MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn xưa và nay luôn chiếm vị trí quan trọng, là
nguồn cơm áo của con người, là cái gốc của sự sinh tồn, là nền tảng của phát triển kinh tế -
xã hội. C.Mác đã từng nhấn mạnh sản xuất nông nghiệp là “ nền tảng của mọi xã hội”, “là
tiền đề đầu tiên của lịch sử”. Vị trí quan trọng của “tam nông” được quyết định bởi địa vị
của giai cấp nông dân trong cách mạng giành chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội và địa
vị của nông nghiệp đối với an ninh lương thực của quốc gia, sự ổn định xã hội nông thôn và
sự phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: nước ta là một nước nông nghiệp. Muốn phát
triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung, phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc, làm
chính. Theo tinh thần đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và đề ra chính sách
đúng đắn nhằm cải thiện và nâng cao đời sống nông dân. Vấn đề “tam nông” luôn được Đảng
ta xác định là vấn đề có tính chiến lược và căn bản, liên quan đến sự nghiệp của Đảng và
nhân dân: nông nghiệp đồi dào thì nền tảng vững mạnh, nông dân giàu thì nước thịnh, nông
thôn ổn định thì cả xã hội yên. Chính vì vậy, khi bàn về “Tam nông” trong giai đoạn hiện
nay, Đảng ta chỉ rõ:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững , giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo
an ninh quốc phòng; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước [7, tr.1].
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề “tam nông” phải được giải quyết đồng bộ gắn với quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn được Đảng xác định là con đường duy nhất để đưa đất nước ta
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu; là yếu tố cơ bản trực tiếp góp phần đẩy nhanh tốc
độ phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đưa nông thôn nước ta phát triển
lên trình độ mới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng ta đã đề xướng: Phấn đấu
các tổ chức kinh tế đạt thấp. Công việc xóa đói giảm nghèo của tỉnh được chú trọng nhưng
thiếu một chính sách cụ thể và hoàn chỉnh nên chưa kích thích nông dân xoá nghèo.
Muốn thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phát triển đòi
hỏi phải cần phải đổi mới hệ thống chính sách đối với nông dân để phát huy vai trò chủ thể,
động lực thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển. Hơn thế, việc đổi mới chính sách đối
với nông dân trong thời gian tới là nhằm nâng cao đời sống nhân dân lao động nói chung và
của nông dân tỉnh Đồng Tháp nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng ta đề ra là
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh .
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đổi mới việc thực hiện chính sách đối với nông dân ở tỉnh
Đồng Tháp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Chính sách chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp kinh tế nông thôn; chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và chính sách tạo
việc làm phát triển nguồn nhân lực nông thôn làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo
cao học, chuyên ngành CNXHKH.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài:
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta đã từng bước cụ thể hóa nội dung
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, xác định chủ trương, chính sách
nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo bước chuyển biến căn bản
trong khu vực này, đem lại cho nông thôn một diện mạo mới. Tuy nhiên, trong quá trình đó
đã làm nảy sinh nhiều vấn đề chính trị- xã hội đặt ra cho nông nghiệp, nông dân và nông
thôn hiện nay.
Ngoài những Nghị quyết, Chỉ thị, chính sách … của Đảng và Nhà nước về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn nói riêng ( tiêu biểu là Nghị quyết 10 của Bộ Chí trị về khoán trong nông nghiệp,
đặc biệt là NQ số 26-NQ/TU ngày 17/7/2008 về về nông nghiệp, nông dân, nông thôn), trong
những năm qua nhiều vấn đề liên quan đến nội dung đề tài đã được quan tâm khá nhiều khía
cạnh, cấp độ khác nhàu. Đã có nhiều công trình, bài viết tập trung về những vấn đề liên quan
tới đề tài
- Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.Nxb.CTQG, H.1997 của Trung tâm tư vấn đầu tư hổ trợ phát triển nông nghiệp, nông
thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã tập trung đánh giá thành tựu và những
trình bày khá rõ nét. Tiêu biểu như việc thực hiện các công trình điện, đường trường, trạm ở
nông thôn Thái Bình, Bên cạnh những thành quả đem lại cho nông thôn, là những tiêu cực,
bức xúc nảy sinh. Từ đó các tác giả đi tìm câu trả lời cho các vấn đề: làm thế nào để phát
triển hạ tầng nông thôn thích ứng với yêu cầu phát triển của nông nghiệp và nông thôn trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
kinh tế vào tiến trình phát triển hiện đại của thế giới
- Chính sách nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số
định hướng. Nxb.CTQG, H.,2002, tác giả Trần Ngọc Bút đã tập trung làm rõ các chính sách
phát triển nông nghiệp ớ nước ta trong các giai đoạn trước cách mạng Tháng Tám, trong
những năm đầu cải cách ruộng đất và thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, trong đó có đi sâu
phân tích những chính sách nông nghiệp, nông thôn từ năm 1986 đến nay. Công trình cũng
đã đề cập đến một số vấn đề bức xúc cần quan tâm đối với nông thôn, nông thôn, nhất là
nông dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đề xuất một số chính sách phát triển
nông nghiệp, nông thôn; định hướng các lĩnh vực ưu tiên, các vùng của cả nước, đặc biệt
kiến nghị về chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, đối với nông dân thời kỳ 2010
- “Việc làm ở nông thôn- Thực trạng và giải pháp”, Nxb, Nông nghiệp,H.,2001,
tác giả Chu Tiến Quang (chủ biên) đã làm rõ thực trạng, lao động và việc làm ở nông thôn
nước ta và đề xuất những giải pháp tạo cơ hội cho lao động nông thôn có thể tiếp cận đến
việc làm. Tác giả phân tích mặt mạnh, yếu của lao động ở nông thôn về trình độ học vấn,
tay nghề, kỹ năng lao động, văn hóa lao động… và chỉ nguyên nhân của tình trạng trên là
do nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tâm lý sản xuất nhỏ, điều kiện giáo dục về học vấn, nghề
nghiệp, ý thức lao động… ở nông thôn rất hạn chế. Những hạn chế này chính là cản trở
người lao động tiếp cận với việc làm đòi hỏi phải có tay nghề, có ý thức trách nhiệm cao
hiện nay. Để người lao động ở nông thôn có việc làm đảm bảo thu nhập, tác giả nhấn mạnh
đến công tác giáo dục học vấn, dạy nghề và mở rộng sản xuất, kinh doanh …, coi đó là
nhiệm vụ hàng đầu ở nông thôn hiện nay.
- 55 năm nông nghiệp, nông thôn Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc. Nxb
Nông nghiệp, H.2001. Tác giả đã làm rõ thành tựu nổi bật và to lớn của nông nghiệp trong
55 năm qua, đặc biệt là trong 15 năm đổi mới đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực,
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia biến Việt Nam từ một nước thiếu ăn triền miên thành
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp đổi mới việc thực hiện chính sách
đối với nông
dân Đồng Tháp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu để làm rõ việc thực hiện chính sách đối với
nông dân ở Đồng Tháp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đặc biệt tập trung làm rõ việc đổi mới thực hiện chính sách đối với nông dân
trên một số chính sách sau: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn;
chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và chính sách tạo việc làm phát triển nguồn nhân
lực nông thôn.
5- Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1- Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta về việc hoạch định chính sách đối với nông dân, nông nghiệp và nông thôn ở nước
ta hiện nay.
Cơ sở thực tiễn là kết quả khảo sát tình hình thực hiện chính sách đối với nông dân,
nông nghiệp và nông ở tỉnh Đồng Tháp.
5.2- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử phân tích, khảo sát, so sánh, tông hợp, thống kê.
Kế thừa có chọn lọc các thành tựu nghiên cứu có liên quan đến luận văn.
6- Những đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn và đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu tình hình thực hiện chính
sách đối với nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
Về mặt thực tiễn: Từ những đánh giá tình hình thực hiện chính sách đối với nông
dân, nông nghiệp và nông thôn của tỉnh
- Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đổi những chính sách của tỉnh đối với nông
dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
7- Ý nghĩa thực tiễn và khả năng sử dụng của luận án
- Giai cấp nông dân có tinh thần yêu nước đấu tranh chống lại giai cấp thống trị khi
họ bị áp bức, bóc lột. Nhưng do bản chất là sở hữu nhỏ, nên trong cách mạng chống phong
kiến, vô sản người nông dân dân có tính hai mặt. Do bản chất tư hữu, người nông dân có thể
thỏa hiệp với giai cấp địa chủ và tư sản để giữ lấy tài sản nhỏ bé của mình. Mặt khác, với
tính chất là người lao động bị bóc lột, người nông dân có khả năng đi theo giai cấp vô sản
làm cách mạng để giải phóng mình khỏi cách áp bức. bóc lột.
Tính hai mặt của nông dân được C.Mác phân tích rõ qua cuộc đấu tranh giai cấp ở
Pháp năm 1848-1850. Sau này được V.I.Lênin tiếp tục làm rõ trong quá trình cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
Nói đến nông dân là nói đến bộ phận dân cư sống ở nông thôn, sản xuất ra những
sản phẩm nông nghiệp. Họ là tầng lớp chiếm đa số trong xã hội, có điều kiện sinh hoạt giống
nhau nhưng không ràng buộc với nhau vì phương thức sản xuất của họ rất phân tán. Mặc dù
tính cơ động xã hội của nông dân ngày càng cao (số người từ nông dân chuyển sang các
thành phần xã hội khác như công nhân, buôn bán … chiếm tỷ lệ ngày càng lớn, trước hết là
trong lớp nông dân trẻ tuổi) nhưng nông dân vẫn chiếm đại da số trong dân cư ở những nước
đang phát triển [24, tr.192-193]. Trong sản xuất, người nông dân thường liên hệ với tự nhiên
nhiều hơn với xã hội. Mỗi gia đình nông dân được xem là một đơn vị kinh tế gần như độc
lập, bởi họ sản xuất tự túc gần như hoàn toàn những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
Người nông dân xem sở hữu về đất đai là cơ sở sinh ra mọi của cải vật chất. Do đó,
mảnh ruộng được sở hữu là “tổ quốc”, là bầu trời riêng của nông dân. Một đặc điểm làm cho
giai cấp nông dân khác với giai cấp vô sản là ở chỗ họ có tư liệu sản xuất dù rất nhỏ. Chính
một ít tư liệu sản xuất riêng đó đã chi phối nặng nề tư tưởng, tâm lý của người nông dân.
Mọi hoạt động, lợi ích, suy nghĩ của người nông dân đều diễn ra trong ranh giới đó. Điều
đó, làm cho người nông dân sống bảo thủ, cục bộ địa phương.
Bản chất xã hội và địa vị của nông dân trong xã hội là do phương thức sản xuất
thống trị quy định và được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội và của
các giai đoạn phát triển của nó, vì thế giai cấp nông dân chưa bao giờ trở thành giai cấp lãnh
đạo trong xã hội.
Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội phát triển, bản chất xã hội của giai cấp nông dân
cũng thay đổi về căn bản. Giai cấp nông dân đã trở thành một giai cấp mới. Dưới sự lãnh
phải được tổ chức và tổ chức của giai cấp vô sản.
Khi đề cập đến vấn đề nông thôn trong mối quan hệ với nông nghiệp và nông dân.
Hồ Chí Minh nêu: “ Làm thế nào để thật sự đoàn kết nông thôn?, làm thế nào để giải quyết
hợp tình, hợp lý vấn đề tinh thần và vấn đề vật chất cho mọi người, và mọi tầng lớp trong
thôn xã” [18, tr.255]. Người luôn theo dõi những biến động trong nông thôn và xem vấn đề
nông dân, nông thôn có ý nghĩa chính trị to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc ta.
Với cách nhìn đúng đắn đó, Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh thật sự của giai cấp nông
dân Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn nhìn thấy đậm nét hơn tính lao động của giai cấp nông dân
Việt Nam hơn.
Tóm lại, các nhà tư tưởng Mác-xít khi nói đến người nông dân dù ở phương Đông
hay phương Tây, từ thời cận đại hay hiện đại cũng đều khẳng định rằng chính điều kiện sản
xuất và điều kiện sinh sống là những nhân tố tạo ra đặc điểm điển hình của giai cấp nông
dân. Đồng thời những nhà tư tưởng Mác-xít cũng chỉ ra rằng giai cấp nông dân có vai trò
quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, trong
những thời điểm khác nhau giai cấp nông dân ở đó có vai trò lịch sử và nét đặc thù riêng.
Nông dân là chủ thể để phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đối với
nước tà từ một nước nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của quốc gia, trong quá trình
chuyển đổi từ một nước nông nghiệp để trở thành một nước công nghiệp phát triển, Đảng ta
đã chủ trương thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thì nông dân
có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới. Nông nghiệp, nông thôn
cũng chính là mục đích cần đạt tới trong giai đoạn hiện nay.
1.2.2. Vị trí của nông nghiệp, nông thôn trong sự phát triển xã hội.
Phát triển kinh tế- xã hội nông thôn chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, bởi đây là lĩnh vực sản xuất ra những sản phẩm
thiết yếu nuôi sống con người. Mặt khác, đây là lĩnh vực của đới sống kinh tế- xã hội bao
gồm một tổng hợp ngành, với môi trường gồm nhiều hoạt động kinh tế- xã hội diễn ra. Trước
đây, vị trí đó chưa được nhận thức một cách đầy đủ, thậm chí một số nước trong quá trình
phát triển kinh tế còn phạm phải sai lầm không quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn gây
nên hậu quả to lớn cả về kinh tế- xã hội, cả về môi trường và nhân văn. Nhưng những năm
Hai là, nông nghiệp, nông thôn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế quốc dân.
Hiện nay hơn 56% lao động xã hội ở lĩnh vực nông thôn và chủ yếu trong nông nghiệp. Việc
nâng cao trình độ văn hóa, khoa học- kỹ thuật cho lực lượng lao động ở nông thôn và cùng
với quá trình đầu tư để đổi mới trang thiết bị và công cụ lao động, tổ chức hợp lý quá trình
lao động là điều kiện cơ bản để tăng năng suất lao động trong nông nghiệp và các ngành sản
xuất khác trong nông thôn. Trên cơ sở đó cho phép nông nghiệp cung cấp cho các ngành
khác nông sản, nguyên vật liệu chế biến …, thực hiện sự phân công lao động xã hội trong
nông thôn cũng như trong cả nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và cơ
cấu kinh tế của cả nước hợp lý và có hiệu quả.
Ba là, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn tạo ra thu nhập một bộ phận dân
cư ngày càng tăng, sức mua tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm xã hội, làm cho
hoạt động ở nông thôn trở nên sôi động hơn, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn kéo theo các ngành khác như cơ
khí, hóa chất, điện, chế biến … có thị trường nội địa và các ngành dịch vụ tiêu thụ hàng hóa,
cung ứng vật tư, kỹ thuật, dịch vụ tài chính … trong khu vực nông thôn hình thành và phát
triển. Các quan hệ trao đổi giữa khu vực, các ngành và thành phần kinh tế trong nông thôn
tao ra không khí sôi động của thị trường nông thôn rộng lớn, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân
phát triển.
Bốn là, phát triển nông thôn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái. Nông thôn bao gồm một khu vực rộng
lớn. Ở đây, các tài nguyên của quốc gia chiếm tuyệt đại bộ phận như đất đai, khoáng sản,
động thực vật, rừng, biển, nguồn nước… Phát triển nông nghiệp, nông thôn cho phép sử
dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình sử dụng.
Năm là, phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở quan trọng để bảo đảm ổn định
chính trị, xã hội, phát triển kinh tế bền vững, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh.
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng trong quá trình vươn lên chưa có một quốc gia
nào đi bằng con đường nông nghiệp mà lại trở thành một quốc gia phát triển mạnh Hiện nay,
nền kinh tế nước ta vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp, phát triển chậm so với một số
nước trong khu vực. Vì thế, để thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển, tránh nguy
“Chính sách với nghĩa rộng (nghĩa chung nhất) là tổng thể các quan điểm, các biện
pháp mà chủ thể lãnh đạo quản lý (Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội) tác động
lên đối tượng quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất
định”.
“Còn Chính sách theo nghĩa hẹp, là một quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện
đường lối, nhiệm vụ trong một thời gian nhất định” [22, tr.9].
Chính sách là một bộ phận của khoa học chính trị. Khoa học chính sách ở nước ta
cũng như các nước khác không nghiên cứu chính sách nói chung mà tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu chính sách công.
Đây là một thuật ngữ chưa được dùng phổ biến ở nước ta, thậm chí cả trong giới
nghiên cứu khoa học chính trị. Hiện nay các nhà nghiên cứu thường chỉ mạnh dạn dùng thuật
ngữ “chính sách” và “chính sách quốc gia” để chỉ những nội dung mà thực chất trước hết là
thuộc về “chính sách công”. Thuật ngữ được dùng phổ biến trong khoa học chính trị quốc
tế. Sự e ngại đó có những lý do thực tế bởi vì nếu “chính sách công” chỉ được hiểu như trong
khoa học chính trị tư sản- tức là chỉ gắn với Nhà nước, mà Nhà nước cũng chỉ được hiểu
thuần tuý như một tổ chức công quyền, “đứng trên” mọi tầng lớp, mọi giai cấp và về nguyên
tắc là quyền lực tối cao quy định tổ chức và hoạt động của các chính Đảng- thì rõ ràng thì
thuật ngữ đó là không thể tương thích với hiện thực chính trị, thể chế và hệ thống chính trị,
chính sách ở nước ta. Cho nên, dùng khái niệm “ chính sách” hoặc cụ thể hơn “chính sách
quốc gia” ở ta là thích hợp.
Song nếu nhìn rộng và sâu hơn, có thể thấy, dù diễn giải nội dung có thể là khác
nhau tuỳ theo quan điểm chính trị. Nhưng khoa học chính sách ở nước nào cũng tập trung
nghiện cứu vào những quyết định quan trọng nhất của xã hội ( định nghĩa của G.Brewer và
P.d Leon) chỉ dẫn và quy định hành động của hệ thống chính trị. Đó chẳng phải là cái gì
khác ngoài “chính sách công”. Do vậy nếu dùng thuật ngữ này chúng ta có một “khung”
thích hợp để phát triển khoa học chính sách ở nước ta qua trao đổi, phản biện với khoa học
chính sách trên thế giới. Đồng thời cũng là một hình thức đánh dấu bước đưa quá trình chính
sách hiện thực ở nước ta đi vào khoa học, khách quan và hiệu quả hơn. Như vậy định nghĩa
chính sách mà chúng ta phải đi tới là định nghĩa về “chính sách công”.
“Chính sách công” trước hết là “chính sách”. Trong thực tế, chính sách tồn tại dưới
Có thể nói, thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những
kết quả thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm
đạt tới những mục tiêu đã đề ra.
Chính sách được hoạch định xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tế, từ những
như cầu của xã hội, của nhân dân. Thực thi chính sách là quá trình giải quyết trên thực tế
những nhu cầu đó, đem lại những biến đổi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm phục
vụ lợi ích của nhân dân.
Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học
công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt được
các mục tiêu đã . Xử lý những trường hợp không bình thường
a. Nồng độ CO2 ra tháp hấp thụ tăng:
Nồng độ CO2 ra khỏi đỉnh tháp hấp thụ (T3002) được chỉ thị bởi thiết bị phân tích
tự động AI3021 hoặc là sự tăng nhiệt độ trong thiết bị Metan hoá.
Phản ứng trong thiết bị Metan hoá là phản ứng toả nhiệt mạnh, nhiệt độ có thể tăng
tới 60oC trên 1% mol CO2.
Nồng độ CO2 ra khởi tháp hấp thụ phải được theo dõi cẩn thận: Nếu thấy có sự
tăng, thì ngay lập tức phải có biện pháp sử lý, các biện pháp xử lý:
o Kiểm tra tốc độ tuần hoàn dịch, nhiệt độ và có sự điều chỉnh chúng nếu cần
thiết. o Giảm tải của dòng công nghệ tới tháp hấp thụ bằng cách xả khí qua
van HV3022. o Kiểm tra áp suất trong phần tái sinh, và điều chỉnh áp suất tại
PIC3015 nếu cần thiết. o Hoặc, nếu không khống chế được thì buộc phải trip
phần Metan hoá.
Nồng độ CO2 ra khởi tháp hấp thụ cao có thể là nguyên nhân thiếu dung dịch tuần
hoàn, hoặc quá trình tái sinh chưa tốt. Ta phải kiểm tra điều kiện của quá trình như
tốc độ tuần hoàn, cân bằng nhiệt, nhiệt độ áp suất.
Nếu điều kiện quá trình ở trong điều kiện bình thường, thì sau đó phải tiến hành
phân tích khí công nghệ tại của vào tháp hấp thụ tại AP3525 và cửa ra của tháp
hấp thụ tại AP3528 để xác định nguyên nhân. o Trong quá trình vận hành luôn
phải chú ý đến thành phần dịch nghèo, hàm lượng CO2 có trong dịch đi vào đỉnh
tháp hấp thụ. Thành phần dịch bán nghèo, hàm lượng CO2 có trong dịch đi vào
thể rất thấp. Sự ăn mòn của thép không rỉ bởi clo có thể xảy ra. Tuy nhiên, cả hai hiện
tượng này rất hiếm thấy trong các nhà máy.
Sự ăn mòn do ma sát có thể xảy ra với thép các bon do dòng lỏng có tốc độ cao
qua những đoạn cong khúc khửu của đường ống, ở đó áp suất của chất lỏng giảm là lớn
nhất.
4.5. CÔNG ĐOẠN METHANE HOÁ:
4.5.1. Mục đích:
Khí sau khi đã qua công đoạn chuyển hóa CO và tách CO2 thì vẫn còn một lượng
nhỏ CO và CO2, hai khí này sẽ làm ngộ độc chất xúc tác của quá trình tổng hợp NH3 vì
vậy cần phải chuyển hai khí này thành khí methan trơ với xúc tác của quá trình.
4.5.2. Mô tả công nhệ tổng quát :
Bước tinh chế khí cuối cùng trước khi vào tháp tổng hợp là metan hoá, một quá
trình mà các loại cacbon oxit dư sẽ được chuyển hoá thành metan. Metan đóng vai trò
như một khí trơ trong chu trình tổng hợp amôniắc. Ngược lại, các hợp chất chứa oxy như
là cacbon oxit (CO và CO2) là cực kỳ độc hại đối với chất xúc tác tổng hợp amôniắc.
Quá trình metan hoá xảy ra trong bình metan hoá 10-R-3001, và các phản ứng liên
quan là những phản ứng ngược của phản ứng reforming:
CO + 3H
2
CH
4
+ H
2
O + Q
CO
2
+ 4H
Nhiệt độ phát nhiệt tăng lên là 74
0
C/%mol CO và 60
0
C/% mol CO
2
.
Khí công nghệ đi vào công đoạn metan hoá được mô tả như sau.
Khí công nghệ từ tháp hấp thụ CO2 (10-T-3002) được gia nhiệt đến nhiệt độ này
khi chúng đi qua bộ trao đổi nhiệt khí-khí 10-E-3011 và bộ cân bằng nhiệt (10-E-2011).
Trong vận hành bình thường, nhiệt độ tăng qua lớp xúc tác cần nằm trong khoảng
20
o
C, tương ứng với nhiệt độ đầu ra khoảng 320
o
C. Bộ trao đổi nhiệt khí-khí 10-E-3011
làm lạnh khí được tinh lọc đến khoảng 74
o
C. Khí sau đó được dẩn đến bộ làm lạnh cuối
cùng 10-E-3021 và bộ tách khí cuối cùng 10-V-3011, nơi mà nước ngưng tụ được tách
ra khỏi khí công nghệ.
Từ thiết bị tách khí cuối cùng khí nguyên liệu cho tổng hợp amoniắc được đưa đến
máy nén khí tổng hợp.
Khí sau khi tinh chế chứa N2, H2 với một tỉ lệ khí trơ như Ar và CH4 khoảng 1,3%
mol. Tỉ lệ thích hợp của H2 và N2 sẽ phụ thuộc vào việc bộ thu hồi hydro (HRU) có làm
việc hay không. Nếu HRU không được đưa vào vận hành, tỉ lệ là gần 3:1. Nếu HRU được
đưa vào vận hành, tỉ lệ được điều chỉnh sao cho tỉ lệ H2:N2 trong khí tổng hợp sau khi
thêm hydro thu hồi được sẽ là 3:1.
4.5.3. Mô tả thiết bị:
Công đoạn metan hóa bao gồm các thiết bị sau:
2
4.5.4. Thiết bị Methane hoá :
Các thông số chính của thiết bị Methan hóa 10R – 3001
như sau: o Đường kính trong của thiết bị: 3100 mm o
Chiều cao lớp xúc tác: 2740 mm
o Áp suất thiết kế/ áp suất vận hành: 26,6 bar/ 30,5 bar o Nhiệt độ thiết
kế/
nhiệt độ làm việc: 300
0
C/ 10/450
0
C
Bình metan hoá 10-R-3001 có một lớp xúc tác loại PK-7R. Chất xúc tác PK-7R là
loại xúc tác niken chứa khoảng 27% niken.
Xúc tác có đặc điểm giống như xúc tác reforming nghĩa là xúc tác niken trên chất
mang ceramic.
Bởi vì phản ứng được thực hiện ở nhiệt độ thấp hơn rất nhiều so với xảy ra trong
reformer, nên xúc tác phải rất hoạt tính ở nhiệt độ thấp, trái lại đặc tính xúc tác ở nhiệt độ
cao hơn là không quan trọng lắm.
Phản ứng Methane hoá bắt đầu tại nhiệt độ dưới 280
o
C và gây ra sự gia tăng nhiệt
độ trong lớp xúc tác. Sự gia tăng nhiệt độ tăng phụ thuộc vào hàm lượng CO và CO2
trong khí công nghệ.
Nhiệt độ đầu vào cần được điều khiển để đảm bảo hàm lượng CO và CO2 đủ thấp
trong khí đầu ra, nhiệt độ đầu vào khoảng 300
o
C là tốt nhất tại thời điểm khởi động.
Chất xúc tác metan hoá không được phép tiếp xúc với nhiệt độ lớn hơn 420