TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ KHANG
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN TH.S KINH TẾ
Người hướng dẫn: PGS.TS Vũ Văn Phúc
Hà Nội 2006
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở
Việt Nam hiện nay do Đảng ta lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn, đã mang lại
hiệu quả thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế nước
ta trên trường quốc tế. Nước ta cần phải kiên định và tiếp tục đẩy mạnh phát
triển kinh tế thị trường một cách toàn diện. Nhưng sự phát triển kinh tế thị
trường có tác động hai mặt, bên cạnh mặt tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, nó còn bộc lộ một số tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội của
đất nước. Một trong những tác động tiêu cực đó là sự phân hoá giàu - nghèo
giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội thể hiện ngày càng rõ rệt.
Sự phân hoá giàu nghèo làm chậm tiến trình phát triển đất nước theo
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; không
khẳng định được tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của CNXH; hơn nữa, đó còn là
nguy cơ, tiềm ẩn của sự mất ổn định xã hội, cản trở sự phát triển bền vững ở
nước ta. Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là vấn đề xã hội bức xúc đối với nước ta.
cao, số lượng hộ nghèo còn quá nhiều. Theo chuần mới, cuối năm 2005,
Thanh Hoá còn 275.146 hộ nghèo chiếm 34,71% tổng số hộ trong toàn tỉnh.
Vấn đề XĐGN bền vững để đạt được mục tiêu của tỉnh đề ra (đến năm 2010
còn dưới 20% hộ nghèo, 100% xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn có đủ cơ sở hạ
tầng thiết yếu, 100% hộ nghèo được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ xã hội cơ
bản) là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Chính điều này làm cho vấn đề “Xóa
đói giảm nghèo trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Thanh Hóa” trở
nên cấp thiết và thôi thúc tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
kinh tế chính trị của mình. Đề tài nghiên cứu này vừa có ý nghĩa lý luận, vừa
có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việt Nam được thế giới đánh giá là đã đạt được nhiều thành tựu trong
phát triển kinh tế và XĐGN nhưng khoảng cách giàu nghèo hiện nay lại có xu
hướng tăng lên. Do đó, bên cạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhiều
cơ quan, cán bộ nghiên cứu, chỉ đạo thực tiễn, có rất nhiều tổ chức và cá nhân
ở các lĩnh vực trong và ngoài nước đã quan tâm nghiên cứu trên các góc độ
khác nhau về vấn đề này, trong đó có những công trình tiêu biểu sau:
2
Ngoài nước có:
- Nhóm chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) gồm Richarh
M.Bird, Jennie I.Livack và M.Govinda Rao đã khảo sát nghèo đói trong
“Quan hệ tài chính nhà nước các cấp và XĐGN ở Việt Nam” nêu lên mối
quan hệ phân cấp tài chính giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa
phương trong công tác XĐGN qua hệ thống phân phối ngân sách.
- Công ty ADUKI (Thụy Điển) với “Vấn đề nghèo ở Việt Nam”, đã
đánh giá tác động của công cuộc đổi mới đối với vấn đề đói nghèo gắn liền
với các vấn đề kinh tế, giáo dục, tín dụng... Trên cơ sở đó, nêu lên một số vấn
giảm nghèo ở nước ta...
- Ở Thanh Hoá, đã có một số Nghị quyết, chỉ thị, Chiến lược về công
tác XĐGN trong tỉnh, như:
+ Tỉnh uỷ và Hội đồng nhân dân tỉnh có Nghị quyết thực hiện chương
trình XĐGN với mục tiêu: mỗi năm giảm hơn 2% tỷ lệ hộ nghèo trong giai
đoạn 2001-2005.
+ Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã có chỉ thị số 08-CT/TU về cuộc vận động
toàn dân hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nghèo chưa có nhà ở, đang ở nhà tạm bợ, dột
nát và ổn định đời sống; phân công các sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể theo
dõi, giúp đỡ các bản người Mông ổn định cuộc sống.
+ UBND tỉnh Thanh Hoá đã ban hành Chiến lược XĐGN ở Thanh Hoá
thời kỳ 2001-2010.
Đồng thời cũng đã có một số bài báo, bài viết trên các tạp chí của một
số tác giả trong tỉnh bàn về XĐGN ở Thanh Hoá...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và những bài viết trên đây đã đề
cập đến vấn đề nghèo đói và XĐGN ở các địa bàn khác nhau và dưới nhiều
góc độ khác nhau, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống
vấn đề XĐGN trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Thanh Hoá dưới góc
độ kinh tế - chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: vận dụng lý luận nghèo đói và XĐGN góp phần đánh giá
việc thực hiện XĐGN ở Thanh Hoá, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu
tiếp tục XĐGN trong thời gian từ nay đến năm 2010 ở Thanh Hoá.
4
- Nhiệm vụ:
+ Điểm lại quá trình nhận thức về đói nghèo và chính sách XĐGN của
Đảng, Nhà nước ta.
- Về thực tiễn: từ nghiên cứu lý luận và thực trạng về XĐGN, đề ra
những giải pháp chủ yếu vận dụng trong công tác XĐGN hiện nay ở tỉnh
Thanh Hoá. Việc thực hiện XĐGN ở Thanh Hoá không chỉ có ý nghĩa về mặt
kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần vào sự phát triển chung
của tỉnh và cả nước, mà còn là vấn đề mang ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân
văn, củng cố lòng tin của nhân dân đối với đường lối đổi mới của Đảng. Từ
đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh mà Văn kiện Đại hội X của Đảng ta đã nêu ra.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xoá đói giảm nghèo trong điều
kiện kinh tế thị trường;
Chương 2: Thực trạng xoá đói giảm nghèo trong thời gian qua ở tỉnh
Thanh Hoá;
Chương 3: Định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu tiếp tục XĐGN ở
tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
1.1. Cơ sở lý luận về xoá đói giảm nghèo trong điều kiện kinh tế thị
trƣờng
Trong lịch sử, đói nghèo đã tồn tại ở nhiều thời đại khác nhau và có
nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau về nguyên nhân đói nghèo.
Giai cấp bóc lột lý giải nguyên nhân của sự đói nghèo là do ngu dốt, lười
các hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, đầu cơ, buôn lậu, và cả các rủi ro do
thiên tai... Vì vậy, trong điều kiện còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu về TLSX
và kinh tế hàng hoá thì phân phối công bằng vẫn là công bằng trong giới hạn
chật hẹp của pháp quyền tư sản, và do đó tất yếu còn có sự chênh lệch về thu
nhập giữa những người giàu và người nghèo. Mặt khác ngay cả trong những
đơn vị kinh tế dựa trên chế độ công hữu về TLSX và thực hiện phân phối theo
lao động một cách đúng đắn thì vẫn còn hiện tượng người này giàu hơn người
kia, vì ở đây nguyên tắc ngự trị, theo Mác “cũng vẫn là cái nguyên tắc trong
việc trao đổi hàng hoá - vật ngang giá; một số lượng lao động dưới hình thức
này được đổi lấy cùng một số lượng lao động dưới một hình thức khác”.
“Như vậy, với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như
nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều
hơn người kia... Bởi vì, người này lập gia đình rồi, người kia chưa, người này
có nhiều con hơn người kia. Đấy là chưa kể trong điều kiện cách mạng khoa
học và công nghệ, trong điều kiện kinh tế tri thức, có khoảng cách xa giữa
những người công nhân tri thức và những người lao động giản đơn về trình độ
chuyên môn nên tất yếu có sự chênh lệch về cống hiến và thu nhập”[47]. Đặc
biệt, trong nền kinh tế thị trường, với sự chi phối của quy luật giá trị, quy luật
cạnh tranh... tất yếu sẽ dẫn đến một thực trạng là: một bộ phận người có trình
độ cao, có tay nghề, có vốn nhiều, có quan hệ xã hội rộng và biết làm ăn vươn
lên trở thành người giàu; ngược lại, một bộ phận người yếu về thể chất, không
có sức lao động, trí tuệ thấp kém, không có khả năng tổ chức sản xuất, không
có vốn liếng hay là lười lao động phải chấp nhận có thu nhập thấp. “Đặc biệt
với nền kinh tế thị trường đang được khởi động và phát triển (như ở Việt
Nam), thì phân tầng xã hội là một hệ quả tất yếu. Trong cuộc đấu tranh để tồn
tại và phát triển dưới tác động của cơ chế thị trường, nhất định diễn ra cuộc
sàng lọc tự nhiên. Những ai có bản lĩnh và tài năng sẽ nhanh chóng tranh thủ
8
đẳng và công bằng...
Để hình thành các giải pháp XĐGN, cần thiết phải có quan niệm đúng
và có những tiêu chí cụ thể về nghèo đói.
9
1.1.1. Quan niệm của thế giới về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo
trong điều kiện kinh tế thị trường
Đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều
khái niệm khác nhau về nghèo đói, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể.
Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu
để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo
dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn
ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển KTXH cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Ta có thể sử
dụng các khái niệm của các tổ chức sau để phân tích, nghiên cứu:
- Tổ chức Liên Hợp Quốc nêu khái niệm về nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả
năng thoả mãn các nhu cầu cơ bản, tối thiểu (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hoá, y
tế, giáo dục và giao tiếp) để duy trì cuộc sống.
+ Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng.
- Tại Hội nghị về chống đói nghèo do Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 09/1993 tại Băng Cốc
(Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng:
"Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và
những phong tục ấy được xã hội thừa nhận"[7; tr.11].
đói nghèo không chỉ là làm giàu mà phải xoá bỏ nguồn gốc dẫn đến phân hoá
- đó là sự phân phối bất bình đẳng.
Các quan niệm về đói nghèo nêu trên phản ánh 3 khía cạnh chủ yếu của
người nghèo:
- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành
cho con người;
- Có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng dân cư;
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng
đồng.
Nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu. Trong hoàn
cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh
hàng ngày về kinh tế – vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn. Họ không
thể vươn tới các nhu cầu về văn hoá, tinh thần hoặc những nhu cầu này phải
cắt giảm tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Biểu hiện rõ nhất ở các hộ
nghèo là hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, không có điều kiện để chữa bệnh
khi ốm đau. Nhìn chung ở hộ nghèo, người nghèo, thu nhập thực tế của họ chỉ
dành chi hầu như toàn bộ cho ăn thậm chí không đủ chi ăn, phần tích luỹ hầu
như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra gồm các mặt như: ở, văn hoá,
y tế, giáo dục, giao tiếp… chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi, không đáng kể.
Với mục tiêu hàng đầu là đấu tranh chống nạn nghèo khổ ở các nước
đang phát triển, WB cũng đã đưa ra chuẩn nghèo đói tính theo số Calo tối
thiểu cần thiết cho một người để sống là 2100 Kcalo/người/ngày, những hộ
gia đình không đảm bảo được mức này là những hộ nghèo khổ. Tiêu chuẩn
này được tính chung cho các nước trên thế giới, do đó nghèo khổ theo tiêu
chuẩn này chính là nghèo tuyệt đối. Theo mức đánh giá chung của thế giới, để
đảm bảo mức 2100 Kcalo/người/ngày thì cần ít nhất là 1 USD/người/ngày.
Theo tiêu chuẩn này thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đói nghèo, các khu vực
có người nghèo nhất thế giới hiện nay là châu Phi và châu Á.
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và
phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu phi lương thực thiết yếu khác, gọi là chuẩn
đói nghèo chung. Theo quan niệm của WB, ngoài chỉ tiêu tối thiểu về lương
thực, thực phẩm để đảm bảo đủ lượng 2.100 Kcalo/người/ngày (tương đương
70% chi tiêu) còn có những khoản chi tiêu tối thiểu phi lương thực, thực
13
phẩm (tương đương 30% chi tiêu). Do đó, chuẩn nghèo chung có mức cao
hơn chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm.
Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân cư tại nước ta năm 1993, năm
1998, và căn cứ vào sức mua của đồng tiền Việt Nam, WB đưa ra chuẩn
nghèo đối với từng loại ở Việt Nam như sau:
Đơn vị: đồng/người/tháng
Mức chuẩn nghèo
Năm 1993
Năm 1998
Chuẩn nghèo lương thực thực
phẩm
62.500
107.000
Chuẩn nghèo chung
96.600
giàu có nữa, giàu có mãi. Tư tưởng của Người chính là “làm cho người nghèo
thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm” [34; tr.287].
Người luôn nhấn mạnh phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm,
chống quan liêu, lãng phí, tham ô, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong sản
xuất và đời sống, thực hành dân chủ, nâng cao dân trí, coi đây là con đường
lâu dài và chắc chắn đối với công tác XĐGN và không ngừng nâng cao đời
sống của nhân dân. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xoá đói phải tiến tới
giảm nghèo, tăng giàu. Đây chính là quan điểm phát triển bền vững để tiến tới
một xã hội ngày càng giàu có, văn minh và hạnh phúc.
- Kế tục và phát triển những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong
suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn lấy độc lập, tư do, hạnh phúc
của nhân dân làm mục đích, lý tưởng của mình. Chính vì vậy mọi chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm làm cho toàn dân có
được cuộc sống ngày càng tốt hơn, hạnh phúc hơn.
Sau 30 năm kháng chiến gian khổ và những năm đầu sau chiến tranh,
kinh tế chưa phát triển, thiếu thốn mọi bề, các sản phẩm xã hội làm ra về cơ
bản được phân phối bình quân (mà thực chất là “chia đều sự nghèo khổ”), thì
ranh giới giàu - nghèo dường như đã bị xoá mờ trong ý thức của đại đa số
người dân, trừ những người có điều kiện so sánh với các hoàn cảnh khác. Vì
thế, khi bắt đầu chuyển sang thời kỳ đổi mới, trong hệ thống chính sách của
Nhà nước chưa thấy đề cập đến chính sách XĐGN.
Phải trải qua 5 năm hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường, sự
phân hoá giàu - nghèo mới dần bộc lộ rõ. Do đó, Đại hội VII của Đảng Cộng
Sản Việt Nam (tháng 6/1991) đã chủ trương: “Khuyến khích làm giàu đi đôi
với giảm số người nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với trình độ phát
triển kinh tế”. Tuy nhiên chủ trương đó mới chỉ là tư tưởng định hướng cho
15
16
một hệ thống các chính sách có nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp hướng tới
mục tiêu XĐGN.
Tại Đại hội IX, Đảng ta chỉ rõ: “ Thực hiện chương trình XĐGN thông
qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục
tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo“ [19; tr.106]. Trong Định
hướng phát triển các lĩnh vực xã hội đến năm 2005, nhấn mạnh: “Tiếp tục
thực hiện có hiệu quả chương trình XĐGN..., phải rất coi trọng việc tạo nguồn
lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát
triển ngành nghề, tăng thu nhập. Phấn đấu đến năm 2005 về cơ bản không còn
hộ đói và chỉ còn khoảng 10% số hộ thuộc diện nghèo... Nâng dần mức sống
của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo” [19; tr.299].
Đại hội X của Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Khuyến khích mọi người
dân làm giàu theo pháp luật, đồng thời thực hiện có hiệu quả các chính sách
XĐGN, thực hiện tốt hơn công bằng xã hội”, phấn đấu đến năm 2010, “tỷ lệ
hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10 -11%” [3].
Như vậy, tư tưởng nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về XĐGN
thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X :
- Cùng với quan điểm đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công
cuộc XĐGN, thực hiện CBXH, bình đẳng giới, giảm sự phân hoá giàu nghèo.
- Khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp, đi đôi với XĐGN bền
vững, chú trọng phát triển nông nghiệp nông thôn, vì 90% người nghèo sống
ở vùng nông thôn.
- XĐGN là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà
nước, XĐGN là một cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, là phong trào của quần
chúng, nhất là ở địa phương, cơ sở.
- Hình thành được hệ thống chính sách và chương trình mục tiêu quốc
Đối với nông thôn
Năm 1993:
70.000 đ/người/tháng
51.000 đồng/người/tháng
Năm 1994:
102.000 đ/người/tháng
76.000 đồng/người/tháng
Năm 1995:
125.000 đ/người/tháng
95.000 đồng/người/tháng
Năm 1996:
130.000 đ/người/tháng
100.000 đồng/người/tháng
Năm 1997-1998, TCTK không tiến hành điều tra đa mục tiêu như các
năm trước, mà phối hợp với WB tiến hành điều tra mức sống hộ gia đình Việt
số liệu về thu nhập của hộ gia đình tuỳ theo thời kỳ phát triển của đất nước.
Theo phương pháp trên và căn cứ vào mức sống thực tế của các địa
phương, Bộ LĐ-TB&XH đã 3 lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập
19
bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau: giai đoạn 19931995, giai đoạn 1996-2000, giai đoạn 2001-2005.
- Năm 1993, với yêu cầu cấp bách về chỉ đạo XĐGN, Bộ LĐ-TB&XH
đã đưa ra chuẩn đói nghèo ở nước ta là:
Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng quy đổi ra
gạo dưới 8 kg ở nông thôn, dưới 13 kg ở thành thị;
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng quy đổi
ra gạo dưới 13 kg ở nông thôn, dưới 20 kg ở thành thị.
- Đến năm 1997, Bộ LĐ-TB&XH đã đưa ra tiêu chí chi tiết hơn cho
từng mức độ đói nghèo và từng khu vực, cụ thể được quy định như sau:
Hộ đói là hộ có bình quân thu nhập đầu người trong 1 tháng quy ra gạo
dưới 13kg, tương đương với 40.000 đồng Việt Nam (đối với tất cả các vùng).
Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng được phân
biệt theo vùng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg gạo (tương đương với
50.000 đồng Việt Nam);
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg gạo (tương đương
với 70.000 đồng Việt Nam);
+ Vùng thành thị: dưới 25 kg gạo (tương đương với 90.000đ Việt
Nam).
- Từ năm 2001, thực hiện Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH
ngày 01/11/2000 của Bộ LĐ-TB&XH, hộ đói nghèo nước ta giai đoạn 20012005 được điều chỉnh theo mức chuẩn mới với mức thu nhập bình quân 1 đầu
người trong hộ cho từng vùng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo:
nghiệm trong thực tiễn để xác định chuẩn mực đói nghèo, những căn cứ chủ
yếu đó là: căn cứ vào nhu cầu năng lượng bình quân ngày/người (quy thóc) và
nhu cầu năng lượng tối thiểu 2100 Kcalo/ngày/người, năng lượng này được
tính bằng tiền trên cơ sở quy đổi ra lương thực để tính toán. Cách xác định đói
nghèo của Bộ LĐ-TB&XH dựa trên cơ sở kê khai thu nhập của các hộ gia
đình, rà soát đánh giá của Ban chỉ đạo XĐGN xã và Hội nghị thôn thảo luận
bình xét của các hộ gia đình, từ đó lập danh sách hộ đói nghèo.
Theo nhiều ý kiến của cán bộ làm công tác XĐGN, việc đưa ra chuẩn
đói nghèo của Bộ LĐ-TB&XH là phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tiện
lợi cho việc Nhà nước có một bức tranh tổng quát về đói nghèo, đặc biệt là ở
vùng nông thôn và miền núi để có thể đưa ra các giải pháp XĐGN trong cả
nước. Quan niệm này đúng đắn và hợp lý vì nó dựa trên tiền đề là sự tồn tại
của con người để tìm chuẩn mực. Song quan niệm đó chưa thể hiện tính đầy
đủ và lý giải được sâu sắc bản chất của sự phát triển con người, nó dừng lại ở
tiền đề tối thiểu của xã hội mà chưa đi vào chất lượng xã hội, chưa thấy được
21
khía cạnh nhân văn và văn hoá của sự phát triển con người và xã hội: phát
triển là cơ cấu của nhiều tầng bậc, nhiều cấp độ. Ngay trong nhu cầu tồn tại và
tiêu dùng vật chất nếu chỉ dùng lại ở mô tả về lượng mà không bao quát xu
hướng gia tăng chất lượng là không đầy đủ. Bởi vậy, trong khi tập trung mọi
nỗ lực chống đói nghèo về kinh tế, Nhà nước cần chú ý đến những nguy cơ và
tác hại của đói nghèo về văn hoá, nếu không sớm kiểm soát nó một cách chủ
động, xã hội không tránh khỏi những thua thiệt bởi phải trả giá đắt cho sự
thiếu hụt văn hoá. Vì vậy cùng với chuẩn mực đói nghèo về vật chất, cần thiết
phải đề ra chuẩn mực đói nghèo về văn hoá (như trình độ học vấn tối thiểu...)
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
* Quan niệm về hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn: theo quy định
- Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn, mức sống thấp.
- Hạ tầng cơ sở chưa phát triển, chưa đủ các công trình thiết yếu như:
điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, chợ...
Theo tiêu chí nêu trên, Việt Nam có khoảng 2361 xã đặc biệt khó khăn.
* Xã nghèo: được xác định trên cơ sở tỷ lệ đói nghèo trên địa bàn và
tình trạng cơ sở hạ tầng thiết yếu.
- Thời kỳ 1996-2000, Bộ LĐ-TB&XH đưa ra hướng dẫn xác định xã
nghèo như sau:
+ Tỷ lệ hộ đói nghèo của xã chiếm từ 40% trở lên;
+ Thiếu 1 trong số các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao
thông, điện thắp sáng, trường học, trạm y tế, nước sạch sinh hoạt, chợ).
- Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/05/2002 của Bộ
LĐ-TB&XH về việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005, thời kỳ
2001-2005, xã nghèo là xã đáp ứng 2 tiêu chí sau:
+ Tỷ lệ hộ đói nghèo của xã chiếm từ 25% trở lên;
+ Chưa đủ 3 trên tổng số 6 công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu (điện,
đường giao thông, nước sạch, phong học, trạm xá và chợ) biểu hiện cụ thể:
Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt
Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch
Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã hoặc có nhưng không đi lại
được cả năm
Chưa có đủ phòng học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
23
Chưa có trạm xá hoặc có nhưng còn tạm bợ
Chưa có chợ hoặc mới có chợ tạm
Theo tiêu chí xã nghèo nêu trên (mức độ khó khăn thấp hơn xã đặc biệt
khó khăn) thì nước ta có khoảng 921 xã thuộc diện nghèo.