Đảm bảo đời sống của người lao động trong các khu công nghiệp ở đồng nai luận văn ths kinh tế 60 31 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

……………..***……………

NGUYỄN THỊ NGỌC HIỆP

ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành:
Kinh tế chính trị học Mác- Lênin
Mã số:
5.02.01

Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGÔ VĂN THẠO

HÀ NỘI - 2006


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………… ………………………………….1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ LIÊN QUAN
ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG TIẾN
TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƢỚC...10
1.1. Một số khái niệm…………………………………………………........10
1.2. Sự cần thiết đảm bảo đời sống của ngƣời lao động ở các khu công
nghiệp……………………………………………………………………………24
1.3. Kinh nghiệm của một số nƣớc về đảm bảo đời sống của ngƣời lao động

Người lao động

KCN:

Khu công nghiệp

KCX:

Khu chế xuất

DN:

doanh nghiệp

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT:

Bảo hiểm y tế

CNH, HĐH:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KCN.ĐN:

Khu công nghiệp Đồng Nai


Đảng và Nhà nƣớc ta rất chú trọng gắn mục tiêu tăng trƣởng kinh tế với cải thiện
và nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã
hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bƣớc, từng chính sách
phát triển là một quan điểm lớn của Đảng trong Nghị quyết Đại Hội X, là sự vận
dụng và phát triển tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Ngay sau khi thành lập nƣớc, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: “nƣớc độc lập mà dân không đƣợc hạnh phúc, tự do thì độc
lập cũng chẳng có ý nghĩa gì? ”; “Nƣớc dâng thuyền lên. Phải tăng gia sản xuất,
tăng năng suất lao động đồng thời phải gắn liền với cải thiện đời sống của nhân
dân. Sản xuất tăng đến đâu, mức sống đƣợc nâng cao đến đó, nƣớc càng cao thì
thuyền càng nổi. Điều này sẽ cổ vũ nhiệt tình lao động của mọi ngƣời, tạo đà cho
phát triển bền vững lâu dài”.
Đồng Nai là một trong 4 tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
của cả nƣớc. Vì vậy, Đồng Nai là nơi đã thu hút khá đông ngƣời lao động từ các
vùng miền trong cả nƣớc đến làm việc ở các khu công nghiệp trong tỉnh góp phần
vào thành tựu đạt tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh
tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với chủ trƣơng, chính sách thông
thoáng, tính đến nay, Đồng Nai đã có 16 KCN tập trung đang hoạt động với diện
tích gần 5.000 ha, thu hút hơn 600 dự án, tổng đầu tƣ hơn 6.000 triệu USD. Các
KCN đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện
đời sống ngƣời lao động, góp phần thực hiện nghị quyết lần VII của tỉnh Đảng
bộ Đồng Nai xây dựng Đồng Nai thành một tỉnh công nghiệp phát triển, đồng
thời nâng cao chất lƣợng đời sống nhân dân lao động.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh cũng làm xuất hiện những vấn đề mới cần
phải giải quyết. Khi kinh doanh trong các khu công nghiệp, các nhà đầu tƣ vẫn
2


còn ít quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của NLĐ. Những bất hợp lý về
lƣơng, về chính sách xã hội, bảo hiểm,… chƣa quan tâm đến hoạt động văn hóa,
vui chơi, giải trí …của NLĐ là một trong những nguyên nhân của các cuộc đình

nhập, mức sống của các tầng lớp xã hội, xem xét sự phân hóa giàu nghèo của dân
cƣ, của ngƣời lao động, từ đó đề xuất các giải pháp và chính sách phân phối,
phân phối lại, nhằm góp phần tạo ra sự bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, các
công trình nghiên cứu trên đa phần chú ý đến các vấn đề khá cụ thể nhƣ tiền
lƣơng, bảo hiểm…, còn vấn đề đảm bảo đời sống cho các lực lƣợng lao động,
cho đội ngũ công nhân đông đảo của các khu công nghiệp còn ít đƣợc đề cập
hoặc nghiên cứu trực tiếp, việc giải quyết các nội dung của đề tài “Đảm bảo đời
sống người lao động trong các khu công nghiệp ở Đồng Nai” xác định mục
đích nghiên cứu tƣơng đối toàn diện các yếu tố tác động đến đời sống của ngƣời
lao động, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp. Đó là cái mới của đề tài.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở vận dụng quan điểm mới về phát triển, luận văn đã trình bày có
hệ thống các vấn đề lý luận về sức lao động, tái sản xuất sức lao động, làm cơ sở
để khảo sát tình hình đời sống của ngƣời lao động KCN. ĐN; xem xét các vấn đề
liên quan đến đảm bảo thu nhập, tiền lƣơng, các yêu cầu về đời sống vật chất,
tinh thần của NLĐ trong các khu công nghiệp Đồng Nai . Từ đó đề xuất những
định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm ổn định điều kiện sống về mặt vật chất,
tinh thần ngƣời lao động KCN. ĐN, góp phần nâng cao chất lƣợng và sự ổn định
nguồn nhân lực, để tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững tỉnh Đồng Nai.
Thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích, trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận về phát triển SLĐ,
TSX.SLĐ xã hội cũng nhƣ những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống NLĐ;
kinh nghiệm của một số quốc gia về đảm bảo đời sống ngƣời công nhân nhƣ là
những tài liệu tham khảo và đối chứng.
- Khảo sát phân tích một cách toàn diện về thực trạng đời sống công nhân
khu công nghiệp Đồng Nai.
- Đề xuất những phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo đời
sống ngƣời lao động KCN. ĐN hiện nay.
4



ngƣời lao động và phát triển bền vững trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam;
trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi, hội nhập và đẩy mạnh công nghiệp
hóa hiện đại hóa.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng đảm bảo đời
sống ngƣời lao động, mối quan hệ giữa sự phát triển, với thực trạng đời sống
NLĐ ở các KCN. ĐN.
Trên cơ sở đó, căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế - xã
hội đƣợc thông qua tại Đại hội tỉnh Đảng bộ ĐN lần thứ VIII, đề xuất những
phƣơng hƣớng, giải pháp khả thi đảm bảo cuộc sống vật chất, tinh thần NLĐ
KCN. ĐN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa .
7. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3
chƣơng, 10 tiết, một số biểu bảng và một số ảnh minh họa .

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ
ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG TIẾN TRÌNH ĐẨY
MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƢỚC
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm về phát triển
1.1.2. Lý luận về lợi ích kinh tế
6


1.1.3. Lý luận về tái sản xuất sức lao động xã hội
1.1.4. Khái niệm đảm bảo đời sống ngƣời lao động trong các KCN
1.2. SỰ CẦN THIẾT ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở
KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1. Ngƣời lao động với vị trí của ngƣời làm công

2.4.1. Cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nƣớc liên quan đến việc đảm bảo
đời sống cho ngƣời lao động khu công nghiệp Đồng Nai
2.4.2. Về chăm lo đến các mặt đời sống của ngƣời lao động ở khu công
nghiệp Đồng Nai
2.4.3. Sự quan tâm của các cơ sở đầu tƣ trong và ngoài nƣớc
2.4.4. Hoạt động tự phát của các thành phần kinh tế liên quan đến đời sống
của Ngƣời lao động
2.4.5. Những vấn đề đặt ra nhằm đảm bảo đời sống ngƣời lao động các khu
công nghiệp Đồng Nai

CHƢƠNG 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG NGƢỜI
LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU CHUNG
3.1.1. Phát triển nguồn lực lao động khu công nghiệp Đồng Nai
3.1.2. Ổn định nguồn lực lao động khu công nghiệp Đồng Nai
3.1.3. Phƣơng hƣớng chung phát triển nguồn lực lao động cho các khu công
nghiệp Đồng Nai
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
3.2.1. Ban hành đồng bộ các chế độ, chính sách với khu công nghiệp
8


3.2.2. Xây dựng và ban hành kế hoạch tổng thể trên địa bàn tỉnh
3.2.3. Các chính sách huy động các nguồn vốn xã hội tham gia vào việc đảm
bảo đời sống
3.3. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP TRƢỚC MẮT
3.3.1. Kiến nghị
3.3.2. Những giải pháp trƣớc mắt


Từ ba giá trị cơ bản của sự phát triển có thể xác định ba mục tiêu của sự phát
triển ở tất cả các xã hội là:
- Tăng khả năng cung ứng và mở rộng việc phân phối các loại hàng hoá thiết
yếu cho cuộc sống, nhƣ lƣơng thực, nhà ở, y tế và bảo vệ cho tất cả các thành
viên xã hội.
- Tăng mức sống. Ngoài các chỉ tiêu về thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm,
cần phải cải thiện công tác giáo dục đào tạo, chú trọng nhiều hơn đến những giá
trị văn hoá và nhân văn. Những yếu tố này không chỉ góp phần tăng thêm mức độ
hƣởng thụ lợi ích vật chất, mà còn nâng cao mức tự trọng của cá nhân lẫn quốc
gia.
- Mở rộng diện lựa chọn về kinh tế và xã hội cho các cá nhân và các quốc
gia bằng cách giúp họ thoát khỏi sự ràng buộc và lệ thụôc, không chỉ đối với
những ngƣời khác và những quốc gia khác mà còn cả đối với sự ngu dốt và đói
nghèo.

10


Sự phát triển xã hội trong thế giới hiện đại không chỉ là tăng trƣởng kinh tế
mà còn là phát triển xã hội công bằng và tiến bộ, không ngừng nâng cao chất
lƣợng cuộc sống của con ngƣời. Điều này rất phù hợp với mục tiêu phát triển của
nƣớc ta là làm cho “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.1.2. Lý luận về lợi ích kinh tế
Trong xã hội, để tồn tại con ngƣời phải tiến hành các hoạt động kinh tế. Hoạt
động kinh tế luôn giữ vai trò trọng tâm trong mọi hoạt động xã hội và là cơ sở
cho mọi hoạt động khác. Trong hoạt động kinh tế con ngƣời luôn có động cơ nhất
định, thúc đẩy họ hoạt động. Mức độ hành động (mạnh hay yếu) tùy thuộc vào
mức độ chín muồi của động cơ – tùy thuộc vào nhận thức và thực hiện lợi ích của
họ.
Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách

Lợi ích kinh tế cá nhân là lợi ích thiết thực nhất vì nó gắn liền với từng cá
nhân, từng chủ thể. Nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của từng
cá nhân, của từng chủ thể khi tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hội. Ở đâu
và khi nào lợi ích cá nhân đƣợc đảm bảo, thì ở đó sẽ tạo ra đƣợc động lực, kích
thích họ phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lƣợng và
hiệu quả kinh tế.
Về nguyên tắc, lợi ích cá nhân không mâu thuẫn với lợi ích tập thể và toàn
xã hội và là cơ sở thực hiện lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích xã hội. Khi lợi ích cá
nhân đƣợc đảm bảo, ngƣời dân hăng say, tích cực sản xuất tự giác thực hiện
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nƣớc, tập thể (nộp thuế, phí, lệ phí…), qua đó lợi
ích của Nhà nƣớc (xã hội) , tập thể cũng đƣợc thực hiện. Kết hợp hài hòa các lợi
ích là yêu cầu của các chính sách kinh tế - xã hội.
Để kích thích tính tích cực của ngƣời lao động, phát huy tối đa vai trò nhân
tố con ngƣời, vấn đề đầu tiên là phải tác động vào lợi ích kinh tế của mỗi cá
nhân; tạo điều kiện để mỗi ngƣời lao động, mỗi cá nhân, mỗi chủ thể thực hiện
đƣợc lợi ích kinh tế của mình, đảm bảo sao cho mỗi ngƣời đƣợc đóng góp và
đƣợc hƣởng phần thu nhập phù hợp với sự đóng góp của họ. Trong cơ chế thị
trƣờng, Nhà nƣớc phải có những chính sách, biện pháp nhằm tạo điều kiện cho
12


mỗi cá nhân làm giàu cho mình, mang lại lợi ích cá nhân bằng con đƣờng chính
đáng.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tồn tại nhiều thành phần kinh tế,
nhiều hình thức sở hữu và tổ chức sản xuất – kinh doanh nên tồn tại bên cạnh lợi
ích cá nhân là lợi ích tƣ nhân. Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã xác định ở
nƣớc ta hiện nay có 5 thành phần kinh tế. Nhƣ vậy, trên góc độ lợi ích có lợi ích
cá nhân, tƣ nhân, tập thể và toàn xã hội. Sự kết hợp hài hòa các loại lợi ích kinh
tế tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển vì mục tiêu: dân giàu, nƣớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

luật lao động đƣợc ban hành ngày 5/ 7/ 1994 đã giúp cụ thể hoá các quy định của
Hiến pháp nƣớc CHXHCNVN năm 1992 về lao động, sử dụng lao động, quản lý
lao động. Bộ luật lao động bảo vệ lợi ích của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng
lao động, giúp cho quan hệ thuê mƣớn lao động đặt dƣới sự quản lý của Nhà
nƣớc, nhờ đó phát triển thị trƣờng sức lao động theo định hƣớng XHCN. Pháp
lệnh “Hợp đồng lao động” ngày 30/ 8/ 1990 ở nƣớc ta đã thừa nhận phƣơng pháp
tuyển chọn và sử dụng lao động mới, phù hợp với nền kinh tế, trong đó đề cao sự
thỏa thuận giữa NLĐ và ngƣời sử dụng lao động đảm bảo lợi ích cả đôi bên.
1.1.3.2. Về tái sản xuất sức lao động
Sức lao động của xã hội không ngừng đƣợc tái tạo cùng với quá trình tái sản
xuất xã hội. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ ngày nay đã
làm cho việc tái sản xuất sức lao động mang thêm nội dung mới.
Để sản xuất ra sức lao động, trƣớc hết phải tiêu dùng một lƣợng cơ sở vật
chất nhất định nhằm sản sinh và nuôi dƣỡng con ngƣời khi còn trong bụng mẹ
cho đến khi họ có khả năng lao động. Chi phí này thƣờng đƣợc gọi là chi phí để
nuôi con cái, thực ra đó là chi phí để nuôi chính bản thân ngƣời lao động tƣơng
lai, để tạo ra năng lực lao động mới. C.Mác viết:“ Những ngƣời sở hữu sức lao
động đều có thể chết đi. Muốn luôn luôn có những ngƣời lao động trên thị trƣờng
nhƣ sự chuyển hoá không ngừng của tƣ bản đòi hỏi thì phải làm cho họ sống vĩnh
viễn nhƣ mỗi cá nhân sống bằng cách sinh con, đẻ cái” [7, 223]. Điều này khẳng
định trong tổng số tƣ liệu sinh hoạt cần thiết cho việc tái sản xuất sức lao động
14


bao gồm những tƣ liệu sinh hoạt cần thiết cho con cái của ngƣời lao động tồn tại
và phát triển .
Trong quá trình lao động, ngƣời lao động phải tiêu hao sức óc, bắp thịt, thần
kinh. Để bảo tồn và khôi phục sức lao động đã hao tốn đó con ngƣời phải ăn
uống, nghỉ ngơi hợp lý, phải tiêu dùng một lƣợng tƣ liệu sinh hoạt cần thiết. Các
Mác chỉ rõ “ nếu ngƣời sở hữu sức lao động đã lao động ngày hôm nay thì anh ta

“kiểu” thành phố công nghiệp mà trong đó có tổng thể các yếu tố hợp thành từ
sản xuất công nghiệp, thị trƣờng, môi trƣờng hạ tầng cơ sở đến cấu trúc cƣ dân,
điều kiện an toàn xã hội. Khu công nghiệp với những yếu tố hợp thành sản xuất
công nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các nƣớc
đang phát triển nhƣ ở khu vực Đông Nam Á. Đây là các trung tâm kinh tế có khả
năng thu hút tập trung về vốn, về công nghệ cao, trình độ và năng lực cao trong
tổ chức của quản lý và sản xuất để tạo ra sự cạnh tranh cao đối với đầu tƣ trong
nƣớc và quốc tế, làm khâu đột phá cho sự tăng trƣởng kinh tế của quốc gia.
Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nƣớc ở Việt Nam, các khu công
nghiệp, khu chế xuất thực sự có vai trò quan trọng và đóng góp lớn. Chủ trƣơng
phát triển các KCN đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta xác định rõ trong các văn kiện
của Đảng. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: “ Hình thành các khu
công nghiệp tập trung ( bao gồm cả khu công nghiệp và khu công nghệ
cao)…hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghệ mới xen lẫn với khu dân cƣ”. Báo
cáo chính trị Đại hội IX, đoạn nói về chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2001 –
2010 tiếp tục khẳng định: “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nƣớc,
phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu
công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và khu kinh tế mở”.
Theo Vụ Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất Bộ Kế hoạch và Đầu
tƣ, tính đến tháng 6/2004 nƣớc ta có 154 khu công nghiệp, khu chế xuất đƣợc
duyệt quy hoạch phát triển; trong đó có 151 khu công nghiệp và khu chế xuất đã
thành lập với tổng diện tích 25.400 ha (không kể khu Dung Quất 14.000 ha là
khu kinh tế tổng hợp và khu công nghệ cao Hoà Lạc, khu công nghệ cao
TP.HCM). Các tỉnh phía Bắc có 23 khu công nghiệp với diện tích 3.345 ha. Đa
số các khu công nghiệp đƣợc hình thành và phát triển tại Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Nơi đây có những khu
16


công nghiệp Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ (Hải Phòng), Bắc Thăng Long, Sài


có tiền lệ, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, nên cũng xuất hiện nhiều vấn đề phải
tiếp tục giải quyết.
- Cung - cầu sức lao động trong các khu công nghiệp
Quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất luôn luôn xuất hiện
vấn đề cung và cầu sức lao động, trên thị trƣờng sức lao động của khu vực và cả
nƣớc.
+ Cung về sức lao động: Là tổng nguồn sức lao động do ngƣời lao động tự
nguyện tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội. Cung về sức lao động còn đƣợc
xem xét từ giác độ chất lƣợng sức lao động, bao gồm trình độ học vấn, trình độ
đào tạo, các kỹ năng chuyên môn, kỷ luật lao động .v.v… Các nhân tố ảnh hƣởng
tới cung lao động là: quy mô và tốc độ tăng dân số; quy định về độ tuổi lao động;
tình trạng tự nhiên của ngƣời lao động; tỷ lệ tham gia của lực lƣợng lao động vào
thị trƣờng lao động và một số nhân tố khác. Thực tế các khu công nghiệp tập
trung là nơi thu hút rất nhiều lao động và có yêu cầu cao về chất lƣợng, nên cung
về lao động tại chỗ không thể đáp ứng. Vì vậy đã xuất hiện lƣợng dịch chuyển
lớn lao động từ các vùng khác đến khu công nghiệp.
+ Cầu về sức lao động: Là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một
địa phƣơng hay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định. Nhu cầu
lao động thể hiện qua yêu cầu thuê mƣớn lao động trên thị trƣờng lao động. Về
mặt lý thuyết, cầu về lao động cũng đƣợc phân chia thành hai loại: cầu thực tế và
cầu tiềm năng.
* Cầu thực tế về lao động: Là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng tại
một thời điểm nhất định thể hiện qua số lƣợng những chỗ làm việc trống và
những chỗ làm việc mới.
* Cầu tiềm năng về lao động: Là nhu cầu về lao động cho tổng số làm việc
có thể có đƣợc, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tạo việc
làm trong tƣơng lai, nhƣ vốn, đất đai, tƣ liệu sản xuất, công nghệ và cả những
điều kiện khác, nhƣ chính trị, xã hội…..
18

1.1.4.1. Thu nhập của người lao động
19


Thu nhập là lƣợng tiền, hàng hoặc dịch vụ mà một cá nhân, một tổ chức hay
một nền kinh tế nhận đƣợc trong một khoảng thời gian xác định. Căn cứ vào các
hình thức phân phối hiện nay trong nền kinh tế quốc dân, hệ thống thu nhập của
ngƣời lao động gồm:
- Thu nhập lần đầu của ngƣời lao động: là khoản thu nhập mà ngƣời lao động
nhận đƣợc từ doanh nghiệp (tiền lƣơng và các loại thu nhập khác dƣới hình thức
thù lao lao động, tiền thƣởng).
- Thu nhập do phân phối lại: là khoản thu nhập mà ngƣời lao động nhận đƣợc
qua các hình thức phúc lợi xã hội và các hoạt động khác( nhƣ quà biếu, tặng,
trúng số…)
- Tổng thu nhập: là toàn bộ số tiền mà ngƣời lao động đã nhận đƣợc trong một
thời kỳ nào đó (tháng, quý, năm) bao gồm:
+ Tiền lƣơng và các khoản có tính chất tiền lƣơng.
+ Bảo hiểm xã hội trả thay lƣơng.
+ Các khoản thu nhập khác nhƣ: Tiền ăn ca ba, ăn trƣa, tiền hao mòn xe cộ;
trang bị bảo hộ lao động đƣợc sử dụng ngoài giờ làm việc; phụ cấp lƣu trú khi đi
công tác.
+ Thu nhập do sở hữu, tiền cho thuê nhà, cổ tức…trúng xổ số, lãi gửi tíết
kiệm...
- Thu nhập cuối cùng: là thu nhập còn lại sau khi lấy tổng thu nhập trừ đi các
khoản chuyển vào phân phối lại nhƣ, trích nộp bảo hiểm (BHXH + BHYT), đóng
kinh phí cho đoàn thể (Đảng, Đoàn, Công đoàn), ủng hộ các loại (lũ lụt, hạn
hán…), nộp thuế thu nhập…
- Thu nhập thực tế: là biểu hiện bằng tiền theo giá trị so sánh khối lƣợng hàng
hoá và dịch vụ mà ngƣời lao động mua đƣợc từ thu nhập cuối cùng.
Thu nhập của mỗi ngƣời phụ thuộc vào sự phân phối, trong đó phân phối theo

+ Đi lại: Nhiều lao động làm việc trong các khu công nghiệp tập trung
thƣờng ở xa khu dân cƣ. Để đảm bảo thời gian lao động sản xuất, ngƣời lao động
thƣờng phải trải qua một quãng đƣờng dài và có nhiều phức tạp từ nơi ở đến nơi
làm việc, nên thƣờng mất nhiều thời gian và để tránh bị phạt trừ vào tiền thƣởng.
21


Số lƣợng ngƣời lao động làm việc tại các khu công nghiệp thƣờng rất đông, sử
dụng nhiều phƣơng tiện đến nơi làm việc, nên dễ bị kẹt xe, càng làm chi phí thời
gian cho đi lại nhiều hơn. Một số doanh nghiệp tổ chức xe đƣa rƣớc công nhân,
qua đó giảm chi phí cá nhân, làm tăng thêm thu nhập thực tế của họ .
+ Về mặc: Nhìn chung ngƣời lao động phải chi từ thu nhập của mình cho
nhu cầu mặc. Trong quá trình lao động các doanh nghiệp trang bị đồng phục cho
ngƣời lao động nhờ đó giúp ngƣời lao động giảm một phần chi phí cho nhu cầu
mặc từ thu nhập của cá nhân.
- Mức độ đáp ứng các nhu cầu tinh thần
+ Nhu cầu học tập: Học tập là chìa khóa để tiếp nhận tri thức khoa học công
nghệ hiện đại, trình độ học vấn của ngƣời lao động càng cao, thì họ càng có điều
kiện tiếp nhận công nghệ hiện đại, ứng dụng nó vào cuộc sống, vào quá trình sản
xuất và do đó càng có cơ hội thích ứng với sự chuyển đổi nghề nghiệp. Trong
điều kiện của kinh tế tri thức, học tập là việc suốt đời. Việc quan tâm đến nhu cầu
học tập của ngƣời lao động, của toàn xã hội và doanh nghiệp không chỉ làm tăng
thu nhập thực tế, mà còn góp phần thỏa mãn nhu cầu tinh thần của ngƣời lao
động.
+ Nhu cầu nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ: Việc đào tạo,
nâng cao tay nghề cho ngƣời lao động không chỉ là yêu cầu của các doanh nghiệp
khu công nghiệp, mà còn là nhu cầu của ngƣời lao động. Để có thể lao động sản
xuất dài hạn, ổn định và tăng thu nhập, nâng chất lƣợng cuộc sống, ngƣời lao
động có nhu cầu tự học, tự rèn nâng cao trình độ kiến thức, học nghề nâng cao,
học nghề mới, nắm công nghệ mới. Mức độ và hình thức đáp ứng nhu cầu nâng

cạnh tranh, quy luật cung cầu… Tiền lƣơng vừa là yếu tố phân phối, vừa là yếu tố
sản xuất, tiền lƣơng đối với ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động có ý nghĩa
khác nhau.
Đối với ngƣời lao động, tiền lƣơng là động lực kinh tế thúc đẩy ngƣời lao
động quan tâm đến công việc của họ. Trả đúng, trả đủ tiền lƣơng cho ngƣời lao
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status