VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI
NÙNG CHÁO (TRƯỜNG HỢP THÔN NÀ LẦU, XÃ
TÂN THANH, HUYỆN VĂN LÃNG,
TỈNH LẠNG SƠN)
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2019
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. HOÀNG CẦM
2. TS. ĐỖ LAN PHƯƠNG
Phản biện 1: PGS.TS. Trần Đức Ngôn
Phản biện 2: PGS.TS. Bùi Quang Thanh
Phản biện 3: TS. Vi Văn An
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại: Học viện khoa học xã hội
Vào hồi…..giờ….., ngày………tháng……….năm………
1
hàng, xóm giềng, song bản thân bà và gia đình cũng có những toan tính để
có một cuộc sống ổn định như hiện nay. Không chỉ có nhà bà mà hầu hết
những người Nùng Cháo sống tại thôn Nà Lầu sau khi đất nông nghiệp của
họ bị chuyển đổi đều phải trải qua những giai đoạn tìm kiếm các cách thức
mưu sinh không dễ dàng như vậy.
Là một thôn nằm giáp với biên giới Việt - Trung của tỉnh Lạng Sơn
và nằm trong khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, sinh kế cổ truyền của người
Nùng Cháo ở Nà Lầu, về cơ bản là nền “kinh tế trọng tình” (moral
economy), sống dựa trên sự tương trợ, giúp đỡ nhau, tính cố kết cộng đồng
cao, lối sống thiên về yếu tố tình cảm. Trước những năm 1990, nền kinh tế
của họ chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước, làm nương rẫy kết hợp với
chăn nuôi và buôn bán nhỏ tại các chợ Na Sầm (huyện Văn Lãng), Đồng
Đăng (huyện Cao Lộc), bên cạnh đó còn thực hiện buôn bán, trao đổi hàng
hóa với người dân ở thôn Pò Chài (Trung Quốc). Khi quan hệ hai nước Việt
- Trung trở nên căng thẳng do cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hoạt
động buôn bán giữa người dân Nà Lầu (Việt Nam) với người dân Pò Chài
(Trung Quốc) bị nghiêm cấm. Từ năm 1991 trở đi, quan hệ song phương
Việt - Trung chuyển sang thời kỳ mới, chấm dứt cơ bản những căng thẳng,
tạo ra sự bình ổn cho cuộc sống người dân. Năm 1992, khu Kinh tế cửa
khẩu Tân Thanh được xây dựng trên địa bàn thôn Nà Lầu thì nơi đây đã trở
thành nơi giao lưu, trao đổi và mua bán hàng hóa giữa hai nước Việt Nam
và Trung Quốc, nhiều hoạt động thương mại diễn ra rất sôi động. Tác động
của việc xây mới và mở rộng vùng cửa khẩu đã dẫn đến việc toàn bộ người
Nùng Cháo ở Nà Lầu mất đất canh tác nông nghiệp vốn là nguồn tài nguyên
chính đã gắn bó với kinh tế nông nghiệp lâu đời của họ. Hiện nay, các hoạt
động sinh kế truyền thống này đã có nhiều thay đổi so với trước kia, đó là
2
- Khái quát tình hình nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống nói
chung và văn hóa của tộc người Nùng Cháo ở xã Tân Thanh, huyện Văn
Lãng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
- Làm rõ các hoạt động sinh kế của người Nùng Cháo trong quá
khứ để nhận thấy vai trò cơ bản của canh tác nông nghiệp trên nền tảng
trọng tình của cư dân nơi đây trong suốt chiều dài lịch sử.
- Làm rõ các hoạt động sinh kế của người Nùng Cháo hiện nay để
nhìn ra sự đa dạng, phong phú, các chiều cạnh chuyển đổi và lựa chọn sinh
kế trên cơ sở duy lý có sự đan xen với trọng tình của người dân trong bối
cảnh phát triển kinh tế và dịch vụ tại khu vực cửa khẩu.
- Thảo luận về sự kết hợp trọng tình – duy lý trong tư duy và thực
hành của người dân về sinh kế trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay.
Những vấn đề liên quan đến biến đổi văn hóa – xã hội, nguồn lực lao động,
việc làm, và những thách thức trong thực hành sinh kế của người Nùng
Cháo
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hoạt động sinh kế của người
Nùng Cháo ở thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)
trong quá khứ và trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay ở vùng biên giới Lạng
Sơn.
Phạm vi nghiên cứu:
Văn hóa đảm bảo đời sống là khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm
ăn, mặc, ở, đi lại và hoạt động mưu sinh. Trong khuân khổ của luận án này,
chúng tôi chỉ lựa chọn nghiên cứu và phân tích một trong các thành tố quan
trọng nhất của văn hóa đảm bảo đời sống là hoạt động sinh kế của người
4
và hệ thống từ các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài
nước đã công bố có liên quan tới đề tài. Nghiên cứu sinh cũng tiến hành thu
thập và phân tích các bài báo, tạp chí và các tài liệu có liên quan để có
những thông tin cơ bản về đặc điểm kinh tế, xã hội và bức tranh toàn cảnh
về các loại hình sinh kế mới ở Nà Lầu nói riêng và những thay đổi sinh kế
vùng cửa khẩu Lạng Sơn nói chung. Kèm theo đó là các văn bản, tài liệu,
báo cáo, số liệu thống kê của chính quyền và các ban ngành ở địa phương.
Những ý kiến trao đổi với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Là luận án đầu tiên nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống của
một tộc người cụ thể, ở một địa bàn mang tính đặc thù là vùng giáp biên
giới Việt – Trung trước những biến đổi về kinh tế - xã hội của giai đoạn
hiện nay, nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn, đây là một hướng nghiên
cứu mới trong ngành văn hóa.
- Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp một nghiên cứu trường
hợp cho bức tranh nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống của người nông
dân trong xã hội đương đại.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về ý nghĩa lý luận: Luận án góp thêm một nghiên cứu trường hợp
về văn hóa đảm bảo đời sống qua chiến lược sinh kế của người nông dân
trong bối cảnh chuyển đổi, so sánh với các ý kiến đã được thảo luận trong
các các công trình nghiên cứu đi trước ở Việt Nam và Đông Nam Á; cung
cấp dữ liệu cụ thể ở cấp vi mô nhằm bổ sung vào những lý thuyết về sự
thích nghi, sự chủ động về sinh kế của người nông dân ở vùng biên giới.
6
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn tư
liệu quan trọng, cơ sở thực tiễn để các nhà hoạch định chính sách tham
của người nông dân ở những vùng nông thôn trong các bối cảnh khác nhau
đã cho thấy, ở trong mỗi một hoàn cảnh người dân luôn tìm cách để đảm
bảo an ninh sinh tồn, thích ứng để phù hợp với hoàn cảnh mới. Có hai xu
hướng nghiên cứu chính nổi lên:
Hướng thứ nhất cho rằng: người nông dân luôn sống dựa trên
những cơ sở của nền kinh tế trọng tình. Một trong những học giả có ảnh
hưởng đến lĩnh vực nghiên cứu này là nhà nhân học, chính trị học Jame
Scott. Trong công trình nghiên cứu được coi là kinh điển “The moral
economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia”
(Kinh tế trọng tình của nông dân: nổi loạn và tự cấp tự túc ở Đông Nam Á)
đã chỉ ra đặc trưng của nền kinh tế cổ truyền của người nông dân Đông
Nam Á: sinh kế truyền thống của họ, dù ở đồng bằng hay miền núi, canh tác
nương rẫy hay ruộng nước, đều chia sẻ một nền kinh tế trọng tình và bị chi
8
phối bởi cái mà Jame Scott gọi là “đạo lý tự cấp tự túc” (subsistant ethic)
theo nguyên tắc “an toàn là trên hết”.
Hướng nghiên cứu thứ hai cho rằng: người nông dân luôn duy lý trong
sinh kế, với nghiên cứu Samuel Popkin (1979) có quan điểm đối lập với
Jame Scott (1976) được trình bày ở trên. Trong công trình nghiên cứu “The
Rational Peasant” (Người nông dân duy lý), với cách tiếp cận “political
economy” (kinh tế chính trị), người nông dân Việt Nam được xem là những
người luôn sẵn sàng nắm bắt cơ hội, chấp nhận rủi ro để gia tăng mức sinh
tồn.
Ngoài những nghiên cứu về người nông dân theo hướng trọng tình,
duy lý thì cũng có những nghiên cứu chỉ ra không chỉ đơn thuần xem xét về
người nông dân trên hai yếu tố này, mà còn có một khía cạnh khác, đó là sự
kết hợp đan xen của cả yếu tố trọng tình và duy lý, như nghiên cứu của
Keyes (1983) về người nông dân Đông Bắc Thái Lan, hay nghiên cứu của
thống hoặc sự thay đổi sinh kế nhưng chưa đi sâu phân tích cơ sở văn hóaxã hội bên trong hoạt động đó. Thực tế cho thấy, với nhiều nguyên nhân
khác nhau dẫn đến việc người nông dân phải chuyển đổi sinh kế, họ đã luôn
có những sự thích ứng với bối cảnh mới.
10
Chương 2
VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG CHÁO
Ở NÀ LẦU TRONG XÃ HỘI CỔ TRUYỀN
Để đảm bảo sinh kế trong xã hội cổ truyền, người Nùng Cháo ở Nà
Lầu cũng như những dân tộc thiểu số khác sinh sống chủ yếu nhờ vào nông
nghiệp, canh tác lúa nước và nương rẫy, họ đều xây dựng cho mình một cơ
chế tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, điều này đã được Jame Scott (1976) chứng
minh: sinh kế truyền thống của người nông dân vùng Đông Nam Á, cho dù
là cư dân đồng bằng hay miền núi, bất luận của cư dân canh tác nương rẫy
hay ruộng nước, đều chia sẻ một nền kinh tế trọng tình (moral economy), bị
chi phối bởi “đạo lý tự cấp tự túc” (subsistant ethic), với các dàn xếp văn
hóa- xã hội và kỹ thuật đi kèm. Theo Jame Scott, các dàn xếp văn hóa- xã
hội là các mô hình tương hỗ, vần công-đổi công, hệ thống bảo trợ, sở hữu
cộng đồng, hệ thống tôn giáo tín ngưỡng. Các dàn xếp kỹ thuật bao gồm:
cách thức quản lý sự đa dạng về giống truyền thống của người địa phương,
các kỹ thuật canh tác... Nội dung chương này sẽ không đi sâu vào những
mô tả chi tiết về các hoạt động kinh tế truyền thống của người Nùng, một
vấn đề đã được các nhà nghiên cứu đi trước nói đến trong công trình của họ.
Thay vào đó là việc tập trung phân tích các dàn xếp văn hóa-xã hội, kỹ
thuật truyền thống được người Nùng Cháo ở Nà Lầu xây dựng và thực hành
trong suốt quá trình lịch sử định cư, đồng thời xem xét vai trò, chức năng
của chúng đối với sự phát triển bền vững của người Nùng tại Nà Lầu.
2.1. Tập tục cộng đồng trong sở hữu và sử dụng tài nguyên
12
cho các nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Điều này cũng được diễn ra đối với
những người dân tại Nà Lầu.
Tiểu kết
Do lịch sử định cư muộn, khi di cư vào Việt Nam đã không còn
những vùng đất thuận lợi, màu mỡ để cho người Nùng ở Nà Lầu canh tác
nông nghiệp nên họ đã phải luôn tìm cách để thích ứng với môi trường tự
nhiên ở nơi định cư mới, tìm mọi phương thức mưu sinh phù hợp nhằm
đảm bảo cuộc sống không bị thiếu đói, từ đó xây dựng nên các “dàn xếp”
văn hóa - xã hội, trở thành những tập quán văn hóa tồn tại hàng trăm năm
nay.
Trong sinh kế cổ truyền của người Nùng ở Nà Lầu, canh tác lúa
nước là ngành kinh tế chính, bên cạnh đó việc gieo trồng trên nương rẫy
cũng chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của họ. Để hoạt động sinh
kế đạt hiệu quả, họ đã tìm ra các kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện đất
đai và khí hậu, sử dụng đa dạng các loại giống lúa, thực hiện kỹ thuật đa
canh, xen canh để tận dụng tối đa đất trồng. Cùng với hệ thống kinh nghiệm
và tri thức được tích lũy thông qua quá trình tương tác lâu dài với hệ sinh
thái tự nhiên, những công cụ lao động phù hợp đã được sáng tạo ra để phục
vụ cho nhu cầu sản xuất. Song song với sự sáng tạo trong canh tác nông
nghiệp, họ còn tiến hành các hoạt động tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản
xuất qua hình thức vần công- đổi công, tập quán cùng nhau chia sẻ nguồn
lương thực để cùng tồn tại. Những điều này được thực hiện một cách tình
nguyện trên cơ sở có đi có lại. Bên cạnh đó, các hình thức tín ngưỡng liên
quan đến nông nghiệp diễn ra quanh năm như một phần của việc đảm bảo
đời sống. Trong các hoạt động này, những người Nà Lầu luôn chú trọng yếu
tố tình cảm hơn giá trị vật chất. Chính những điều này đã khiến cho họ có
canh tác lúa bị thu hẹp cũng làm cho trâu cày ở các gia đình thiếu nguồn
thức ăn vì không còn các bãi chăn thả. Sinh kế truyền thống bị khủng
hoảng, họ đối phó bằng cách tìm vốn để chuyển hướng làm ăn, “con trâu là
đầu cơ nghiệp” của sinh kế nông nghiệp dường như cũng được xem là
nguồn vốn bước đầu của sinh kế mới vào lúc này. Các gia đình lần lượt bán
trâu đi như một nhu cầu cấp thiết, đến năm 2001 số trâu trong thôn đã bán
hết. Để có thể cày, bừa số ruộng ít ỏi còn lại, các gia đình đã mượn trâu của
họ hàng ở các thôn lân cận. Đến năm 2003, số hộ gia đình làm ruộng trong
thôn còn lại rất ít, đa phần đã chuyển sang làm các công việc khác. Từ một
năm gieo trồng hai vụ giờ chỉ còn vụ đông - xuân. Đất canh tác bị thu hẹp,
việc gieo trồng không được đầu tư nhiều công sức tất yếu kéo theo việc đa
canh, xen canh cũng không được thực hiện, cơ cấu nông nghiệp đã thực sự
bị phá vỡ.
3.2.2. Kinh doanh tại chợ vùng biên và tác động của những yếu tố chính
trị, văn hóa- xã hội
3.3. Phương thức mưu sinh mới với cơ sở của nền kinh tế trọng tình
3.3.1. Đa dạng hình thức làm thuê
“Làm cửu vạn”
Sau khi tiến hành kinh doanh tại các chợ cửa khẩu không đem lại
hiệu quả kinh tế như mong muốn, người dân Nà Lầu lại tiếp tục tìm cho
mình những công việc khác phù hợp hơn với hoàn cảnh của họ, trong đó có
các hình thức lao động làm thuê. Đây là hiện tượng phổ biến diễn ra ở khắp
nơi khi có sự chuyển đổi môi trường sinh kế. Có thể thấy, người dân Nà
Lầu đã khai thác triệt để nguồn nhân lực cho các hoạt động sinh kế khi điều
kiện sống thay đổi và sự an sinh chưa được bảo đảm. Việc xây dựng, mở
rộng cửa khẩu trên đất của thôn Nà Lầu nhằm có những thay đổi để nâng
15
Mặc dù có những thay đổi trong sinh kế, chịu ảnh hưởng của cơ chế
thị trường, nhưng truyền thống tương trợ, giúp đỡ nhau vẫn còn tồn tại giữa
những người dân trong thôn Nà Lầu.
Trong xã hội cổ truyền ở Nà Lầu người Nùng luôn sống chan hòa
và tương trợ nhau trong nhiều hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt hàng
ngày và quan niệm “đói cùng đói, no cùng no” chi phối suy nghĩ khiến họ
luôn đoàn kết và giúp đỡ nhau. Hiện nay, để mưu sinh trong bối cảnh
chuyển đổi, những người Nà Lầu vẫn duy trì lối sống đoàn kết, tương trợ
nhau.
3.3.3. Tận dụng lợi thế của dân bản địa để gia tăng nhân tố tình cảm
trong thực hành nghề mới
Tiểu kết
Khi môi trường sinh kế truyền thống bị thay đổi bởi những biến
động của quá trình đổi mới phát triển đất nước, tác động của việc mở của
biên giới thông thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, việc xây
dựng khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, đất canh tác bị thu hồi đã dẫn đến
những chuyển đổi trong phương thức mưu sinh của những người dân Nà
Lầu. Cơ cấu nghề nông ở Nà Lầu bị phá vỡ: thay đổi trong sản xuất mùa vụ,
phương thức canh tác. Trong quá trình chuyển đổi sinh kế đó đã xuất hiện
yếu tố duy lý trong kinh tế, họ nhận thấy có những cơ hội để thay đổi cuộc
sống nên đã tính toán để phù hợp với bối cảnh sống. Một trong những hoạt
động đầu tiên khi chuyển đổi sinh kế là tiến hành kinh doanh, buôn bán nhỏ
tại chợ cửa khẩu Tân Thanh. Song, nguồn gốc nông dân thiếu kinh nghiệm
trong cạnh tranh theo kinh doanh thị trường, hoạt động kinh doanh tại chợ
của khẩu chưa đem lại hiệu quả như họ mong muốn lúc ban đầu khiến họ
lại phải tiếp tục toan tính để tìm cách thích ứng với hoàn cảnh mới. Họ đã
17
thực hiện đa dạng sinh kế bằng nhiều cách: làm cửu vạn, làm thuê, kết hợp
các hình thức mưu sinh cho phù hợp với bối cảnh mới: dịch chuyển nơi sinh
sống ra các khu phố dọc đường chính, tận dụng lợi thế là những người dân
bản địa để mưu sinh. Quá trình đó được diễn ra đan xen với việc duy trì các
dàn xếp văn hóa- xã hội từ truyền thống đã có.
4.2.2. Sự suy xét trong các mối quan hệ
Mặc dù có những chuyển đổi về kinh tế, song họ vẫn luôn củng cố
các mối quan hệ xã hội vốn có với những người họ hàng, láng giềng, đồng
thời mở rộng quan hệ với những người dân từ nơi khác đến đây làm ăn. Tuy
nhiên, nếu chỉ trọng tình thôi thì chưa đủ, buộc những người dân Nà Lầu
phải có những tính toán mang tính duy lý để đảm bảo được đời sống. Việc
nghiên cứu, tìm hiểu về các mối quan hệ xã hội của người dân ở đây thực
sự là điều cần thiết để xem xét chức năng của các quan hệ này ra sao, có lợi
như thế nào đối với việc làm ăn của mỗi cá nhân và hộ gia đình.
4.3. Văn hóa đảm bảo đời sống- những vấn đề liên quan trong bối cảnh
hiện nay
4.3.1. Từ thay đổi sinh kế dẫn đến những biến đổi về văn hóa
Bối cảnh chuyển đổi về kinh tế được nêu ra trong nghiên cứu đã
mang lại những cơ hội đan xen cả những thách thức đối với sinh kế của các
hộ gia đình người Nùng Cháo ở Nà Lầu và cuộc sống của họ. Một trong
những cơ hội được nhìn nhận có tác dụng tích cực đối với sinh kế và cuộc
sống của người dân là sự gia tăng về nguồn vốn tài chính của các hộ gia
đình. Quá trình xây dựng và mở rộng khu kinh tế cửa khẩu ở Tân Thanh
làm cho nhiều hộ gia đình bị mất đất canh tác nông nghiệp, tiền nhận được
19
từ việc đền bù đất không lớn, không đủ để trang trải cho cuộc sống nhưng
nó cũng đồng thời mở ra những cơ hội sinh kế mới để cải thiện đời sống
của họ, đem đến nhiều sự biến đổi: biến đổi về lối sống, mức sống, biến đổi
kế người nông dân Nà Lầu cũng phải đối mặt với những tác động không
nhỏ, ngoài việc mức sống của họ được nâng cao hơn, họ cũng có những bức
xúc trong các vấn đề liên quan đến việc làm ổn định, lâu dài, những rủi ro
và bấp bênh trong sinh kế. Tất cả đã tạo nên một bức tranh về quá trình
chuyển đổi sinh kế của cộng đồng người Nùng Cháo ở một thôn giáp biên
giới Trung Quốc phản ánh sự biến động liên tục.
KẾT LUẬN
1. Những nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống của người nông
dân của các học giả đi trước đều chứng minh rằng, trong xã hội truyền
thống nền kinh tế trọng tình chiếm một vị trí quan trọng trong sinh kế của
họ, là cơ sở để đảm bảo sự an toàn về an ninh xã hội. Trong những bối cảnh
khác nhau dẫn tới những chuyển đổi trong sinh kế, có những công trình
nghiên cứu đã chỉ ra: người nông dân trong xã hội hiện đại vẫn giữ nguyên
những cơ sở đạo lý của nền kinh tế trọng tình, với các dàn xếp văn hóa, xã
hội và kỹ thuật đi kèm chứng minh người nông dân dựa trên cơ sở của một
nền kinh tế đạo đức thị trường, tận dụng các mối quan hệ xã hội để làm ăn,
thích ứng với nền kinh tế thị trường, ứng phó phù hợp để tạo ra những cơ
hội sinh kế mới; không dựa vào các mối quan hệ với người thân, họ hàng để
kinh doanh mà tự gây dựng và tạo ra các mạng xã hội khác để tiến hành
kinh doanh, tránh ảnh hưởng đến tình cảm. Đây là những căn cứ quan
21
trọng, để làm cơ sở nghiên cứu cho trường hợp về văn hóa đảm bảo sống
của một tộc người cụ thể.
2. Trong đề tài của mình về Văn hóa đảm bảo đời sống, với nội
dung nghiên cứu chính về hoạt động sinh kế cùng những ứng xử văn hóa đi
kèm của người Nùng Cháo ở Nà Lầu, NCS đã dựa trên 2 quan điểm về kinh
tế trọng tình và kinh tế duy lý để chứng minh rằng: luôn có sự tồn tại đan
không quan tâm tới cộng đồng của mình được thực hành xuyên suốt quá
trình sinh sống. Khi nhận thấy những cơ hội sinh kế mới họ đã tính toán
duy lý trong sinh kế: tính toán kinh doanh buôn bán nhỏ, chủ động dịch
chuyển nơi cư trú ra các khu phố giúp thuận lợi hơn cho việc sinh sống,
thích ứng với các hoạt động sinh kế mới. Đồng thời trong việc duy trì, thiết
lập các mối quan hệ cũng thể hiện những tính toán mưu lợi riêng. Tất cả
những điều đó đã giúp cho họ có một cuộc sống đảm bảo như hiện nay.
4. Trong quá trình chuyển đổi sinh kế của người Nùng Cháo ở Nà
Lầu cũng tồn tại những bức xúc, những lo âu toan tính của người dân trong
quá trình chuyển đổi: vấn đề việc làm, vấn đề an sinh xã hội, vấn đề thay
đổi lối sống, mức sống...
5. Bối cảnh thay đổi về kinh tế - xã hội đã khiến họ không thể giữ
nguyên nền kinh tế với các hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính tự
cấp tự túc. Trên cơ sở nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống với các cơ
sở đạo lý của nền kinh tế trọng tình được tồn tại xuyên suốt từ trong xã hội
cổ truyền cho tới bối cảnh hiện nay của người Nùng Cháo ở Nà Lầu, tôi
muốn trao đổi một số suy nghĩ mang tính gợi ý cho các nhà hoạch định
chính sách khi muốn xây dựng phát triển kinh tế ở những vùng biên nơi có
đồng bào dân tộc ít người sinh sống:
23