Biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay nghiên cứu trường hợp làng đông thành xã đa lộc huyện hậu lộc - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

LÊ THỊ THƢƠNG

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA CƢ DÂN VEN BIỂN THANH HÓA TRONG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY: NGHIÊN CỨU TẠI
LÀNG ĐÔNG THÀNH - XÃ ĐA LỘC - HUYỆN HẬU LỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nhân học

Hà Nội-2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

LÊ THỊ THƢƠNG

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA CƢ DÂN VEN BIỂN THANH HÓA TRONG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY: NGHIÊN CỨU TẠI
LÀNG ĐÔNG THÀNH – XÃ ĐA LỘC – HUYỆN HẬU LỘC

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhân học
Mã số: 60310302


- Tôi xin cảm ơn gia đình chú Vũ Quốc Sử - trƣởng thôn Đông Thành, chị Nguyễn
Thị Hiền – cán bộ khuyến nông xã Đa Lộc và gia đình em Vũ Thị Thu đã trực tiếp cƣu
mang, tạo điều kiện chỗ ăn, ở và giúp đỡ tận tình tôi trong thời gian nghiên cứu tại thực
địa.
- Cảm ơn gia đình, các quý thầy cô, bạn bè đã khích lệ, động viên, tạo mọi điều kiện
tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, tháng 09 năm 2017
Tác giả luận văn

Lê Thị Thƣơng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................................6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ....................................................................7
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn .....................................................................7
4. Phƣơng pháp nghiên cứu...............................................................................................................9
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .......................................................................................................12
6. Kết cấu của luận văn ....................................................................................................................12
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VÀ KHÁI
QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ............................................................................................14
1.2. Cơ sở lý thuyết ...........................................................................................................................20
1.3. Khái quát về huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa ..................................................................27
Tiểu kết chƣơng 1 ..............................................................................................................................34
CHƢƠNG 2
SINH KẾ TRONG TRUYỀN THỐNG


2


MỤC LỤC BẢNG
Bảng 2.1

Một số giống lúa gieo trồng phổ biến trong truyền thống

40

Bảng 2.2

Sản lƣợng cây lƣơng thực và bình quân lƣơng thực đầu ngƣời

41

Bảng 2.3

Các hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên

69

Bảng 3.1

Trình độ học vấn chuyên môn

79

Bảng 3.2


Một số loại hình dịch vụ hiện tại

114

Bảng 4.1

Mức thu nhập trung bình năm của các hộ gia đình theo nguồn thu 130

Bảng 4.2

Hiện trạng và quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa xã

141

Bảng 4.3

Giải quyết đơn thƣ khiếu nại

146

Bảng 4.4

Tỷ lệ hộ chia theo cách xử lý rác thải khu vực nông thôn - thành thị
và ngành sản xuất kinh doanh của hộ

3

148


Bộ PHÁT TRIểN QUốC Tế ANH
DEPARTMENT FOR INTERNATIONAL DEVELOPMENT

HTX

HợP TÁC XÃ

HDND

HộI ĐồNG NHÂN DÂN

NTM

NÔNG THÔN MớI

NTTS

NUÔI TRồNG THủY SảN

THCS

TRUNG HọC CƠ Sở

THPT

TRUNG HọC PHổ THÔNG

UBND

ỦY BAN NHÂN DÂN

động sinh kế và quá trình chuyển đổi sinh kế là cách giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn
về đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của một cộng đồng tộc ngƣời dƣới tác động của môi
trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội và văn hóa.
Hậu Lộc là một huyện ven biển của tỉnh Thanh Hóa. Là huyện có điều kiện tự nhiên
đa dạng và phong phúvới 3 vùng: vùng đồi, vùng đồng bằng châu thổ và vùng ven
biển,cùng hệ thống giao thông khá phát triển do có có nhiều tuyến đƣờng huyết mạch và
cách thành phố Thanh Hóa chƣa đến 25km, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Hậu Lộc
phát triển đa dạng ở nhiều lĩnh vực. Hiện nay trên địa bàn huyện đã xuất hiện nhiều nhà
máy, xí nghiệp, công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc liên doanh thu hút lực lƣợng lớn

6


lao động từ các địa phƣơng. Quá trình công nghiệp hóađã lan nhanh từ khu vực đô thị
trung tâm ra các vùnglận cận và tiếp tục ảnh hƣởng đến các khu vực còn lại. Mặc dù, khu
vực giáp biển nằm cách khu vực đô thị khá xa nhƣng không vì thế mà mức ảnh hƣởng bị
giảm đi. Bởi lẽ đó, cùng với các huyện ven biển khác của tỉnh Thanh Hóa, những năm gần
đây quá trình công nghiệp hóa ở khu vực nông thôn ven biển Hậu Lộc diễn ra rất mạnh
mẽ. Biến đổi rõ ràng nhất có thể nhận thấy là sự chuyển dịch nhanh chóng của các hoạt
động kinh tế. Tuy nhiên, công nghiệp hóa cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải
quyết, đó là vấn đề thiếu việc làm, mất đất sản xuất,ô nhiễm môi trƣờng biển, suy giảm
nguồn lợi tự nhiên,gia tăng mâu thuẫn xã hội,... Vì vậy, việc nghiên cứu sự biến đổi sinh
kế của ngƣời dân tại vùng biển Hậu Lộc sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về sinh kế của ngƣời dân vùng ven biển dƣới tác động của công nghiệp hóa.
Với các lý do trên, tôi đã chọn Biến đổi sinh kế của cư dân ven biển Thanh Hóa
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay:
Nghiên cứu tại làng Đông Thành - xã Đa Lộc - huyện Hậu Lộclàm đề tài nghiên cứu của
luận văn này.
2. MụC ĐÍCH VÀ NHIệM Vụ NGHIÊN CứUCủA LUậN VĂN
2.1. Mục đích nghiên cứu

sinh nhai chính, 20% làm ngƣ nghiệp và 10% làm các nghề khác. Nhƣng đặc điểm chung
của sinh kế là đều chịu ảnh hƣởng bởi yếu tố hải văn và địa lý ven biển. Vì vậy, trong quá
trình nghiên cứu, dù địa điểm chính là làng Đông Thành - xã Đa Lộc nhƣng để có cái nhìn
so sánh và bao quát hơn tác giả cũng liên hệ thêm ở một số khu vực khác ngoài địa bàn
này.
Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 1991 đến nay bởi lý do, mặc dù mốc
đánh dấu đổi mới ở Việt Nam thƣờng đƣợc nhắc đến là từ năm 1986, tuy nhiên, tác giả
nhận thấy mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là tập trung sự biển đổi của nông
nghiệp, nông thôn và nông dân.Trong khi thời kỳ đầu của đổi mới, cụ thể tại đại hội VI
(1986) các chủ trƣơng về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn mới chỉ manh nha, phải
đến đại hội VII (1991) và VIII (1996) bắt đầu thể hiện quan điểm coi trọng nông nghiệp
bằng việc xách định rõ vai trò hàng đầu của nông nghiệp, ƣu tiên phát triển nông nghiệp
trong hệ thống kinh tế chung của đất nƣớc. Đặc biệt, với đại hội X (2006) thì chƣơng trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chính thức ra đời và đƣợc cụ thể
hóa bằng nhiều chủ trƣơng, chính sách. Do vậy, để phù hợp với trọng tâm của đề tài tôi
chọn phạm vị thời gian nghiên cứu chính là từ năm 1991 tức là thời điểm bắt đầu tiến hành
đẩy mạnhcông nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Tuy vậy, nghiên cứu vẫn có những

8


liên hệ với với các mốc thời gian trƣớc đó để có những so sánh lịch đại nhằm thể hiện một
cách tốt nhất quá trình của sự biến đổi
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CứU
Thực hiện nghiên cứu này tôi đã kết hợpcả nghiên cứuđịnh tính, định lƣợng và
nghiên cứu lịch sử (lịch đại và đồng đại), cụ thể gồm các phƣơng pháp sau:
Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phƣơng pháp nghiên cứu chủ đạo của luận
văn.Trong đó, công cụ đƣợc sử dụng chính và nhiều nhất là phỏng vấn sâu. Ngoài ra, còn
có các công cụ nghiên cứu khác cũng đƣợc áp dụng là: quan sát và quan sát tham gia, thảo
luận nhóm, ghi chép, quay video, chụp ảnh. Tôi đã có 3 đợt điền dã tại huyện Hậu Lộc:

để trao đổi. Vào ban ngày, tôi dành toàn bộ thời gian của mình để gặp gỡ và các phỏng
vấn ngẫu nhiên. Tôi thƣờng đi “la cà” vừa quan sát vừa tìm các thông tín viên của mình,
các thông tín viên ngẫu nhiên rất đa dạng về lứa tuổi, nghề nghiệp và tùy vào từng đối
tƣợng mà các cuộc phỏng vấn sẽ có những chủ đề phù hợp. Thông tín viên lớn tuổi nhất
mà tôi phỏng vấn là 82 tuổi, nhỏ nhất là 15 tuổi. Với những ngƣời trên 60 tuổi, tôi thƣờng
hỏi về các sinh kế truyền thống, dùng phƣơng pháp “hồi cố” để hỏi về hoàn cảnh xã hội
của địa phƣơng, không gian làng xã trong quá khứ và những thay đổi hiện tại mà thông tín
viên có thể nắm đƣợc, nếu họ vẫn tham gia sinh kế thì hỏi về chính hoạt động sinh kế
trong quá khứ và hiện tại của họ,... Với những ngƣời trong độ tuổi trung niên (45-59), tôi
hỏi họ về cuộc sống và sinh kế hiện tại của gia đình, so sánh với khoảng thời gian 20-25
năm về trƣớc và những thời kỳ biến đổi về sinh kế mà họ trải qua, những mốc biến đổi mà
họ thấy sâu sắc, quan trọng cùng những định hƣớng sinh kế, hay nguyện vọng của gia đình
trong tƣơng lai,... Với những thông tín viên trong độ tuổi thanh thiếu niên tôi hỏi họ về
công việc hiện tại, đặc điểm nghề nghiệp, thu nhập cá nhân, mức sống hiện tại, đóng góp
đối với sinh kế của gia đình, mong muốn của các thông tín viên về công việchiện tại hoặc
trong tƣơng lai. Một số thông tin viên là những em nhỏ, những cuộc nói chuyện với các
em giúp tôi có thêm một số thông tin ở những“góc nhìn của trẻ em”, bởi vì ở vùng nông
thôn trẻ em tham gia lao động rất sớm, các em trở thành những lao động không thƣờng
xuyên và dù không trực tiếp tạo ra thu nhập nhƣng đôi khi lại là những lao động không thể
thiếu trong gia đình.Tuy vậy, các cuộc phỏng vấn ngẫu nhiên này thƣờng bị hạn chế vì
thời gian vì cuộc trao dổi thƣờng diễn ra “tranh thủ” khi ngƣời dân nghỉ giải lao hoặc vừa
cùng làm việc vừa nói chuyện,.... Mặc dù vậy, những thông tin thu đƣợc từ việc đi “la cà”
và phỏng vấn ngẫu nhiên rất phong phú, thú vị, gắn liền với hoàn cảnh của chính các
thông tín viên.Trong suốt quá trình nghiên cứu tôi tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn định
tính trong đó có 25 cuộc phỏng vấn với thông tín viên chủ chốt và nhiều thông tín viên
ngẫu nhiên khác, ở những lứa tuổi và nghề nghiệp khác nhau.

10




11


5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa lý luận
Trƣớc hết luận văn đã làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ và các chiều cạnh phân
tích về sinh kế, nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đồng thời luận văn cũng đã xác định
đƣợc các lý thuyết cơ bản trong áp dụng phân tích đó là lý thuyết khung sinh kế bền vững
và thuyết sinh thái văn hóa.Từ nghiên cứu thực tế cùng với việc áp dụng các lý thuyết phù
hợp, luận văn góp phần cung cấp một cái nhìn mới trong xem xét, phân tích và đánh giá
vấn đề sinh kế và biến đổi sinh kế hiện nay. Đặc biệt là những biến đổi sinh kế của ngƣời
nông dân ở các vùng ven biển, vùng cách xa các trung tâm của đô thị hóa nhƣng lại là
vùng gánh chịu nhiều ảnh hƣởng và dễ bị tổn thƣơng bởi những hệ quả của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho nghiên cứu về sinh kế ở vùng nông thôn ven
biển. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà
hoạch định và thực thi chính sách ở các cấp trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm
nghèo, cải thiện đời sống của ngƣời nông dân, đặc biệt ở vùng đƣợc nghiên cứu; Luận văn
cũng có thể là nguồn tƣ liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ, nhân dân địa phƣơng các xã
ven biển huyện Hậu Lộc và những ngƣời quan tâm đến vấn đề sinh kế nông thôn trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng
có thể đƣợc sử dụng để phục vụ công tác giảng dạy về vấn đề sinh kế của ngƣời nông dân
ở vùng đồng bằng nói chung và ven biển nói riêng dƣới góc nhìn Nhân học.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu
thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, tiếp cận lý thuyết và khái quát địa bàn
nghiên cứu

thôn đã dựa trên cơ sở lý thuyết Khinh-Trọng để đi sâu phân tích động lực và sự lựa chọn
các mô hình sinh kế của nông dân. Quan điểm này nhấn mạnh sự lựa chọn mô hình sinh
kế của chủ thể và các yếu tố tác động đến sự lựa chọn đó33. Cũng gắn với lý thuyết còn
có bài viết “Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm
nghèo”của Nguyễn Văn Sửu74 đã phân tích và đánh giá khá sâu sắc về khung sinh kế
bền vững mà DFID đã đƣa ra. Từ việc phân tích vai trò của từng loại nguồn vốn đối với
sinh kế của ngƣời nông dân tác giả đã khẳng định tínhứng dụng của của lý thuyết sinh kế
bền vững trong xóa đói giảm nghèo ở nông thôn và phát triển bền vững ở Việt Nam.
Nhiều tác giả khác lại quan tâm đến sinh kế với ý nghĩa là đặc trƣng cơ bản của kinh
tế - xã hội tộc người, do đó ta có các nghiên cứu về sinh kế của các tộc ngƣời thiểu số và
đa số ở Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu ở khía cạnh này đều đi sâu tìm hiểu các hoạt
động sinh kế gắn với một tộc ngƣời và một địa bàn cụ thể, từ đó khái quát và giới thiệu

14


các đặc trƣng sinh kế cả trong truyền thống và hiện tại của tộc ngƣời. Có thể kể đến nhƣ
Trần Thị Mai An (2006) nghiên cứu về Sinh kế ngƣời Cơ tu ở Thừa Thiên – Huế;Nguyễn
Xuân Hồng (2007) nghiên cứu sinh kế của ngƣời Tà-ôi (Pacoh) ở huyện A Lƣới, tỉnh
Thừa Thiên–Huế;Phạm Thị Thu Hà (2011, 2012) nghiên cứu Sinh kế của ngƣời Tày ở
Lạng Sơn;Nguyễn Thị Thanh Thủy (2011) về Sinh kế ngƣời Hmông; Ngô Phƣơng Lan
(2012) có sinh kế ngƣời Khmer; Trần Hồng Hạnh (2011) với nghiên cứu sinh kế ngƣời Pà
thẻn ở huyện Quảng Bình, …
Ngoài ra, sinh kế còn đƣợc nghiên cứu trong mối liên hệ với văn hóa tộc người. Tác
giả Hoàng Cầm và Phạm Quỳnh Phƣơng với Diễn ngôn – chính sách và sự biến đổi văn
hóa – tộc người (2012), nghiên cứu đã chỉ ra một trong những bất cập trong việc thực
hành chính sách đối với dân tộc thiểu số đó là chƣa thể hiện quan điểm tôn trọng sự đa
dạng văn hóa đã đƣợc đề ra trong Hiến pháp Việt Nam. Và qua việc sử dụng Khung tiếp
cận đánh giá văn hóa (Cultural Impact Assessment) các tác giảđã phân tích và đánh giá
nhữngtác động của chính sách đốivới các khía cạnh khác nhau của văn hóa bao gồm cả hệ

(2012) đã phân tích những tác động tới sinh kế của ngƣời dân không liên quan trực tiếp tới
sản xuất nông nghiệp nhƣ điều kiện nhà ở, cơ hội tiếp cận nguồn nƣớc an toàn vệ sinh,
tiếp cận nguồn nhiên liệu,… trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giới trong
các tác động tới hoạt động sinh kế ở khu vực nông thôn, những vai trò khác nhau giữa các
giới trong việc tiếp cận, sử dụng các nguồn lực sinh kế của các hộ nông dân. Ngoài ra, còn
có một số nghiên cứu khác nhƣ của Lê Trần Quyên (2008) -Người phụ nữ nông thôn ở
thành phố; Võ Cẩm Ly (2016) Từ nghiên cứu về sinh kế và những vấn đề đặt ra đối với
nghiên cứu sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân ở Việt Nam,… Hầu hết, các nghiên cứu
chủ đề này đều đi sâu mô tả, phân tích vai trò của sinh kế đối với cuộc sống của các nhóm
phụ nữ khác nhau, trong đó dành nhiều quan tâm đến sinh kế của những nhóm phụ nữ có
hoàn cảnh đặc biệt nhƣ mẹ đơn thân, góa phụ, phụ nữ nghèo nông thôn,… Bởi vìhọ vốn
đƣợc xem là một trong những đối tƣợng yếu thế, dễ bị tổn thƣơng bởi các yếu tố biến đổi.
Sinh kế - đói nghèo và di cư: Nguyễn Thị Phƣơng Lan nghiên cứu“Bất ổn sinh kế
và di cư lao động của người Khơ-me ở đồng bằng sông Cửu Long” (2013), tác giả khái
quát các chính sách kinh tế và hệ thống sinh kế của ngƣời Khơ-me vùng đồng bằng sông
Cửu Long đồng thời tìm hiểu tình hình di cƣ lao động nông thôn-đô thị hiện nay của cộng
đồng này. Ngoài ra còn có Đoàn Việt – Đi làm ăn xa của người Chăm ở miền Trung và
miền Tây Nam Bộ (2010), , Lê Bạch Dƣơng và Nguyễn Thanh Liêm – Từ nông thôn ra
thành phố-Tác động kinh tế-xã hội của di cư ở Việt Nam (2011), Trần Tiến Khai và
Nguyễn Ngọc Danh – Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam
(2012), , Đào Thanh Thái – Biến đổi sinh kế của người Dao di cư tự do tại huyện M’Gar,
tỉnh Đăk Lăk (2016), … Các nghiên cứu này đã gắn sinh kế với các vấn đề đói nghèo và di

16


cƣ, theo đó các nghiên cứu đều chỉ ra mối liên hệ giữa nghèo đói – sinh kế và di cƣ, bất ổn
trong sinh kế khiến cho tình trạng nghèo đói kéo dài và di cƣ đƣợc xem nhƣ là một trong
những giải pháp để cải thiện sinh kế.
Gần đây, các nghiên cứu sinh kế tập trung nhiều vào sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Các nghiên cứu gần với chủ đề của luận văn thƣờng đề cấp đến vấn đề sinh kế ven
biển, trong đó chủ yếu gắn sinh kế với những tổn thƣơng và rủi ro do biến đổi khí hậu gây
ra. Có thể đến một số nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Xuân Mai và Nguyễn Duy Thắng (2011)
đã nghiên cứu về “Thực trạng sinh kế của các cộng đồng ngư dân ven biển miền trung
Việt Nam”, trong đó các tác giả nhấn mạnh đến những rủi ro của hoạt động nuôi trồng và
đánh bắt thủy sản, đồng thời đƣa ra những định hƣớng giải pháp về sinh kế bền vững cho
cộng đồng này. Trần Thọ Đạt và Nguyễn Thị Hoài Thu với nghiên cứu Biến đổi khí hậu
và sinh kế ven biển (2012) đã tổng quan các nội dung về biến đổi khí hậu, tác động của
biến đổi khí hậu lên vùng ven biển, khả năng bị tổn thƣơng của sinh kế ven biển trƣớc tác
động của biến đổi khí hậu, năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trƣớc tác động của
biến đổi khí hậu, và hỗ trợ sinh kế để thích ứng với biến đổi khí hậu23. Ngoài ra còn có
một số nghiên cứu khác nhƣ Võ Hồng Tú và các cộng sự - Tính tổn thương sinh kế nông
hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó (2012), Lƣơng Ngọc Thúy
và Phan Đức Nam –Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và
di cư của người nông dân (2015), Nguyễn Ngọc Quý – Nghiên cứu cải thiện sinh kế của
cộng đồng ngư dân ven biển ở Diễn Châu, Nghệ An trong bối cảnh biến đổi khí hậu
(2015),…, cùng địa bàn nghiên cứu gần đây nhất có tác giả Phan Nhƣ Đại – Biện pháp
hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế ứng phó với biến đổi khí hậu (Nghiên cứu tại xã Đa
Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (2014), đây là luận văn thạc sĩ ngành công tác xã
hội nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp giúp ngƣời dân chuyển đổi sinh kế để
thích ứng với biến đổi khí hậu. Có thể thấy, các nghiên cứu về biến đổi sinh kế vùng ven
biển đã tập trung khảo sát và đánh giá mức độ tổn thƣơng do biến đổi khí hậu đối với các
hoạt động sinh kế của ngƣời dân ở những vùng chịu nhiều ảnh hƣởng do biến đổi khí hậu
gây ra nhƣ các vùng ven biển, hải đảo,… đồng thời các nghiên cứu cũng đã cố gắng phân
tích để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm giúp các cộng đồng dễ bị tổn thƣơng thích
ứng và chống chịu với rủi ro, một trong những biện pháp đó là biến đổi sinh kế để thích
ứng với biến đổi khí hậu.Các tài liệu liên quan đến vấn đề sinh kế vùng ven biển khá
nhiều, tuy nhiên chỉ chủ yếu tập trung vào chuyển đổi sinh kế để ứng phó với biến đổi khí
hậu, đối tƣợng nghiên cứu cũng là các cộng đồng ngƣ dân là chính mà chƣa có nghiên cứu
nào một cách cụ thể và hệ thống về sinh kế của các cộng đồng cƣ dân ven biển không phải

văn hóa ở làng cổ ven biển xứ Thanh, bài viết đã giới thiệu khái quát về lịch sử hình
thành, các đặc điểm văn hóa – xã hội, kinh tế của 7 làng “ngƣ nghiệp cổ truyền” ven
biển Thanh Hóa (Nga Bạch, Hoàng Trƣờng, Quảng Tiến, Ngƣ Lộc, Quảng Nham, Biện
Sơn và Hải Thanh). Loạt bài nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Phổ - Những làng cổ
tiêu biểu xứ Thanh (2010) trong đó có phần viết riêng về Địa danh một số làng biển
Thanh Hóa nhƣ làng Diêm Phố – Hậu Lộc, làng Triều Dƣơng – Sầm Sơn, làng Bạch

19


Câu – Nga Sơn,… giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành, ý nghĩa tên gọi và một số
đặc điểm địa lý, nhân văn của các làng này.
Từ lịch sử nghiên cứu trên có thể thấy, sinh kế và biến đổi sinh kế là đề tài khá rộng
với nhiều vấn đề phức tạp và đa dạng, cũng là một trong những chủ đề đang đƣợc quan
tâm nhiều hiện nay bởi tính cấp thiết của nó. Riêng về vấn đề sinh kế ven biển, hầu hết
đều đƣợc các nghiên cứu tập trung vào quá trình biến đổi sinh kế để ứng phó với biến đổi
khí hậu của các cộng đồng ngƣ dân ven biển có sinh kế chủ đạo là khai thác, đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản, nhƣng không phải cộng đồng sống ven biển nào cũng đều chỉ có
nguồn sinh kế từ đánh bắt và nuôi trồng, mà còn có những cộng đồng tuy sống ven biển
nhƣng sinh kế chủ đạo lại từ những lĩnh vực khác, có thể là những làng thuần nông, bán
nông bán ngƣ hoặc bán nông bán thƣơng. Và nghiên cứu này sẽ nghiên cứu một trong số
những cộng đồng đó – địa bàn là một xã có đƣờng bờ biển dài nhất của một huyện ven
biển nhƣng lại chỉ có 10% dân số làm các nghề gắn với biển còn lại sinh kế đều là những
hoạt động khác, vậy thì trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những hệ quả của
nó đã khiến các hoạt động sinh kế của cộng đồng này biến đổi nhƣ thế nào chính là mục
tiêu nghiên cứu chính của tác giả.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
- Biến đổi và biến đổi xã hội:
Cũng giống nhƣ tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội

xét sự biến đổi, luận văn sẽ chỉ tập trung vào những biến đổi sinh kế của ngƣời dân địa
phƣơng, mà trọng tâm là sự biến đổi của các nguồn lực nhằm đảm bảo sinh kế.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, là chủ trƣơng đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc. Từ một nƣớc nông nghiệp
với 80% dân cƣ sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm trên 70% lao động xã hội,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trƣơng tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo đói, lạc
hậu. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn theo định hƣớng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông
nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và
lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lƣu trong nƣớc và quốc tế nhằm nâng
cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới
giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa. Thực chất của công nghiệp

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status