng thung lũng. Họ có kỹ thuật làm đất khá phát triển cũng như
việc dùng phân bón khá thành thạo, có nhiều giống lúa cổ truyền đều cho ra gạo
rất ngon, thơm. Phân công lao động chủ yếu theo giới tính: nam cày bừa, nữ gieo
cấy. Trong canh tác nông nghiệp - ngành kinh tế chủ đạo, cộng đồng nông dân
thường có tập quán tương trợ và giúp đỡ nhau với các hình thức như vần công đổi công. Họ thường lập ra các nhóm tương hỗ mà thành viên không chỉ có quan
hệ huyết thống mà còn có quan hệ láng giềng, sự tham gia của mọi người vào
các nhóm đều được thực hiện trên cơ sở tự nguyện. Nền kinh tế nông nghiệp với
các thực hành văn hóa, xã hội và kỹ thuật trong các mối quan hệ mang tính trọng
tình đã giúp cho cư dân miền núi thích ứng với môi trường có độ dốc cao, đem
lại hiệu quả kinh tế, giúp duy trì, bảo vệ khá tốt đa dạng sinh học và môi trường
sinh thái.
Cũng trong công trình nghiên cứu về các dân dân tộc ít người ở Việt
Nam năm 1978, khi giới thiệu thông tin khái quát về văn hóa vật chất của
người Nùng, các nhà dân tộc học mô tả các hoạt động sinh kế của họ một
cách đơn thuần. Ví dụ: “Người Nùng là cư dân nông nghiệp, họ canh tác
ruộng nước một cách thành thạo, tương tự như người Kinh, người Tày. Thế
nhưng, hoàn cảnh cư trú khiến cho người Nùng không thể chỉ sinh sống bằng
nông nghiệp ruộng nước. Nương và rẫy đối với họ có một vai trò quan trọng”

nhiều vùng vẫn giữ vị trí đáng kể. Ngoài ra, các hoạt động kinh tế khác như:
làm vườn, trồng cây đặc sản, tiểu thủ công nghiệp, hái lượm, săn bắt, đánh
cá... là những nghề mang tính chất phụ trợ” [64, tr.24]. Các kỹ thuật canh tác
12


của người Nùng: cày, bừa tương tự như người Tày. Trong quá trình canh tác
họ là những cư dân nắm vững và sử dụng thành thạo các bản tính nông lịch,
biết dựa vào sự thay đổi thời tiết thông qua những biến đổi tự nhiên để điều
chỉnh hoạt động gieo, cấy cho phù hợp. Các tác giả còn có các mô tả về hoạt
động chăn nuôi, giới thiệu các nghề thủ công gia đình như mây tre đan, dệt
vải, rèn, làm ngói. Giống với nghiên cứu của Hoàng Nam (1992), trong
nghiên cứu này, các tác giả cho rằng việc khai thác các sản phẩm có sẵn trong
tự nhiên và hoạt động trao đổi mua bán mang ý nghĩa rất quan trọng trong đời
sống của người Nùng.
Trong một nghiên cứu về tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở
vùng Đông Bắc Việt Nam, Trần Bình (2014) cũng đã chỉ ra những đặc điểm
chung của các dân tộc thiểu số với các mô tả dân tộc học theo các hệ ngôn
ngữ. Sinh kế của người Nùng thuộc nhóm Tày - Thái đều lấy trồng trọt cây
lương thực (trong đó cơ bản là lúa) làm nguồn sống chính. Tác giả khẳng
định: “Với cơ chế vận hành của một nền kinh tế tự cấp, tự túc, được tổ chức
theo quy mô gia đình, cơ cấu các hoạt động mưu sinh của các tộc người nhóm
ngôn ngữ Tày - Thái gồm: trồng trọt cây lương thực, chăn thả gia súc, gia
cầm; thủ công gia đình; khai thác chiếm đoạt tự nhiên” [5,tr.115]. Tác giả
cũng nêu lên việc trao đổi buôn bán được diễn ra trong cộng đồng làng bản và
địa phương, giữa các tộc người với nhau, sản phẩm mang ra trao đổi thường
là các sản phẩm dư thừa.
Tương tự như các nghiên cứu trên khi bàn về sinh kế của người Nùng,
Vương Xuân Tình (2014) nghiên cứu về văn hóa với phát triển vùng biên giới
ở Việt Nam, trong đó tập trung vào nhóm người Nùng ở huyện Cao Lộc

Văn hoá đảm bảo đời sống, đặc biệt là hoạt động sinh kế cổ truyền của
người nông dân, nông thôn châu Á là chủ đề nghiên cứu được quan tâm nhiều
trong ngành nhân học, dân tộc học và nghiên cứu văn hoá.
McElwee (2007) trong công trình nghiên cứu về sinh kế của người
nông dân ở vùng Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, Việt Nam- “From the Moral Economy
to the World Economy: Revisiting Vietnamese Peasants in the Globalizing
Era”(Từ nền kinh tế đạo đức đến nền kinh tế thế giới: Xem xét lại người nông
14


dân trong bối cảnh toàn cầu hóa) phát hiện ra rằng: mặc dù có những thay đổi
xuyên suốt thế kỷ XX trong cơ cấu lao động làng xã, trong tự nhiên, sở hữu
đất đai, tổ chức kinh tế - chính trị, người nông dân Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tục duy
trì nhiều khía cạnh của một nền kinh tế trọng tình. Tác giả chỉ ra, sau những
tàn phá kinh tế trong chiến tranh từ những năm 1950-1970, những người nông
dân ở Nghệ Tĩnh chỉ thực hành một nền kinh tế khép kín, các quan hệ có đi có
lại (vần công, đổi công) vẫn đặc biệt quan trọng đối với những nông dân sở
hữu ít đất đai, duy trì cuộc sống với mô hình gia đình nhỏ. Việc mở cửa
chuyển dịch nền kinh tế thị trường theo xu thế toàn cầu hóa dẫn đến việc mọi
hàng hóa nông nghiệp đều có thể sản xuất và đáp ứng các nhu cầu của toàn
cầu. Song, người dân ở đây không thay đổi hoàn toàn hoạt động sinh kế và
triết lý mưu sinh theo định hướng từ các chính sách chuyển dịch kinh tế được
đưa vào từ bên ngoài. Họ không dựa trên giá trị lợi nhuận của các loại cây mà
chỉ trồng những gì họ thích ăn và dựa vào tập quán trồng cây đã tồn tại lâu dài
trong lịch sử canh tác của họ [113, tr.58]. Đa số nông dân quyết định không
chuyển từ trồng lúa có năng suất thấp sang trồng ngô lai vốn hứa hẹn một thu
nhập cao hơn. Theo tính toán của nông dân ở Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), “lúa là
loại cây họ biết rõ nhất phải canh tác ra sao, luôn có thị trường do nhà nước
đảm bảo, và là thứ mọi người thích ăn nhất” [113, tr.78], điều này thể hiện
việc họ muốn giữ nguyên những cơ sở đạo lý của nền kinh tế trọng tình.

vườn, diện tích trồng lúa nước không đáng kể song vẫn chiếm một vị trí quan
trọng ở đây. Các chính sách giao đất, chương trình trồng rừng của nhà nước với
mục đích xóa đói, giảm nghèo đã phản ánh một nỗ lực của nhà nước nhằm kiểm
soát con người và các nguồn lực ở vùng cao. Từ việc nghiên cứu sự tham gia vào
các chương trình trồng rừng, tác giả chỉ ra sự không tương xứng đối với người
dân, vẫn còn sự phân biệt xã hội, sự quan liêu, tất cả đã ảnh hưởng đến cuộc
sống người dân. Nhưng, người dân đã thành công trong việc phát hiện ra ranh
giới để có thể đáp ứng cơ hội thị trường mới và sự tích lũy của cải. Họ biết chủ
động dựa vào các mối quan hệ với lãnh đạo thôn để được tiếp cận nguồn lực sản

16


xuất, góp phần đảm bảo sinh kế, có sự tích lũy nhất định thông qua việc trồng
sắn, trồng lúa và làm vườn [116].
Khi nghiên cứu về “Quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp
hóa: Nghiên cứu trường hợp làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội”, Nguyễn
Giáo (2016) đã dựa trên quan điểm về tính duy lý trong kinh tế và chứng
minh: người nông dân trong bối cảnh chuyển đổi về kinh tế đã biết tận dụng
các mối quan hệ xã hội để làm ăn. Trong nghiên cứu này, những người nông
dân sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống khi gặp khó khăn. Tuy nhiên, khi
bị thua lỗ trong làm ăn họ lại không nhờ vào sự giúp đỡ của các mối quan hệ
họ hàng mà đi vay lãi qua các mối quan hệ bên ngoài để tránh các nguy cơ
ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ thân thiết trong gia đình, họ hàng. Tác
giả cũng phân tích rõ các phương thức để họ tạo dựng, duy trì và phát triển
các mối quan hệ xã hội, người nông dân luôn có những tính toán để gia tăng
tư lợi [28].
Trong bối cảnh về những người nông dân bị thu hồi đất cho các dự án
phát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp ở ven đô Hà Nội, Nguyễn
Văn Sửu (2014) đã chỉ ra các cơ hội và thách thức đối với sinh kế của họ

tế - chính trị ràng buộc cuộc sống mà còn liên quan nhiều đến những đòi hỏi
của xã hội, đó là việc sống trong một cộng đồng có luân lý và đạo đức. Để gia
tăng mức sinh tồn, những người dân ở Ban Nông Tun đã sử dụng các chiến
lược sinh kế khác nhau như: sử dụng các giống lúa mới, kết hợp bón phân hóa
học, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển các nghề thủ công, sản xuất than củi,
chứng tỏ một thực tế rằng: người dân ở đây cũng đã chủ động có những tính
toán để thích ứng với những động cơ thúc đẩy kinh tế mới [111]. Nghiên cứu
của Keyes đã cho thấy, trong chiến lược sinh kế của người dân vùng Đông
Bắc Thái Lan có sự đồng nhất giữa yếu tố trọng tình và duy lý.
Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi phương thức mưu sinh của người
dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ với nhiều mô hình chuyển dịch, trong đó nổi
lên là chuyển dịch từ trồng lúa năng suất thấp sang nuôi tôm thương mại,
công trình nghiên cứu “Từ lúa sang tôm - hành vi giảm thiểu rủi ro và khai
18


thác vốn xã hội của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Ngô Thị
Phương Lan (2014) đã dựng lại một bức tranh sản xuất thương mại ở đây để
tìm hiểu bản chất hành vi kinh tế của người nông dân. Người nông dân ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long đã nhanh nhạy trong việc thích ứng với việc sản
xuất thị trường. Theo hướng tiếp cận về rủi ro và vốn xã hội, tác giả đã miêu
tả chi tiết và phân tích phương thức mưu sinh nổi bật mới xuất hiện, đặt trong
các khía cạnh lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng. Trường hợp người
nông dân trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm đã thể hiện
rõ lối tư duy duy lý theo hướng tiếp cận của Popkin (1979), song chiến lược
giảm thiểu rủi ro, chẳng hạn như chuyển đổi dần các mảnh ruộng của gia đình
làm đầm nuôi tôm, đầu tư vào các mạng lưới xã hội để phát triển kinh tế và
giảm thiểu rủi ro khi mất mùa, thể hiện sự kết hợp giữa yếu tố trọng tình và
duy lý trong kinh tế để phù hợp với bối cảnh mới [40].

chính hay sản lượng lương thực. Các tác giả tập trung vào các khía cạnh xã
hội, văn hóa, chính trị ở vùng cao tác động như thế nào tới người H’Mông để
họ có được chiến lược sinh kế và có thể duy trì quyền tự chủ, quyền quyết
định lựa chọn hình thức kinh tế - xã hội cũng như sáng tạo văn hóa. Nhà nước
hỗ trợ chính sách cho những người H’Mông sử dụng giống lúa lai mới để
nhằm hiện đại hóa vùng cao, tăng năng suất lúa, đảm bảo an ninh lương thực,
từ đó dẫn đến những biến đổi sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy
nhiên, do điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt nên trồng lúa chỉ đủ để ăn
bởi mỗi năm họ chỉ thu hoạch được một vụ. Để bổ sung cho nguồn thu nhập
của gia đình, họ đã chủ động tham gia vào thương mại quy mô nhỏ thông qua
việc bán sản phẩm dệt may, vật nuôi, gạo và rượu ngô [119].
Trong một nghiên cứu khác của Sarah Turner và Christine Bonnin
(2011): “At what price rice? Food security, livelihood vulnerability and state
interventions in upland Northern Viet Nam” (Thời điểm giá gạo nào? An ninh
lương thực, tổn thương sinh kế và sự can thiệp của nhà nước ở miền núi phía
Bắc Việt Nam), các tác giả đã đề cập đến chiến lược sinh kế thích ứng của
người H’Mông ở tỉnh Lào Cai, chủ yếu dựa trên sự kết hợp hoạt động tự cung
tự cấp và các hoạt động thương mại, ngoài ra còn có săn bắt, hái lượm. Sinh
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status