ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------
PHẠM THỊ HƯƠNG
VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------
PHẠM THỊ HƯƠNG
VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60 31 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN DŨNG
1.2.1.
TÍNH TẤT YẾU CỦA VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ ............................................. 33
1.2.2.
CÁC CHỨC NĂNG CHỦ YẾU CỦA NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ. ................................ 34
1.3.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ NHÀ
NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ .............................................................................................. 39
1.3.1.
VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA
HỌC - CÔNG NGHỆ Ở TRUNG QUỐC..................................................... 39
1.3.2.
KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC ............................................................ 44
1.3.3.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM............................................. 47
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...............52
ĐỊNH HƯỚNG, ĐIỀU TIẾT ........................................................................ 76
2.2.4
KIỂM TRA, GIÁM SÁT .............................................................................. 82
2.3.
ĐÁNH GIÁ CHUNG ................................................................................... 86
2.3.1.
NHỮNG THÀNH TỰU ................................................................................ 86
2.3.2.
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN ................................................ 90
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI ................95
3.1.
BỐI CẢNH MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ NHÀ NƯỚC
TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC - CÔNG
NGHỆ VIỆT NAM ...................................................................................... 95
3.1.1.
3.3.
NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM ......................................... 112
3.3.1.
HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ ..................................................... 112
3.3.2.
XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT
TRIỂN CỦA KH - CN, THỊ TRƯỜNG KH - CN. ..................................... 116
3.3.3.
NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC - CÔNG
NGHỆ. ......................................................................................................... 121
3.3.4.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA GIÁM SÁT .......... 122
3.3.5.
CUNG CẤP HIỆU QUẢ HÀNG HÓA CÔNG .......................................... 124
KT – XH
Kinh tế - xã hội
KTTT
Kinh tế thị trường
R&D
Nghiên cứu triển khai
SHTT
Sở hữu trí tuệ
TCH
Toàn cầu hóa
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nhân loại đã bước sang kỷ nguyên
mới - kỷ nguyên của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Đến nay,
khoa học và công nghệ đã trở thành động lực phát triển hàng đầu và đóng góp
lạc hậu so với thực tiễn, nhiều quy định không khả thi; Thiếu phân công,
phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ, ngành, giữa trung ương
và địa phương. Vậy Nhà nước cần làm gì để khắc phục những thiếu sót
trên?
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo
xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc phát triển kinh tế - xã hội nói
chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng đang đặt ra yêu cầu lớn và bức
xúc về việc Nhà nước phải làm gì để tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường
khoa học - công nghệ.
Đứng trước những vấn đề nêu trên, chúng ta muốn phát triển thị trường
khoa học - công nghệ thì phải tăng cường vai trò của Nhà nước trong thị
trường này. Đó là lý do để vấn đề “Vai trò Nhà nước trong phát triển thị
trường khoa học - công nghệ ở Việt Nam hiện nay” được chọn làm đề tài của
luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng và phát triển rộng khắp
trên thế giới nên việc nghiên cứu nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này đã
được chú trọng từ lâu ở nhiều nước.
Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về thị trường khoa học -
công nghệ và phát triển thị trường khoa học - công nghệ của các nhà khoa
học, các tổ chức. Chẳng hạn, công trình "Nguyên lý phát triển dựa trên công
nghệ" của Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương
(APCTT) với 6 cuốn sách, trong đó làm rõ những vấn đề chung về công nghệ
và đánh giá công anghệ. Một số tác giả khác đi sâu vào hoạt động nghiên cứu
khoa học và chuyển giao công nghệ như Morries Low (2000), B. Bowonder
(1989), Ramanathan (1990), hoặc nghiên cứu một số kinh nghiệm về ứng dụng
công nghệ ở một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... Điều đáng
chú ý là phần lớn các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu thị trường khoa
khoa học xã hội số 12 - 2000; GS. Jon Sigurdon “Kinh nghiệm các nước Châu
Âu về phát triển thị trường khoa học - công nghệ” trong sách tham khảo
“Phát triển thị trường khoa học - công nghệ Việt Nam”, Nxb Khoa học và Kỹ
Thuật,H.,2004.
Ba là, hướng nghiên cứu tập trung vào một vấn đề cụ thể về cung cầu,
các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường khoa học - công
nghệ như bài viết của tác giả Trần Việt Lâm “Phát triển thị trường khoa học công nghệ: Những vấn đề từ phía doanh nghiệp” đăng trên tạp chí kinh tế và
phát triển số 12/2005; Danh Sơn “Tăng cường năng lực nội sinh về khoa học
công nghệ trong hội nhập kinh tế quốc tế” trên tạp chí Hoạt động khoa học số
1/2004; Lê Uy linh “Phát triển thị trường khoa học công nghệ - Khổ vì thiếu
luật” trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 2/12/2004; Nguyễn Văn Tri “Môi
trường pháp lý cho việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ” trên
tạp chí Hoạt động khoa học số 4/2005
Như vậy, đến nay các công trình đã công bố chưa có công trình nào xem
xét phân tích một cách đầy đủ có hệ thống về lý luận và thực tiễn tác động của
Nhà nước đến sự phát triển thị trường khoa học - công nghệ ở Việt Nam theo nội
dung và tiêu chí đánh giá thống nhất và phù hợp với điều kiện thị trường này.
Do đó, việc nghiên cứu “Vai trò Nhà nước trong phát triển thị trường
khoa học - công nghệ ở Việt Nam hiện nay” sẽ kế thừa những kết quả đạt
được, đồng thời bổ sung những nội dung mới nhằm hệ thống hóa các vấn đề
nêu trên để nâng cao nhận thức và kiến nghị những giải pháp thúc đẩy vai
trò của Nhà nước trong việc phát triển thị trường khoa học - công nghệ ở
Việt Nam.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Từ việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà
nước trong việc phát triển thị trường khoa học - công nghệ, phân tích thực
trạng vai trò của Nhà nước trong phát triển thị trường khoa học - công nghệ
Việt Nam Luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của
- Phương pháp lịch sử kết hợp với logic được sử dụng trong việc phân
tích tổng hợp tác động của Nhà nước đến thị trường khoa học - công nghệ.
-
Luận văn tổng hợp và phân tích các lý luận cơ bản về vai trò của
Nhà nước đến phát triển thị trường khoa học - công nghệ. Luận văn phân
tích tổng hợp kinh nghiệm của một số nước trong việc phát huy vai trò của
Nhà nước trong phát triển thị trường khoa học - công nghệ và có sự đối
chiếu, so sánh với Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp phân tích định tính, định lượng và thống kê được sử
dụng trong luận án để đánh giá vai trò của Nhà nước trong phát triển thị
trường khoa học - công nghệ ở Việt Nam.Phân tích định tính để đưa ra
nhận xét, đánh giá, làm rõ tác động của Nhà nước trong phát triển thị
trường khoa học - công nghệ. Các số liệu của phương pháp thống kê và
phân tích định lượng để kiểm chứng, chứng minh các nhận xét, đánh giá
được đưa ra.
-
Phương pháp tiếp cận hệ thống để xem xét thị trường khoa học -
công nghệ như một hệ thống chỉnh thể bao gồm nhiều chủ thể nhân tố gắn
kết hữu cơ với nhau như hàng hóa, cung, cầu, thể chế.
- Luận văn sử dụng phương pháp dự báo để dự báo bối cảnh quốc tế,
bối cảnh trong nước và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường khoa học công nghệ trong thời gian tới.
6. Những đóng góp mới của luận văn.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về vai trò Nhà nước trong phát triển
thị trường khoa học - công nghệ.
triển, con người phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau: Kinh tế, chính trị,
tôn giáo, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao, quốc phòng-an ninh trong đó có
hoạt động khoa học.
- Đối tượng nghiên cứu của khoa học là các sự vật, hiện tượng và quá
trình của tự nhiên, xã hội và tất cả những gì thuộc về con người. Sở dĩ đối
tượng nghiên cứu của khoa học rộng lớn như vậy vì để tồn tại và phát triển,
con người phải quan tâm đến chính bản thân mình và tất cả những gì ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của mình.
- Mục đích của hoạt động nghiên cứu khoa học là tìm ra các thuộc tính,
tính chất, kết cấu bên trong của mỗi sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật,
hiện tượng. Những kết quả của hoạt động khoa học là làm tăng hiểu biết của
con người về thế giới hiện thực. Những kết quả đó được gọi là tri thức khoa
học. Tri thức khoa học là những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và về con người;
được thể hiện bằng các phát minh dưới dạng lý thuyết, định lý, định luật,
công thức, nguyên tắc.
Theo nghĩa hẹp, khoa học là hệ thống tri thức về các sự vật, hiện tượng
và quá trình của tự nhiên, xã hội và con người.
Để khám phá ra bản chất, quy luật vận động của sự vật hiện tượng, khoa
học sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: thống kê, thực nghiệm, phân tích,
tổng hợp. . . .
Sự phát triển của khoa học dẫn đến sự hình thành các ngành, chuyên
ngành khoa học ngày càng sâu. Sự phát triển của khoa học làm cho con người
tích luỹ được các tri thức khoa học ngày càng lớn.
Khoa học được phân chia thành KHTN và KHXH. KHTN bao gồm các
ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng và quá trình tự nhiên. Đó là các
ngành khoa học như: toán học, lý học, hoá học, sinh học... KHXH bao gồm
các ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng và quá trình xã hội. Đó là các
ngành như: kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, luật học... Ngày nay, người ta
Các nhà nghiên cứu khác tiến xa hơn trong quan niệm về công nghệ khi
đặt nó trong quan hệ với thị trường. R. Jones cho rằng: Công nghệ là cách
thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hoá”. Theo quan
niệm này, công nghệ được gắn với nền kinh tế hàng hoá hay kinh tế thị
trường. Tuy nhiên, khái niệm này lại có nhược điểm là khá đơn giản, chưa đề
cập đến quan hệ giữa khoa học và công nghệ.
Theo Uỷ ban kinh tế xã hội Châu á - Thái Bình Dương “Công nghệ là hệ
thống tri thức về quy trình kỹ thuật chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm
tất cả kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế
tạo dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý”. Khái niệm này sâu rộng hơn những
khái niệm trên nhưng chủ yếu mới đề cập đến mặt kỹ thuật. UNCTAD đưa ra
định nghĩa về công nghệ đầy đủ hơn. “Công nghệ là một đầu vào cần thiết
cho sản xuất và như vậy, nó được mua bán trên thị trường như một hàng hoá
được thể hiện ở một trong những dạng sau:
-
Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được
mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư.
-
Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là
nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết
bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông
tin.
-
- Thành phần kỹ thuật (technoware) bao gồm các thiết bị, máy móc kỹ
thuật, nhà xưởng... mang hình thái vật thể “hữu hình”.
- Là thành phần thông tin phi vật thể “vô hình” (inforeware) gồm các bí
quyết, phát minh, sáng chế, quy trình công nghệ, phương pháp công nghệ,
cách thức xử lý giải pháp công nghệ...
- Thành phần nhân lực (humanware) gồm kiến thức, kỹ năng, trình độ
tay nghề, kinh nghiệm, về các lĩnh vực của người lao động, khả năng thích
ứng với các điều kiện sản xuất của người lao động...
- Thành phần tổ chức (orgaware) gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành,
kiểm tra, điều phối bố trí các nguồn lực...
Từ khái niệm khoa học và khái niệm công nghệ được đề cập ở trên, có
thể thấy rằng, khoa học và công nghệ là hai khái niệm khác nhau. Khoa học
phải tìm tòi, phát minh ra tri thức mới; công nghệ là việc ứng dụng tri thức đó
vào thực tiễn cuộc sống, là việc ứng dụng những phát minh khoa học vào việc
sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên, hai khái niệm đó có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Những thành tựu về khoa học là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển
công nghệ. Sự phát triển công nghệ, một mặt, làm cho các thành tựu khoa học
được ứng dụng trong thực tiễn, làm cho hoạt động khoa học mang tính thực
tiễn, phục vụ thực tiễn. Mặt khác, sự phát triển của công nghệ làm cho hoạt
động thực tiễn của con người có hiệu quả cao hơn nên có điều kiện đầu tư
nhiều hơn cho khoa học; thực tiễn đặt ra cho khoa học những đòi hỏi mới cao
hơn. Từ đó, thúc đẩy khoa học tiếp tục phát triển. ăng ghen đã có nhận xét rất
sâu sắc về quan hệ này:" Nếu kỹ thuật phụ thuộc một phần lớn vào tình trạng
của khoa học thì khoa học lại còn phụ thuộc nhiều hơn nữa vào tình trạng và
những đòi hỏi của kỹ thuật. Khi xã hội có nhu cầu về kỹ thuật thì nhu cầu này
thúc đẩy khoa học tiến lên hơn mười trường đại học." [17, tr. 788]
Do quan hệ chặt chẽ đó, chúng ta nên thay thuật ngữ khoa học - công
nghệ cho thuật ngữ khoa học và công nghệ.
hành, dịch vụ đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng…
5- Dịch vụ R&D theo đơn đặt hàng của các tổ chức, các công ty… Đây
là một loại chi phí mà tất cả các công ty đều phải dành để phát triển hoàn
thiện các sản phẩm, hoặc tung ra các sản phẩm mới để tạo lợi thế cạnh tranh
với các đối thủ. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có những công ty, tổ chức có quy
mô lớn mới có thể tự thực hiện được tất cả các công đoạn của hoạt động
R&D. Bên cạnh đó có rất nhiều công ty vừa và nhỏ, chính phủ và cả chính
những công ty lớn cũng vẫn sử dụng việc đặt hàng R&D tổng thể hay từng
phần đối với các tổ chức chuyên nghiên cứu, như các viện nghiên cứu, trường
đại học... đối với việc phát triển của mình.
6- Thiết bị chứa đựng công nghệ, gồm toàn bộ hệ thống thiết bị hoặc một
phần để chế tạo ra một loại, hoặc nhiều sản phẩm có những đặc điểm chung
giống nhau, hoặc thực hiện một vài công việc nào đó trong toàn bộ một chu
trình sản xuất.
7- Toàn bộ hoặc từng phần một doanh nghiệp bao gồm cả công nghệ
quản lý, những phương thức điều hành quản lý trong nội bộ doanh nghiệp
hoặc trong từng bộ phận doanh nghiệp.
Hàng hóa KH - CN có những đặc điểm sau:
Một là, hàng hóa KH - CN có thể là hữu hình hoặc vô hình. Hàng hóa
KH - CN có thể tồn tại dưới dạng tri thức thuần túy hoặc tồn tại dưới dạng tri
thức được “vật hóa” với các dạng cụ thể như công thức, bản vẽ, quy trình
công nghệ, máy móc, thiết bị công nghệ.
Là một hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và đã được thực
tiễn kiểm nghiệm, khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới
hiện thực, cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có
khả năng cải tạo thế giới hiện thực. Với tư cách là “hệ thống tri thức về các
hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên xã hội, tư duy” thì tri thức khoa học
thuộc về xã hội.
sản xuất sẽ giúp khai thác hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất, từ đó nâng
cao năng lực cạnh tranh cho mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và cho nền kinh tế nói
chung. Trong quá trình chinh phục thế giới tự nhiên, cũng như quản lý xã hội,
con người từng bước khám phá, rút ra những quy luật, nguyên lý vận động và
phát triển của sự vật hiện tượng. Trên cơ sở nhận thức về sự vật, hiện tượng,
con người lại tiếp tục tác động đến thế giớí tự nhiên và xã hội. Nhu cầu hiểu
biết và lĩnh hội tri thức khoa học của con người là không có giới hạn vì bản
thân tri thức khoa học là vô tận. Chính vì vậy giá trị sử dụng của sản phẩm
KH - CN luôn cần thiết cho sự phát triển của xã hội. Như vậy, giá trị sử dụng
hàng hoá KH - CN bền vững với thời gian, được kế thừa và phát triển.
Trong quá trình sử dụng, tính hữu ích của hàng hoá KH -CN càng cao,
lợi ích người sử dụng càng lớn, giá cả của hàng hoá càng lớn. Do đó, giá cả
hàng hoá KH - CN phụ thuộc vào tính hữu ích (giá trị sử dụng) của nó.
Ba là, hàng hóa KH - CN có tính chất hàng hóa công cộng, tức là nó có
tính không thể cạnh tranh trong tiêu dùng, tính không thể ngăn cản. Tính
không thể cạnh tranh trong tiêu dùng tức là hàng hóa có thể cung ứng cho
người này thì cũng có thể cung ứng cho người khác mà không phải chi phí
thêm. Ví dụ: công nghệ làm nhà khung bê tông, công nghệ làm cầu bê tông
đúc hẫng... Các doanh nghiệp xây dựng sử dụng những công nghệ này tăng
lên không làm tăng chi phí xã hội. Tính không thể ngăn cản là không thể ngăn
cản một người sử dụng hàng hóa dù cho người đó không trả tiền. Chẳng hạn,
không thể ngăn cản các doanh nghiệp xây dựng sử dụng những công nghệ
làm nhà, làm cầu nên trên...
Tuy nhiên, nếu các hàng hóa này được cung cấp như các hàng hóa công
cộng sẽ không khuyến khích được các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, cũng
như các hoạt động sáng tạo ra các hàng hóa công nghệ mới của các tổ chức,
cá nhân trong xã hội.
KH - CN là sản phẩm chứa đựng hàm lượng chất xám cao và được sản
sản phẩm công nghệ. Quyền tác giả là quyền sở hữu và quyền sử dụng (khai
thác) của người phát minh ra các ý tưởng, tác phẩm. Tác phẩm được hiểu ở
đây là các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học bao gồm: tác phẩm viết, các
bài giảng, bài phát biểu, công trình khoa học, sách giáo khoa, giáo trình...
Như vậy, sản phẩm khoa học cũng nằm trong đối tượng bảo hộ của quyền tác
giả. Điều này dẫn đến một tất yếu là sự ra đời của hệ thống luật bảo hộ quyền
SHTT ở tất cả các nước, cũng như những “luật chơi” chung cho các quốc gia