hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã xuân thành - huyện nghi xuân - tỉnh hà tĩnh - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI

LUËN V¡N TèT NGHIÖP §¹I HäC
đề tài:
“Hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã Xuân
Thành - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh”
o viªn hín
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dung
Chuyên ngành: KT & PTNT
Lớp: KT49B
Niên khoá: 2004 - 2008
Giáo viên hướng dẫn: Th S. Nguyễn Trọng Đắc
Hµ Néi -2008
Lời cam đoan
1
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trung
thực và kết quả nghiên cứu chưa từng được sử dụng.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho quá trình thực hiện báo cáo đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo này được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
L ê th ị Dung
Lời cảm ơn
2
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế và phát
triển nông thôn – trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã hết lòng giúp đỡ và

3.2.4 Kinh tế 37
3.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38
3.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 39
5.1.1.3 Nguồn lực vật chất, TLSX 56
5.4.1.2 Giải pháp với các hoạt động sinh kế 97
5.4.2.4 Giải pháp xã hội hoá hoạt động DL và sự tham gia của cộng đồng trong
tổ chức và quản lý hoạt động DL biển bền vững 100
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 5.1: Nguồn lực đất đai Xuân Thành qua 3 n ăm 2005 – 2007
Bảng 5.2: Tình hình đất đai ở nhóm hộ điều tra (40 hộ)
Bảng 5.3: Nguồn lực lao động xã Xuân Thành năm 2007
Bảng 5.4: Tình hình dân số và lao động ở nhóm hộ điều tra (40 hộ)
Bảng 5.5: Nguồn lực vật chất xã Xuân Thành (2007)
Bảng 5.6: Cơ sở lưu trú tại xã Xuân Thành qua 3 năm 2005 - 2007
4
Bảng 5.7: Tình hình một số tài sản và tư liệu sản xuất ở nhóm hộ điều tra ( 40 hộ)
Bảng 5.8: Tình hình tài chính của xã Xuân Thành năm 2007
Bảng 5.9: Tình hình tài chính ở nhóm hộ điều tra
Bảng 5.10: Kết quả sản xuât kinh doanh xã Xuân Thành qua 3 năm
Bảng 5.11: Cơ cấu khách du lịch và thời gian lưu trú của du khách của Xuân
Thành trong thời gian qua
Bảng 5.12: Doanh thu và cơ cấu doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ du lich
thời gian qua
Bảng 5.13: So sánh giữa có và không có hoạt động DL trong kinh tế hộ
Bảng 5.14: Tác động về văn hoá xã hội của hoạt động DL tại địa phương
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Sơ đồ 1: Khung sinh kế bền vững
Biểu đồ 1: Doanh thu và cơ cấu doanh thu hoạt động king doanh dịch
vụ du lich thời gian qua
PHẦN I

đất nước, phát triển DL thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn.
Xuân Thành là một xã ven biển thuộc huyện Nghi Xuân cuả tỉnh Hà Tĩnh,
nơi có hoạt động DL ra đời từ sớm và tương đối phát triển trong tỉnh. Những
năm vừa qua hoạt động DL biển đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn nơi đây và có
tác động rất lớn đến cuộc sống người dân địa phương. Sự phát triển của nó góp
6
phần to lớn vào việc giải quyết công ăn việc làm tại địa phương. Tận dụng và
phát huy được các nguồn lực của địa phương, huy động nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân đưa vào đầu tư tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Bên cạnh những mặt
được, hoạt động DL hiện tại ở địa phương vẫn còn có một số tồn tại như: sự
phân hoá giàu nghèo, các vấn đề xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường… gây ảnh
hưởng không nhỏ đến cuộc sống cộng đồng dân cư nơi đây.
Đây là những thách thức đang đặt ra không chỉ với người dân mà cả với
chính quyền địa phương. Vì thế việc tìm ra giải pháp để hoạt động DL phát triển
ổn định lâu dài và trở thành hoạt động sinh kế bền vững cho người dân nơi đây
trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ thực tế khách quan của địa phương chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã Xuân
Thành - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung
Đề tài nhằm tìm hiểu hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã
Xuân Thành, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy và phát triển du
lịch biển ở xã Xuân Thành trong thời gian tới theo hướng bền vững.
b. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa CSLL về sinh kế, về hoạt động du lịch biển và các tác
động của hoạt động du lịch biển.
7
- Tìm hiểu hoạt động du lịch biển và sinh kế của người dân xã Xuân Thành
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát

(Chamber, 1993). [3]
- Các sinh kế là các phương tiện, các hạt động và các quyền dựa vào đó
con người tạo ra cuộc sống (N.Singh, 1996). [3]
Sinh kế thường được bao gồm sinh kế thay thế, sinh kế bổ sung và sinh kế
bền vững. Trong nhiều cách dùng thuật ngữ, sinh kế chủ yếu nhằm vào lĩnh vực
kinh tế, tuy nhiên nó có thể được xem xét vượt quá các hoạt động kinh tế và bao
gồm chất lượng các tiêu chuẩn của cuộc sống, các chuẩn thức ăn, nơi cư trú, sức
khoẻ và sự toại nguyện.
* Nội dung sinh kế bền vững:
- Sinh kế bền vững là sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, tính toàn vẹn về
sinh thái và phúc lợi loài người, cũng bao gồm cả mối quan tâm về tính công
bằng. Các sinh kế bền vững được phát triển từ khả năng của con người để tiếp
cân với những lựa chọn và tài nguyên và sử dụng chúng để tạo ra cuộc sống theo
cách không làm tổn hại đến quyền sống của những người khác dù ngay bây giờ
hoặc mai sau (N.Singh, 1996).[3]
- Một sinh kế bền vững là có phần dự trữ để dùng khi gặp những bất trắc
như ốm đau, tai nạn, mất mát, những nhu cầu xã hội bất ngờ hoặc thiết yếu, v.v
(Chambers, 1993).[3]
Như vậy một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực
và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động
9
mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước
nguyện của họ. Một sinh kế bền vững khi con người có thể đối phó và phục hồi
từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nậng cao khả năng và
tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
2.1.2 Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA)
Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững được đề cập đầu tiên vào năm
1992 bởi Robert Chambers. Nó nhanh chóng được chấp nhận bởi Oxfam (1993),
và gần đây là CARE, UNDP (1995) và DFID (1997), đa số những quan tâm gần

Cung cấp những ngữ cảnh cho việc thảo luận và thuyết trình về XĐGN.
Giúp DFID và những thành viên của nó giải đáp những quan điểm của
người nghèo.
Giúp đỡ việc xây dựng những ưu tiên cho hoạt động giúp đỡ tìm ra phương pháp
đo lường sự thành công cho các công trình và dự án XĐGN
2.2.2 Khung sinh kế bền vững của DFID
11
Phân tích có sự tham gia
Phạm vi dễ bị
tổn thương
Theo mùa
biến động các
xu hướng
Cơ cấu
tổ chức
H
F
N
P
S
Tác động
và tiếp cận
Tài sản sinh kế
Các quy
trình
Luật pháp
Văn hoá
Chính
sách
Các cấp

Các kết quả bền vững
Phát triển thể chế
H: đại diện cho vốn con người: các ký năng kỹ xảo, kiến thức, năng lực lao động và sức
khoẻ co vai trò quan trọng, giúp tiến hành được các chiến lược sinh kế khác nhau.
P: Đại diện cho vốn vật chất: hạ tầng cơ bản (đường sá, nhà cửa, nước, năng lượng
và thông tin) và các phương tiện, trang thiết bị phục vụ sản xuất giúp sinh sống.
S: Đại diện cho vốn xã hội: nguồn lực xã hội (các mạng lưới, thành viên của các
nhóm, mối quan hệ tin cậy, khả năng tiếp cận với các tổ chức thể chế rộng lớn của xã
hội) để trên cơ sơ đó con người có thể tiến hành sinh kế của mình.
F: Đại diện cho vốn tài chính: các nguồn lực tài chính sẵn có cho con người (có
thể là tiết kiệm, các cung cấp về tín dụng hoặc các khoản chuyển tiền đều dặn hoặc tiền
trợ cấp) và những thứ đem đên những lựa chon sinh kế khác nhau.
N: Đại diện cho vốn tự nhiên: tài nguyên thiên nhiên tích trữ có ích để tạo ra các sinh kế
(ví dụ tài nguyên đất, nước, động vật hoang dã, đa dạng sinh học, môi trường
* Các thành phần cơ bản của khung sinh kế bền vững
- Phạm vi dễ bị tổn thương:
Định nghĩa: Phạm vi dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của
con người. Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi
những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ. Chính điều
này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được.
Một đặc điểm quan trọng trong phạm vi bị tổn thương là con người không thể
dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc lâu dài. phạm vi bị tổn thương hoặc
sự bấp bênh của sinh kế tạo ra từ những yếu tố này là một thực tế thường trực cho rất
nhiều hộ nghèo. Điều này chủ yếu là do họ không có những khả năng tiếp cận với
những nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình khỏi những tác động xấu.
- Những tài sản sinh kế (nguồn vốn sinh kế - nguồn lực sinh kế)
Giới thiệu các loại tài sản:
Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người. Nó
cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người
(tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh

có liên quan đến môi trường, quyết định, chính sách và các dịch vụ do Nhà nước thực
hiện. Tuy nhiên những vấn đề dó cũng bao gồm cả các cấp chính quyền địa phương,
các tổ chức dựa vào cộng đồng và những hoạt động của khu vực tư nhân. [2 ]
- Các chiến lược sinh kế
Các chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân về
những việc như :
+ Họ đầu tư vào nguồn vốn và sự kết hợp tài sản sinh kế như thế nào?
14
+ Quy mô các hoạt động tạo thu nhập mà họ theo đuổi?
+ Cách thức họ quản lý như thế nào để bảo tồn các tài sản sinh kế và thu
nhập?
+ Cách thức họ thu nhận và phát triển như thế nào những kiến thức và kỹ năng
cần thiết để kiếm sống?
+ Họ đối phó như thế nào với những rủi ro, những cú sốc?
+ Những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau?
+ Họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có được như thế nào để
làm được những điều trên?
- Kết quả sinh kế
Mục đích của việc sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những công thức mà
con người kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như đạt
được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Những mục tiêu và ước nguyện này có thể
gọi là kết quả sinh kế, đó là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống
cả về trước mắt lẫn lâu dài. Kết quả sinh kế có thể là: [3 ]
+ Hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội làn việc tốt hơn, kết
quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng
tiền của hộ gia đình thu được tăng.
+ Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền,
người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hoá phi vật chất khác, sự
đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, ví dụ như
căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các

doanh thu của những chiến lược sinh kế….
16
Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản những cá nhân và
nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và sự thay đổi quy trình thể chế. Nói
chung tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều.
Vì vậy, một cách để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xây
dựng những tài sản của họ.
+ Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có
khuynh hướng có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều
chiến lược để đảm bảo sinh kế của hộ.
+ Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ
thuộc vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản. Những tài sản khác nhau cần
đạt được những kết quả sinh kế khác nhau. Ví dụ: thu nhập nông hội phụ thuộc
vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính như: diện tích đất đang sử dụng, số lao động
trong gia đình, giá trị tài sản cố định ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi
thuận lợi và áp dụng giống lúa mới. Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào tăng
năng suất đất đai và thu nhập của nông hộ. Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có
thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dư
tương tự lúa gạo và như vậy tạo cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông
thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển (Mellor, 1976). Từ đó có thể
đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn. Sự tăng tài nguyên nhân
lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ có thể góp phần làm tăng năng
suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia tăng.
Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủ
công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xây
dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương mại và dịch
vụ. Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông qua
giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng cơ hội
lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn. Ngoài
17

vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác không gắn
với sự thay đổi nơi cư trú và nơi làm việc. [5]
Theo các quan điểm này thì DL được đề cập đơn thuần tới sự di chuyển
của con người rời khỏi nơi cư trú của họ để thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết
về không gian xung quanh chứ chưa đề cập tới những mối quan hệ phát sinh
trong quá trình di chuyển đó. Vì thế các quan điểm này chưa phản ánh đầy đủ
hiện tượng du lịch, nhưng cũng phải thấy rằng đây chính là cơ sở tiền đề cho sự
ra đời của các khái niệm về DL sau này.
- DL theo ý nghĩa hiện đại.
Theo thời gian cùng với sự phát triển của khoa học và các điều kiện KT – XH
khác. Do việc phải đảm bảo nhu cầu ăn, ngủ, mua sắm và các nhu cầu khác của du
khách đã làm cho du lịch mang thêm một nội dung nũa là nội dung kinh tế.
+ Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì DL là họat động của con người
có liên quan đến đi lại, đi ra khỏi vùng và trong vùng nhằm các mục tiêu nghỉ
ngơi, kinh doanh và các mục tiêu khác, thời gian dưới một năm. [7]
+ Năm 1963 với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị liên hợp quốc tế về DL
họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm về DL như sau: “DL là tổng hợp
các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các hoạt động
của cá nhân của tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hoặc ngoài nước họ
với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải nơi làm việc của họ”. [7]
+ Ở Việt Nam, theo pháp lệnh DL, tháng 2 năm 1999: “DL là một ngành
kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên vùng và
xã hội hoá cao”. [10]
19
Như vậy, rõ ràng là trong các quan niệm mới về DL thì phạm vi về nội dung
của DL đã được mở rộng ra từ chỗ chỉ là hoạt động liên quan đến đi lại, bây giờ
đã xuất hiện thêm yếu tố kinh tế. Chính yếu tố kinh tế trong DL đã chi phối các
mối quan hệ khác trong chuyến đi của khách DL. Cho nên có thể coi DL là một
ngành kinh tế tổng hợp, cho đến nay thì trong hầu hết các quan niệm về DL, yếu
tố kinh tế không những không mất đi mà vai trò của nó trong khái niệm về DL

mục đích khác như đi công tác, hội họp, tìm kiếm cơ hội làm ăn…Những người
này sắp xếp được thời gian cho việc tham quan, nghỉ ngơi của mình. [5]
• Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được
sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu DL, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm
DL, khu DL nhằm tạo ra sự hấp dẫn DL. [5]
2.2.2 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch
Với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển DL cần thiết phải xuất hiện
và tồn tại hai yếu tố cơ bản là “cung” và “cầu” DL
* Điều kiện hình thành “cung” du lịch
- Tài nguyên DL: DL là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách
rõ rệt. Vì vậy tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm DL, khu
DL nhằm tạo ra sự hấp dẫn DL.
- CSHT và cơ sở vật chất kỹ thuật DL: Đây là điều kiện quan trọng để tiếp
cận khai thác các tiềm năng tài nguyên DL và tổ chức các dịch vụ DL.
21
- Đội ngũ lao động: Là yếu tố quản lý, vận hành hoạt động DL. Chất lượng
của đội ngũ lao động trong hoạt động nghiệp vụ còn quyết định chất lượng sản
phẩm DL.
- Cơ chế chính sách: Là môi trường pháp lý để tạo sự tăng trưởng của
“cung” trong hoạt động DL. Trong DL đây cũng được xem là yếu tố quan trọng
để tạo điều kiện cho khách đến. [12]
* Điều kiện hình thành “cầu” du lịch
- Thị trường khách DL: DL không thể tồn tại và phát triển nếu không có
khách DL. Chính vì vậy đây là điều kiện tiên quyết để hình thành “cầu” DL.
- Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến DL: Được xem là yếu tố tăng “cầu”; yếu
tố “cầu” nối giữa “cung” và “cầu” trong DL.
Bên cạnh những yếu tố cơ bản để có thể hình thành thị trường (mua - bán)
và phát triển DL, hoạt động DL có thể phát triển tốt trong điều kiện:

đối với những không gian được quy hoạch xây dựng các khu DL; bảo vệ và phát
triển một số loài sinh vật quý hiếm, bản địa để phục vụ tham quan DL; v.v hoạt
động DL có thể có những ảnh hưởng chính bao gồm:
- Góp phần làm mất đi nơi cư trú (habitat) của nhiều loài sinh vật do việc
san lấp tạo mặt bằng xây dựng các công trình DVDL.
- Kích thích việc săn bắt, khai thác các loài sinh vật quý hiếm, hoang dã.
- Khai thác quá mức tài nguyên nước ngầm, đặc biệt khu vực ven biển.
- Tăng lượng chất thải ra môi trường, góp phần làm suy giảm tài nguyên
và gây ô nhiễm môi trường.
- Tăng khả năng ô nhiễm không khí cục bộ.
- Tăng khả năng lây truyền dịch bệnh.
23
Các môi trường chủ yếu chịu ảnh hưởng của hoạt động phát triển DL là:
Môi trường đất, môi trường nước, môi trường sinh thái, môi trường không khí
(cục bộ). [11]
2.2.4 Quản lý DL để hạn chế tác động đến tài nguyên, môi truờng.
- Quản lý về “sức chứa”
Phân tích sức chứa là phương pháp được sử dụng nhằm xác định giới hạn
phát triển DL trên giới hạn cao nhất có thể khai thác sử dụng tài nguyên DL ở
một điểm DL nào đó. Mathieson và Wall (1982) định nghĩa: “sức chứa” là số
lượng người tối đa có thể tham quan điểm DL mà không gây ra sự thay đổi
không thể chấp nhận được về những gì du khách cảm nhận được ở một điểm DL.
Innskeep (1991) đã bổ sung thêm là “không gây tác động xấu tới xã hội, kinh tế,
văn hóa của điểm DL tới mức không thể chấp nhận được”. [11]
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du
khách mà khu vực có thể chấp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn
tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt
của họ.
Công thức chung để tính sức chứa của một điểm DL như sau: [11]
CPI = AR/ a

Đứng dưới góc độ xã hội: Sức chứa là gới hạn về lượng du khách mà tại
độ bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống
văn hoá – xã hội, KT – XH của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng
địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
Đứng dưới góc độ quản lý: sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà
khu lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này năng lực
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status