Hoàn thiện hoạt động thanh tra nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở việt nam luận văn ths kinh tế 60 31 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ

PHẠM ĐĂNG DŨNG

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2004


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIấN Lí LUẬN CHÍNH TRỊ
-------------------------

PHẠM ĐĂNG DŨNG

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 5.02.01

Người hướng dẫn: TS. PHAN TRUNG CHÍNH

HÀ NỘI - 2004

2.1.2. Quá trình đổi mới các DNNN
52
2.2. Thực trạng hoạt động thanh tra nhà nước đối với các DNNN ….…...…. 58
2.2.1. Tình hình thanh tra DNNN trong thời gian qua
58
2.2.2. Những vấn đề đang đặt ra cho ngành thanh tra
70
2.3. Đánh giá chung ………………………………………………………………………… 78
2.3.1. Thành tựu và hạn chế
78
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
80
Chương

3.

QUAN

ĐIỂM



CÁC

GIẢI

PHÁP

CHỦ



- CNXH

Chủ nghĩa xã hội

- CNH, HĐH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- DN

Doanh nghiệp

- DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

- KN, TC

Khiếu nại, tố cáo

- NSNN

Ngân sách nhà nước

- QHSX

Quan hệ sản xuất

- QLNN

sự quản lý của Nhà nước. Cương lĩnh của Đảng khảng định: “Phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”[1, tr.67-68].
Sau hơn mười năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội trầm trọng, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã đạt
được những thành tựu to lớn: tốc độ tăng trưởng khá, chính trị - xã hội ổn định,
an ninh quốc phòng được giữ vững, vị thế của chúng ta trên trường quốc tế được
nâng cao và đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên
rõ rệt. Cùng với sự phát triển của đất nước, vai trò quản lý về kinh tế của Nhà
nước cũng được đổi mới và từng bước hoàn thiện cả về mục tiêu lẫn chức năng,
nhiệm vụ và các công cụ quản lý vĩ mô, trong đó có công cụ thanh tra và thanh
tra các DNNN.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị
quyết và các văn bản pháp luật về thanh tra; củng cố, tăng cường và từng bước
hoàn thiện tổ chức bộ máy thanh tra các cấp. Chính vì vậy, trong thời gian qua
hoạt động thanh tra đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những thành
tích rất khả quan và góp phần hạn chế những mặt trái của cơ chế thị trường...
phục vụ kịp thời cho công cuộc đổi mới đất nước nói chung và công tác quản lý
về kinh tế của Nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, hoạt động thanh tra cũng còn
những tồn tại, hạn chế nhất định như: hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra
chưa đồng bộ; hệ thống tổ chức bộ máy cồng kềnh, dàn trải và chưa thống nhất;
chức năng nhiệm vụ chưa rõ ràng, còn chồng chéo; quyền hạn chưa tương xứng
1


với chức năng, nhiệm vụ... đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh
ta. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và công tác quản lý kinh tế
của Nhà nước trong thời gian tới đòi hỏi hoạt động thanh tra cần được khắc
phục, đổi mới và từng bước hoàn thiện.
Mặt khác, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong quá

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thanh tra đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và các DNNN
nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu, có thể nêu một số bài viết, đề tài
nghiên cứu như:
- Trần Đức Lượng: "Đổi mới tổ chức và hoạt động hệ thống Thanh tra
Nhà nước theo hướng cải cách hành chính Nhà nước". Đề tài khoa học cấp Bộ,
mã số 95-98-043/ĐT - Cơ quan Thanh tra Nhà nước - Năm 1996.
- Nguyễn Văn Liêm: "Cơ sở khoa học xác định mô hình và cơ cấu tổ chức
Thanh tra Nhà nước các cấp đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước". Đề
tài khoa học cấp Bộ, mã số 98-98-101/ĐT - Cơ quan Thanh tra Nhà nước - Năm
2001.
- Trần Đức Lượng: "Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước". Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước, mã
số 98-98-048/ĐT - Cơ quan Thanh tra Nhà nước - Năm 2002.
- Nguyễn Văn Thâm: "Một số vấn đề về thanh tra và tổ chức hoạt động
thanh tra trong tình hình hiện nay ở nước ta". Thông tin khoa học số 1-1997- Cơ
quan Thanh tra Nhà nước.
- Phạm Văn Khanh: "Bàn về định hớng đổi mới tổ chức, hoạt động thanh
tra ở nước ta". Thông tin khoa học số 1-1997- Cơ quan Thanh tra Nhà nước.
- Phạm Tuấn Khải: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề đổi mới tổ chức
và hoạt động của Thanh tra Nhà nước ở Việt Nam". Luận án tiến sĩ luật học, mã
số 5.05.01 - Năm 1996.
- Nguyễn Thanh Hải: "Vai trò của Thanh tra Nhà nước trong việc thực
hiện dự án ở nước ta hiện nay". Luận án thạc sĩ hành chính học, mã số 5.07.05 Năm 2000.
3


- Ngô Văn Khánh: "Tăng cường hiệu lực thanh tra tài chính đối với doanh
nghiệp Nhà nước". Luận án thạc sĩ kinh tế - Năm 2002 .v.v.
Nhìn chung các đề tài, các bài viết đã phản ánh nhiều vấn đề của hoạt

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thanh tra đặt trong mối quan hệ
với cơ chế quản lý kinh tế nói chung và đi sâu phân tích hoạt động thanh tra của
Nhà nước đối với DNNN trong mối quan hệ với hoạt động thanh tra, kiểm tra
nói chung của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Luận văn thực hiện dưới góc độ kinh tế chính trị đặt trong mối quan hệ
với khoa học quản lý về quản lý kinh tế để nghiên cứu, nhằm làm rõ những vấn
đề cơ bản, chủ yếu của đề tài. Thời gian nghiên cứu khảo sát chủ yếu trong giai
đoạn từ năm 1995 đến năm 2004 và đề xuất giải pháp định hướng đến năm
2010.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Dựa vào những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý nền kinh tế nói chung, về DNNN nói
riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; để luận giải sự
cần thiết khách quan phải hoàn thiện hoạt động thanh tra nhà nước đối với các
DNNN, một trong những chức năng cơ bản của quản lý kinh tế của Nhà nước.
5.2. Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu chính sau:
- Báo cáo hàng năm (1995-2004) của cơ quan Thanh tra Nhà nước (nay là
Thanh tra Chính phủ) và báo cáo hàng năm (2000-2004) của Thanh tra một số
tỉnh, thành phố và Thanh tra Bộ Tài chính;
- Lịch sử Thanh tra Việt Nam (1945-1995);
- Tài liệu khảo sát các tổ chức TTNN và DNNN (Tổng công ty 90, 91 và
DNNN ở các địa phương) của Thanh tra Nhà nước;
- Tài liệu của Ban đổi mới và phát triển DNNN…
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp truyền thống của Chủ nghĩa Mác-Lênin
về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp sử dụng phương
5


1.1.1. Khái niệm thanh tra và vị trí, vai trò của DNNN trong nền kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm thanh tra
Ngày nay, các khái niệm giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm kê và kiểm
soát được sử dụng phổ biến trong hoạt động quản lý nói chung và trong quản lý
nhà nước nói riêng. Về hình thức đây là những khái niệm khác nhau, nhưng về
nội dung lại có một sự giao thoa rất lớn. Chính vì vậy, mà cách sử dụng các khái
niệm này cũng rất phong phú và đa dạng. Việc dùng khái niệm nào là tuỳ thuộc
vào mục đích, tính chất và hoàn cảnh cụ thể để sử dụng cho phù hợp. Thanh tra
(tiếng Anh là inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectare) có nghĩa là “nhìn
vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một
đối tượng nhất định” [54, tr.17]. Theo từ điển Tiếng Việt, nghĩa thứ nhất thanh
tra là điều tra, xem xét để làm rõ vụ việc; nghĩa thứ hai là chỉ người làm nhiệm
vụ thanh tra [45, tr.1034]. Theo khái niệm này, người làm nhiệm vụ thanh tra
phải điều tra, xem xét để làm rõ vụ việc. Như vậy, khái niệm này bao gồm: chủ
thể thanh tra, phương pháp thanh tra, mục đích thanh tra và nội dung thanh tra.
Nhưng chủ thể, vụ việc ở đây chưa được rõ ràng.
Theo giáo trình Nghiệp vụ thanh tra: “nghĩa thứ nhất thanh tra là kiểm
soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp; nghĩa thứ hai
chỉ nghề nghiệp, tên gọi chức danh như người làm nhiệm vụ thanh tra, Đoàn

7


thanh tra của Bộ… Thanh tra có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào
hoạt động của một đối tượng nhất định” [41, tr.10-11].
Như vậy, nội hàm của khái niệm mà giáo trình đề cập đã được mở rộng và
rõ ràng hơn. Thanh tra là một hoạt động quản lý của nhà nước. Các cơ quan nhà
nước là chủ thể thanh tra và người được uỷ quyền trực tiếp tiến hành các cuộc
thanh tra là Đoàn thanh tra. Nội dung và đối tượng thanh tra là việc làm của địa
phương, cơ quan, xí nghiệp. Phương pháp hay cách thức tổ chức thực hiện là

quy định”. Đặc biệt, khái niệm này còn đề cập rất cụ thể đến mục đích của hoạt
động thanh tra.
Theo Điều 4 của Luật Thanh tra (2004): “Thanh tra nhà nước là việc xem
xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính
sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo
thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác
của pháp luật” [14, tr.198]. So với các khái niệm trên, khái niện này đã thể hiện
tương đối đầy về nội dung và mang tính khái quát hơn, nó đã khắc phục được
những hạn chế của các khái niệm trên.
Tóm lại: Do nội hàm của khái niệm thanh tra rộng và cách tiếp cận khác
nhau, cho nên còn có sự nhận thức khác nhau về khái niệm thanh tra là một tất
yếu khách quan. Thông qua việc phân tích các khái niệm trên, có thể rút ra một
số vấn đề chủ yếu sau:
- Thanh tra là một loại hoạt động của quản lý nhà nước, là một chức năng
thiết yếu của các cơ quan quản lý nhà nước.
- Chủ thể thanh tra là các cơ quan nhà nước, việc tổ chức tiến hành các
cuộc thanh tra thường do các các tổ chức thanh tra thực hiện mà trực tiếp là
Đoàn thanh tra hoặc các Thanh tra viên.
- Đối tượng thanh tra là việc làm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân.
- Nội dung thanh tra là việc chấp hành chính sách, pháp luật, việc thực
hiện nhiệm vụ và các chế độ, quy định của Nhà nước.
- Phương pháp thanh tra chủ yếu là kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, xem xét
và có thể phải dùng cả điều tra, giám sát… và tuân theo một trình tự thủ tục
nhất định do pháp luật quy định.
9


- Mục đích của thanh tra là nhằm phục vụ cho quản lý và nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước.
Như vậy, Thanh tra là sự xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật,

DNNN có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một
bộ phận chủ yếu của kinh tế nhà nước và cùng với kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế. Ơ nước ta, các DNNN đang chiếm giữ những vị trí
then chốt, những ngành kinh tế mũi nhọn và những ngành kinh tế chủ yếu của
đất nước. Nó là lực lượng chủ lực trong hội nhập quốc tế, trong liên doanh, liên
kết với các thành phần kinh tế khác. Cho nên, thông qua việc liên doanh, liên kết
Nhà nước sẽ kiểm soát và định hướng hoạt động của các DN này theo quỹ đạo
chung của nhà nước.
Với sức mạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật, đi đầu trong ứng dụng khoa học
công nghệ tiên tiến, đội ngũ lao động và quản lý được đạo đào tạo chính quy;
cho nên các DNNN đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ trong xã hội, hướng
dẫn, hỗ trợ và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng
XHCN.
Với tư cách là công cụ, là lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức
năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, DNNN đã sản xuất ra một khối lượng lớn của
cải vật chất cho xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định và tăng trưởng kinh
tế, hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường như: chống độc quyền, ổn định
giá cả các mặt hàng thiết yếu, ổn định thị trường tiền tệ… kích thích cung cầu
nhằm lập lại những cân đối lớn trong nền kinh tế để thị trường phát triển lành
mạnh và có hiệu quả.
Sau một thời gian sắp xếp, đổi mới và phát triển, các DNNN đang thích
ứng dần với những đòi hỏi của cơ chế thị trường, đã chiếm ưu thế về một số loại
hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, là lực lượng đảm bảo và giải quyết các vấn đề chính
sách xã hội, là lực lượng chủ yếu trong đóng góp vào ngân sách nhà nước… góp
phần cân đối thu chi ngân sách nhà nước, làm cho xã hội ổn định, phát triển và
đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết TW 3 khoá IX của Đảng đã
khảng định rõ: “DNNN là lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà

11


12


xuất của các thành phần kinh tế, trong đó có DNNN. Với tư cách là chủ sở hữu
của DNNN, Nhà nước xác định mục tiêu của DN, hoạch định chiến lược phát
triển DN, xây dựng các chính sách tài chính của DN, các kế hoạch phát triển của
DN, nhằm đảm bảo cho DN phát triển đúng mục tiêu, định hướng đã lựa chọn…
Trong quá trình thanh tra các DNNN, Đoàn thanh tra hoặc các Thanh tra viên
xem xét việc tổ chức thực hiện các mục tiêu và chiến lược phát triển của DN.
Nếu phát hiện DN thực hiện không đúng, chệch hướng thì thanh tra phải điều
chỉnh, uốn nắn nhằm đảm bảo cho DN phát triển đúng mục tiêu, định hướng đã
đề ra.
- Giúp cho DNNN đạt được những sản phẩm dịch vụ chủ yếu
Hiện nay, DNNN đang giữ những vị trí then chốt, những ngành kinh tế
mũi nhọn hay những ngành kinh tế chủ yếu và chiếm một tỷ trọng lớn trong nền
kinh tế quốc dân. Do vậy, số lượng hàng hoá dịch vụ của các DNNN sản xuất ra
có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống xã hội nói chung và nền kinh tế nói
riêng. Nó là công cụ, là lực lượng vất chất quan trọng để Nhà nước định hướng
và điều tiết nền kinh tế. Nó như một “cái van an toàn” của nền kinh tế, để Nhà
nước điều chỉnh các hoạt động kinh tế. Chính vì vậy mà thanh tra không thể
không kiểm tra, xem xét việc thực hiện số lượng hàng hoá dịch vụ chủ yếu mà
Nhà nước giao cho DN. Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện DN không thực
hiện hoặc không bảo đảm đủ chỉ tiêu, thanh tra phải làm rõ nguyên nhân, báo
cáo kịp thời với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và tìm biện pháp
khắc phục, nhằm bảo đảm cân đối cung cầu về loại hàng hoá dịch vụ đó. Đối với
các trường hợp cố tình làm sai hoặc vì mục đích cá nhân mà DN không thực
hiện các chỉ tiêu được giao, thanh tra sẽ kiến nghị với các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xử lý hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trước pháp
luật. Nhìn chung, mọi vi phạm về chỉ tiêu này đều phải xử lý nghiêm minh,
nhằm làm cho các DN phải chấp hành nghiêm, vì đây là một trong những chỉ

cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của DNNN, góp phần cùng
kinh tế nhà nước giữ vững vai trò chủ đạo và định hướng pháp triển nền kinh tế.
- Góp phần loại trừ tiêu cực, tham nhũng trong các DNNN

14


Cơ chế thị trường, về cơ bản có rất nhiều ưu điểm và tác dụng mà không
không thể phủ nhận, song bên cạch đó nó cũng có những mặt trái, những khuyết
tật cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để hạn chế những khuyết tật ấy và
“sửa chữa những thất bại của thị trường”. Do chạy theo lợi nhuận, nên các DN
dễ dẫn đến cạnh tranh không hoàn hảo, làm ô nhiễm môi trường, khủng hoảng,
suy thoái, thất nghiệp… Hiện tượng chốn lậu thuế, gian lận thương mại, vi phạm
bản quyền, làm hàng giả đang diễn ra phổ biến ở nước ta. Bên cạnh đó, tình
trạng sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, mất vốn cũng không
phải là ít trong các DNNN. Đặc biệt, “Tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu
nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng” [2, tr.3], trong các cơ quan nhà nước
nói chung và trong các DNNN nói riêng. Do đó, thanh tra phải có trách nhiệm
phát hiện, tìm ra những tiêu cực, tham nhũng để xử lý, truy tố trước pháp luật.
Đồng thời, qua thanh tra cũng thấy được sự sơ hở của chính sách, pháp luật, của
cơ chế quản lý để sửa đổi, bổ xung nhằm hạn chế, đẩy lùi tham nhũng tiêu cực.
Vì vậy, chống tham nhũng, tiêu cực cũng là một trong những mục đích của hoạt
động thanh tra các DNNN.
Trên đây là những mục đích kinh tế cụ thể của hoạt động thanh tra
DNNN, các mục đích này được xuất phát từ yêu cầu của công tác quản lý nói
chung và yêu cầu của hoạt động thanh tra nói riêng. Đồng thời các mục đích này
phải nhằm phục vụ cho mục đích chung của hoạt động thanh tra và mục đích
quản lý của Nhà nước về kinh tế.
Tuỳ theo yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác quản
lý của các cấp, các ngành trong từng thời điểm cụ thể, mỗi cuộc thanh tra có một

trình hoạt động các DN thường muốn vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước,
tìm kiếm cho mình những điều kiện kinh doanh thuận lợi, kể cả việc lách luật
hoặc cố tình làm sai như: trốn lậu thuế, gian lận thương mại, không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động, thậm trí có
hành vi hối lộ, tham nhũng, tiêu cực... Vì vậy, thanh tra phải ngăn ngừa, hạn chế
và xử lý nghiêm khắc những hành vi này.
Mặt khác, thanh tra không chỉ có kiểm tra, xem xét các DNNN có thực
hiện đúng chính sách pháp luật hay không, có làm tròn trách nhiệm đối với nhà
16


nước hay không mà thanh tra còn là để ngăn chặn, xử lý các hành vi sai phạm
của DN. Hơn nữa, thanh tra còn phải xem ngay cơ chế chính sách, pháp luật, các
quy định của nhà nước hay mục tiêu, phương hướng phát triển của DN đã đúng
chưa, đã phù hợp với thực tế chưa, để kiến nghị với Nhà nước sửa đổi, điều
chỉnh, bổ xung kịp thời, nhằm thiết lập được mục tiêu, định hướng đúng, một
hành lang pháp lý thông thoáng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các DN phát
triển; phát huy tối đa những ưu thế của cơ chế thị trường và hạn chế đến mức
thấp nhất những mặt trái của nó.
- Với tư cách là chủ sở hữu của các DNNN, Nhà nước là người chủ quản
lý và chi phối toàn bộ các hoạt động của DN như: Quyết định việc thành lập,
chia tách, sát nhập hoặc giải thể DN; Quyết định các chức danh quản lý chủ chốt
của DN; Quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển của DN; Quy
định các nguyên tắc cơ bản hoạt động của DN và kiểm soát toàn bộ hoạt động
của DNNN… nhằm đảm bảo cho DN phát triển đúng hướng và mang lại hiệu
cao trong kinh doanh.
Để thực hiện quyền kiểm tra, kiểm soát của nhà nước đối với DN, Nhà
nước uỷ quyền cho các cơ quan thanh tra thực hiện việc kiểm tra, giám sát toàn
bộ các hoạt động của DN, yêu cầu các DN phải thực hiện đúng mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ và các quy định của Nhà nước. Khi phát hiện DN có

quyền dân chủ của nhân dân được thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực
tiếp và dân chủ gián tiếp. Dân chủ trực tiếp là nhân dân tự mình thảo luận, quyết
định những công việc liên quan đến lợi ích của cộng đồng hay của DN như: xây
dựng nếp sống văn hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng, sử dụng các loại quỹ tự đóng
góp hay quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi của DN… Thông qua lá phiếu, nhân dân
trực tiếp lựa chọn những người có đủ tài, đức vào các cơ quan quyền lực nhà
nước như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân hay Ban lãnh đạo của DN… để thay
mặt nhân dân quản lý đất nước, quản lý DN.
Ngoài ra, nhân dân còn thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua việc
trực tiếp theo dõi, kiểm tra, giám sát, nhận xét, đánh giá các cơ quan nhà nước,
các cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện chức trách, nhiện vụ mà
nhà nước và nhân dân giao cho.
18


Để bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trở thành hiện thực, Nhà nước
yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tôn trọng quyền dân chủ của nhân
dân, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ, chống mọi hành vi quan liêu, cửa
quyền, hách dịch đối với nhân dân. Đồng thời, Nhà nước cũng tổ chức ra các cơ
quan để giám sát, kiểm tra, kiểm soát và xem xét việc thực hiện quyền dân chủ
của nhân dân, trong đó có các cơ quan Thanh tra Nhà nước. Thông qua các cuộc
thanh tra và giải quyết KN,TC tại DN, cán bộ, công nhân viên thấy được thực
trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và trình độ năng lực, phẩm chất
đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý. Từ đó, họ có cơ sở để tham gia vào các hoạt
động của DN như: bàn về phương hướng sản xuất kinh doanh, công tác quản lý
của DN, phát hiện và lựa chọn những cán bộ, công chức có đủ trình độ năng lực,
phẩm chất đạo đức tham gia vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp và là nguồn
bổ xung cán bộ cho các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, cũng tạo
những điều kiện thuận lợi cho quần chúng tham gia vào việc phát hiện, đấu tranh
với các hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch, tiêu cực, tham nhũng… để loại

nhiều đoàn thanh tra cùng đến hoặc cùng thanh tra một nội dung trong một
năm… Như thế, việc tiến hành các cuộc thanh tra rất dễ sinh ra chồng chéo,
không những gây khó khăn cho đối tượng thanh tra mà chính ngay các đoàn
thanh tra cũng khó xử lý trong các tình huống này. Ngược lại, nếu nhiều chủ thể
cùng có thẩm quyền thanh tra một DN thì cũng rất dễ dẫn đến tình trạng, cơ
quan này tưởng cơ quan kia làm, như thế cũng sẽ dẫn tới có DN bị bỏ sót, không
ai xem xét DN… Vì vậy, việc tổ chức hệ thống thanh tra và sự phân cấp quyền
thanh tra phải rất khoa học và cụ thể thì mới khắc phục được tình trạng trên. Dù
tổ chức hệ thống thanh tra theo ngành dọc hay theo kiểu song trùng lãnh đạo
(vừa theo cấp, vừa theo ngành) thì mỗi cơ quan thanh tra chỉ thanh ra một hoặc
một số cơ quan, đơn vị hay DN nhất định và tổ chức phúc tra dưới một cấp, tức
là phải hạn chế đến mức thấp nhất các cơ quan có thẩm quyền thanh tra vào một
cơ quan, đơn vị hay một DN. Theo luật Thanh tra, mô hình của cơ quan Thanh
tra Nhà nước hiện nay là:
“1. Các cơ quan Thanh tra Nhà nước bao gồm:
a. Cơ quan Thanh tra được thành lập theo cấp hành chính;
20


b. Cơ quan Thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực.
2. Cơ quan Thanh tra Nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng
cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp
vụ của Thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn của cơ quan thanh tra cấp
trên” [14, tr.200].
1.2.1.2. Đối tượng thanh tra
Trong Điều 2 của Luật Thanh tra ghi rõ: “Phạm vi thanh tra: Cơ quan
Thanh tra nhà nước tiến hành Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ
quan quản lý nhà nước cùng cấp” [14, tr.197]. Như vậy, đối tượng, phạm vi
thanh tra của các cơ quan Thanh tra Nhà nước là các cơ quan, tổ chức và cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status