ÔN TẬP ĐỌC –HIỂU
VĂN BẢN 1: CHIẾC LƯỢC NGÀ – NGUYỄN QUANG SÁNG
Câu 1:
Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:
- Thì má cứ kêu đi
Mẹ nó đâm nổi giận quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:
- Vô ăn cơm!
Anh Sáu vẫn ngồi im,giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng
trong bếp nói vọng ra:
- Cơm chín rồi!
Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:
- Con kêu rồi mà người ta không nghe.”
a. Đoạn truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là người kể? Chọn ngôi kể trên có tác dụng
như thế nào?
b. Vì sao “Anh Sáu vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”?
c. Con bé trong đoạn truyện đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Vì sao có sự vi
phạm đó?
=> Gợi ý:
a. Đoạn truyện kể theo ngôi thứ nhất. Người kể là bác Ba, một nhân vật trong tác phẩm,
là bạn của ông Sáu. Chọn vai kể trên vừa miêu tả sâu sắc tâm lý nhân vật, vừa đảm bảo
sự khách quan trong việc nhận xét, đánh giá tình cảm nhân vật và có tầm bao quát rộng.
b. Ông Sáu ngồi im, giả vờ không nghe thấy con bé gọi vì ông muốn con bé sẽ dùng tiếng
“ba” để gọi ông.
c. Con bé nói trổng như vậy là đã vi phạm phương châm lịch sự. Nó cố tình vi phạm như
vậy vì không muốn dùng từ “ba” để gọi ông Sáu.
Câu 2
Trong bữa cơm đó , anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó . Nó liền lấy
đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra ,cơm văng tung toé cả mâm . Giận
quá và không kịp suy nghĩ , anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên :
- Sao mày cứng đầu quá vậy ,hả ?
Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc , sẽ giẫy ,sẽ đạp đổ cả mâm cơm , hoặc sẽ chạy vụt đi .
- Khi gặp: nó sợ hãi bỏ chạy.
- Những ngày ông Sáu ở nhà: nó tìm mọi cách để không phải gọi ông Sáu là cha.
- Đặc biệt, trong bữa ăn, nó khước từ sự chăm sóc của ông và bỏ sang nhà ngoại.
Câu 3: Trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”, ghi lại cảnh chia tay của cha con ông Sáu,
nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết:
“Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng
2
thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi”.
a. Vì sao khi chứng kiến giây phút này, bà con xung quanh và nhân vật tôi lại xúc động
đến vậy?
b. Người kể chuyện ở đây là ai? Cách chọn vai kể ấy góp phần như thế nào để tạo nên sự
thành công của“Chiếc lược ngà”?
=> Gợi ý:
a. Khi chứng kiến giây phút này, bà con xung quanh và nhân vật tôi xúc động đến vậy,
bởi vì:
- Sự thể hiện của tình cảm cha con ở đây rất tha thiết, mãnh liệt.
- Giây phút hạnh phúc nhất của hai cha con ngắn ngủi xiết bao. Con nhận ba và gọi
tiếng ba cũng chính là lúc ba phải ra đi. Những cố gắng níu kéo ba ở lại của con thật vô
vọng và sẽ không thực hiện được.
b.- Người kể chuyện ở đây là bác Ba. Bác vừa là một người đồng đội, một người bạn thân
thiết của ông Sáu vừa là người chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối.
- Cách chọn vai kể ấy góp phần tạo nên sự thành công của “Chiếc lược ngà” ở những
điểm sau:
+ Làm tăng tính khách quan, chân thực cho câu chuyện bởi người kể chuyện đồng thời
cũng là một người trong cuộc chứng kiến những sự việc xảy ra.
+ Người kể chuyện dễ dàng đan xen vào những bình luận, những cảm xúc, suy nghĩ hết
sức thấu đáo để người đọc có thể hiểu và đồng cảm với câu chuyện.
+ Người kể chuyện có nhiều cơ hội tìm hiểu đi vào thế giới nội tâm nhân vật một cách
cho đất nước của nhà thơ.
2.Nhà thơ Thanh Hải đặt tên cho bài thơ của mình là “Mùa xuân nho nhỏ”. Nhan đề đó
đặc biệt ở chỗ: mùa xuân là một khái niệm trừu tượng,lại được đặt cạnh tính từ “nho
nhỏ”.
Đây chính là sáng tạo của nhà thơ, dù trước đó đã có những bài thơ mang tên mùa xuân
như “Mùa xuân chín”, “Mùa xuân xanh”...
Tên bài thơ thể hiện chủ đề tác phẩm: ước nguyện làm một mùa xuân, sống đẹp, làm mùa
xuân nho nhỏ góp phần vào mùa xuân lớn của dân tộc.
3.a. Đoạn thơ 8 câu thể hiện ý nghĩa hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” trong bài thơ:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
………..
Dù là khi tóc bạc.
b. Viết đoạn văn:
- Trước xúc về mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước, nhà thơ ước nguyện được hòa
4
nhập, được dâng hiến cho cuộc đời chung:
+ Điệp từ “ta” cùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên và các động từ “làm”,”nhập” ở
vai trò vị ngữ thể hiện ước muốn chân thành và tha thiết. Đó là ước nguyện làm “con
chim hót”giữa muôn ngàn tiếng chim;làm “một cành hoa” giữa vườn xuân rực rỡ;
làm “một nốt trầm” giữa bản hòa tấu muôn điệu; làm “một mùa xuân nho nhỏ” để góp
thêm hương sắc cho mùa xuân dân tộc lớn lao.
+ “Mùa xuân nho nhỏ”là một hình ảnh ấn dụ đầy sáng tạo, thể hiện khát vọng được hòa
nhập vào cuộc đời chung, được cống hiến phần tốt đẹp –dù nhỏ bé – của mình cho đất
nước. Đây là lẽ sống đẹp, một quan niệm nhân sinh chân chính.
+ Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cùng số từ “một” thể hiện rõ đức khiêm nhường trong
ước nguyện của nhà thơ.
+ Điệp ngữ “dù là” cùng hình ảnh hoán dụ như là lời khẳng định, lời nhắc nhở dẫu có ở
nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời, của dân tộc. Bài thơ theo thể năm tiếng,
nhạc điệu trong sáng, gần gũi với dân ca. Những hình ảnh đẹp, giản dị,những so sánh và
ẩn dụ sáng tạo đã góp phần diễn tả ước nguyện khiêm nhường mà vô cùng thiêng liêng,
cao đẹp của tác giả.
b. Việc thay thế từ như vậy làm cho các câu trong đoạn được mạch lạc, mà không mắc lỗi
lặp.
2. Các từ lặp lại ở hai khổ thơ là: hoa, con chim. Sự lặp lại của các hình ảnh đó tạo sự đối
ứng chặt chẽ và làm cho các hình ảnh mang ý nghĩa vừa mới mẻ vừa sâu sắc: ước muốn
cống hiến là lẽ tự nhiên của con người sống có mục đích đúng đắn.
Bài tập 3:
Trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, Thanh Hải nguyện làm một con chim, một cành hoa
và một nốt nhạc trầm để kết thành:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
(Trích Ngữ văn 9, tập hai – NXB Giáo dục, 2012)
1. Nhan đề “Mùa xuân nho nhỏ” được cấu tạo bởi những từ loại nào? Việc kết hợp các từ
loại ấy có tác dụng gì?
2. Nốt nhạc trầm trong bài thơ có nét riêng gì? Điều đó góp phần thể hiện ước nguyện
nào của tác giả?
3. Dựa vào khổ thơ trên, hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo cách lập
luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp làm rõ tâm niệm của nhà thơ, trong đó có sử dụng
câu bị động và phép thế (gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế).
=> Gợi ý:
1.- Cấu tạo của nhan đề: một danh từ (“mùa xuân”) kết hợp với một tính từ (“nho nhỏ”)
- Tác dụng: làm cho hình ảnh mùa xuân trở nên có hình khối, hiện hữu.
6
7
đẹp, sống có ích. Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên,của cuộc sống
để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa,một nốt trầm. Còn gì đẹp hơn khi làm một
cành hoa đem sắc hương tô điểm cho mùa xuân đất mẹ!Còn gì vui hơn khi được làm con
chim nhỏ cất tiếng hót rộn rã làm vui cho đời!Các hình ảnh bông hoa, tiếng chim đã xuất
hiện trong cảm xúc của thi nhân về mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, giờ lại được sử dụng
để thể hiện lẽ sống của mình.Một ý nghĩa mới đã mở ra, đó là mong muốn được sống có
ích, sống làm đẹp cho đời là lẽ thường tình. Cái “tôi” của thi nhân trong phần đầu bài thơ
giờ chuyển hoá thành cái “ta”. Có cả cái riêng và chung trong cái “ta” ấy.Với cách sử
dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng,giữa cái riêng và cái
chung.Hình ảnh “nốt trầm” và lặp lại số từ “một” tác giả cho thấy ước muốn tha thiết,
chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt
trầm” nhưng phải là“một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung. Nghĩa là nhà
thơ muốn đem phần nhỏ bé của riêng mình để góp vào công cuộc đổi mới và đi lên của
đất nước. Đọc đoạn thơ, ta xúc động trước ước nguyện của nhà thơ xứ Huế và cũng là
ước nguyện của nhiều người.
- Lẽ sống của Thanh Hải còn được thể hiện trong những vần thơ sâu lắng:
“ Một mùa xuân nhỏ….
Dù là khi tóc bạc.”
Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác,tinh tế và gợi cảm. Làm cành
hoa,làm con chim,làm nốt trầm và làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho
cuộc đời. “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu,
một khát vọng sống cao đẹp.Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì
tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.
Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành,khiêm nhường, lấy tình
thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất
nước, phục vụ nhân dân. Không khoe khoang, cao điệu mà chỉ lặng lẽ âm thầm dâng
hiến.Ý thơ thể hiện một ước nguyện, một khát vọng, một mục đích sống.Biết lặng lẽ dâng
nho nhỏ”....)
III. Kết bài:
- Có thể nói, những vần thơ trong trẻo , khơi đậm triết lí trong hai khổ thơ trên cũng như
trong cả bài thơ“Mùa xuân nho nhỏ” là lời tâm sự, giãi bày của thi nhân bộc lộ đầy đủ
tình yêu cuộc đời, yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước. Đọc đoạn thơ, ta hiểu được,
thêm yêu và trận trọng hơn lẽ sống mà tác giả để lại, và tự nhủ hãy sống đẹp như nhà thơ
đã sống.
NÓI VỚI CON – Y PHƯƠNG
ĐỀ BÀICảm nhận bài thơ “Nói với con” của Y Phương.
Quê hương là gì hở mẹ?
9
Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã diễn tả tình yêu quê hương của mình bằng những vần thơ thật
giản dị. Quả thật ai cũng có một quê hương nơi đón nhận tiếng khóc chào đời. Viết về
quê hương, mỗi nhà thơ có một cách thể hiện khác nhau. Nếu như với Đỗ Trung Quân là
“chiếc cầu tre nhỏ”, với Tế Hanh là “chiếc buồm vôi”, là “mùi nồng mặn quá” thì nhà thơ
Y Phương lại biểu lộ tình yêu và niềm tự hào về quê hương qua lời tâm sự với con. Bài
thơ “ Nói với con” được in trong “Thơ Việt Nam 1945 – 1985” là tiếng lòng của một tấm
hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng của người cha dành cho con. Qua đó, thể hiện tình
yêu quê hương thắm thiết và diễn tả niềm tự hào về cội nguồn dân tộc.
II. Thân bài.
Những lời thơ giản dị nhưng có sức ám ảnh lạ thường trong tâm trí độc giả. Những điều
người cha nói với con trong bài thơ phải chăng cũng chính là lời căn dặn yêu thương mà
biết bao nhiêu người cha muốn con mình thấu hiểu ? Mỗi lần đọc bài thơ là một lần ta cúi
đầu thành kính trở về với cội nguồn, với những gì thân thương nhất. Mượn lơì cha tâm
tình với con,nhà thơ nhắc nhở về cội nguồn của mỗi con người, qua đó bộc lộ niềm tự
hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ và phẩm chất tốt đẹp của dân tộc mình, quê hương
1. Cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.
nuôi dưỡng, sẻ chia giúp cho con trưởng thành. Đó là:
Người đồng mình yêu lắm, con ơi!
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát.
+ Quê hương hiện ra qua hình ảnh của người đồng mình. Nói với con về những “người
đồng mình”, nhà thơ như đang giới thiệu ân cần đây là những người bản mình, người
vùng mình, người dân quê mình gần gũi, thân thương.
-> Cách gọi như thế, cùng với hô ngữ “con ơi” khiến lời thơ trở nên tha thiết, trìu mến.
+ Người đồng mình là những con người đáng yêu, đáng quý: “Đan lờ cài nan hoa – Vách
nhà ken câu hát”. Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của họ được gợi ra qua những
hình ảnh thật đẹp! Những nan nứa, nan tre dưới bàn tay tài hoa của người quê đ ã trở
thành “nan hoa”. Vách nhà không chỉ ken bằng tre, gỗ mà còn được ken bằng những câu
hát si, hát lượn.
+ Các động từ “cài”, “ken” vừa miêu tả chính xác động tác khéo léo trong lao động vừa
gợi sự gắn bó, quấn quýt của những con người quê hương trong cuộc sống lao động.
-> Cái “yêu lắm” của “người đồng mình” là gì nếu không phải là cốt cách tài hoa, là tinh
thần vui sống? Phải chăng, ẩn chứa bên trong cái dáng vẻ thô mộc là một tâm hồn phong
phú, lãng mạn biết bao?
+ Quê hương với những con người tài hoa, tâm hồn lãng mạn, cũng là quê hương với
thiên nhiên thơ mộng, nghĩa tình:
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng.
Nếu như hình dung về một vùng núi cụ thể, chắc hẳn mỗi người có thể gắn nó với những
11
hình ảnh khác cách nói của Y Phương: là thác lũ, là bạt ngàn cây hay rộn rã tiếng chim
thú hoặc cả những âm thanh “gió gào ngàn, giọng nguồn thét núi”, những bí mật của rừng
thiêng..... Nhưng Y Phương chỉ chọn một hình ảnh thôi, hình ảnh “hoa” để nói về cảnh
quan của rừng. Nhưng hình ảnh ấy có sức gợi rất lớn, gợi về những gì đẹp đẽ và tinh tuý
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chi lớn.
+ Nếu trên kia “ yêu lắm con ơi”– yêu cuộc sống vui tươi bình dị, yêu bản làng thơ mộng,
yêu những tấm lòng chân thật nghĩa tình, thì đến đây người cha nói “thương lắm con ơi”–
bởi sau từ “thương” đó là những những nỗi vất vả, gian khó của con người quê hương ->
Người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà
người đồng mình đã trải qua.
+ Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời
để đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người.
+ Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách
càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.
=> Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề
thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào
tương lai tốt đẹp của dân tộc.
b. Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với
quê hương, cội nguồn.
Sống trên đá không chê đá gập gềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
+ Phép liệt kê với những hỉnh ảnh ẩn dụ “đá gập gềnh”, “thung nghèo đói” -> gợi cuộc
sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc.
+ Vận dụng thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh”, ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ.
-> Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở,
gian nan, đói nghèo của quê hương.
+ Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn
mạnh: người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý
làm đẹp giàu cho quê hương, xây dựng để nâng tầm quê hương.
+ Còn quê hương là điểm tựa tinh thần với phong tục tập quán nâng đỡ những con người
có chí khí và niềm tin.
-> Câu thơ đã khái quát về tinh thần tự tôn dân tộc, về ý thức bảo vệ nguồn cội, bảo tồn
những truyền thống quê hương tốt đẹp của người đồng mình.
- Khép lại đoạn thơ bằng âm hưởng của một lời nhắn nhủ trìu mến với biết bao niềm tin
hi vọng của người cha đặt vào đứa con yêu:
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Không bao giờ nhỏ bé được
+ Ý thơ “Tuy thô sơ da thịt” và “không bao giờ nhỏ bé” được lặp lại với bốn câu thơ
trước đó càng trở nên da diết, khắc sâu trong lòng con về những phẩm chất cao đẹp của
14
“người đồng mình”. hocvanlop9 Nhưng hai tiếng “Lên đường” cho thấy người con đã lớn
khôn và tạm biệt gia đình – quê hương để bước vào một trang đời mới.
+ Trong hành trang của người con mang theo khi “lên đường” có một thứ quí giá hơn mọi
thứ trên đời, đó là ý chí, nghị lực, truyền thống quê hương. Lời dặn của cha thật mộc
mạc, dễ hiểu, thấm thía, ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con sẽ tiếp
tục vững bước trên đường đời, tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương.
+ Hai tiếng “Nghe con” lắng đọng bao cảm xúc, ẩn chứa tình yêu thương vô bờ bến của
cha dành cho con. Câu thơ còn gợi ra một cảnh tượng cảm động đang diễn ra lúc chia li:
cha hiền từ âu yếm nhìn con, xoa đầu con và người con ngoan ngoãn cúi đầu lắng nghe
lời cha dặn.
=> Ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, cha mong con sống có tình
nghĩa với quê hương, phải giữ đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông từ bao
đời để lại. Hơn nữa, con phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của
=> Người cha muốn con hiểu và cảm thông với cuộc sống khó khăn của quê hương,
tự hào về truyền thống quê hương, tự hào về dân tộc để vững bước trên con đường
đời, để tự tin trong cuộc sống.
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!
a, Trong những câu thơ trên có một từ bị chép sai. Đó là từ nào? Hãy chép lại chính xác
câu thơ đó. Việc chép sai từ như vậy ảnh hưởng đến giá trị biểu cảm của câu thơ như thế
nào?
b, Câu thứ sáu trong đoạn thơ trên có từ “tri kỉ”. Một bài thơ đã học trong: chương trình
Ngữ văn lớp 9 cũng có câu thơ dùng từ “tri kỉ”.Đó là câu thơ nào? Thuộc bài nào?
Về ý nghĩa từ “tri kỉ” trong hai câu thơ đó có điểm gì giống, khác nhau?
c, Câu thơ thứ bảy trong đoạn thơ trên là một câu đặc biệt.Hãy viết đoạn văn khoảng 5
câu phân tích nét đặc sắc của câu thơ đó.
Bài tập 3: Viết đoạn văn tổng – phân – hợp trong đó có sử dụng câu hỏi tu từ, phân tích
cái hay được sử dụng trong khổ cuối bài “Đồng chí” của Chính Hữu:
Bài tập 4: Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã viết rất xúc động về người chiến sĩ
trong kháng chiến chống Pháp:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
16
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
một tiếng gọi tha thiết; vừa tạo thành một nốt nhấn, lắng lại, như khẳng định về một tình
cảm rất đỗi thiêng liêng.
- Bản lề gắn kết đoạn đầu và đoạn thứ hai của bài thơ: sáu câu thơ trên nói lên cơ sở hình
thành tình đồng chí; mười câu dưới biểu hiện cụ thể và cảm động tình đồng chí.
- Hai tiếng “đồng chí” giản dị, đẹp đẽ, là điểm hội tu, kết tinh của bao tình cảm đẹp: tình
giai cấp, tình bạn, tình người.
*Về hình thức: không quy định cụ thể, nên có thể tự lựa chọn cấu trúc đoạn cho phù hợp,
giới hạn 5 câu.
“hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
Bài tập 3:
* Về nội dung, cần chỉ ra được:
- Đêm khuya, nơi rừng hoang, dưới làn sương muối, những người lính đứng cạnh bên
nhau phục kích chờ giặc. Nổi bật trên cảnh rừng đêm giá rét là ba hình ảnh gắn kết: khẩu
súng – vầng trăng – người lính. Sức mạnh của tình đồng chí đã giúp họ vượt lên những
khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Trong những đêm phục kích chờ
giặc, họ đã phát hiện ra hình ảnh”Đầu súng trăng treo”. Hình ảnh rất thực và lãng mạn
mang ý nghĩa biểu tượng gợi nhiều liên tưởng phong phú: súng và trăng là gần và xa, là
thực tại và mơ mộng; súng là biểu tượng của chiến tranh, trăng là biểu tượng của hòa
bình; chất chiến đấu và chất trữ tình; chiến sĩ và thi sĩ... Hai hình ảnh tưởng như đối lập
song lại bổ sung, hài hòa với nhau làm đẹp thêm cuộc đời người lính cách mạng. Các anh
chắc tay súng để bảo vệ vầng trăng hòa bình. Hình ảnh thơ thật đẹp và ý nghĩa biết bao!
Có thể nói, đây là một sự phát hiện, một sáng tạo bất ngờ của tác giả, góp phần nâng cao
giá trị bài thơ và trở thành nhan đề cho cả tập thơ.
* Về hình thức: trình bày đoạn văn theo cách tổng – phân –hợp, không giới hạn số câu và
có sử dụng câu hỏi tu từ.
Bài tập 4:
* Về nội dung, cần chỉ ra được:
- Từ “mặc kệ”: thái độ dứt khoát ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng,mục đích đã chọn lựa. Song
dù dứt khoát thì vẫn nặng lòng với quê hương.
tả được tâm lí của nhân vật với những biến chuyển khá phức tạp. Nhờ thế, hình tượng
người nông dân với sự biến chuyển mạnh mẽ về tư tưởng, tình cảm đã được miêu tả chân
thực và sinh động.
Bài tập 2: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Bác Thứ chưa nghe thủng câu hỏi ra sao, ông lão đã lật đật bỏ lên nhà trên:
- Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính.....
cải chính cái tên làng chợ Dầu chúng em Việt gian ấy mà. Ra lao! Láo hết, chẳng có gì
sất. Toàn là sai mục đích cả!”
a. Cùng nói với ông chủ nhà, vậy mà ông Hai vừa mới xưng “tôi” rồi ngay sau đó lại
19
xưng “em”. Vì sao vậy?
b. Nói “Làng Chợ Dầu chúng em Việt gian” là dùng cách nói nào?
c. Trong câu nói, ông Hai đã dùng sai một từ, đó là từ nào?Lẽ ra phải nói thế nào mới
đúng?
=> Gợi ý:
a. Cùng nói với ông chủ nhà nhưng ông Hai vừa xưng “tôi” đã lại xưng “em”, từ cách
xưng hô ngang hàng chuyển sang cách xưng hô của bề dưới với bề trên. Nhưng xưng
“em” với người nói chuyện cũng là thói quen thể hiện sự tôn trọng của người nông dân
Việt Nam ở làng quê trước đây. Mặt khác,thay đổi cách xưng hô như vậy cũng cho thấy
tâm trạng ông Hai không ổn định,ông quá vui mừng đến không làm chủ được mình, chỉ
thích khoe.
b. Nói “Làng Chợ Dầu chúng em Việt gian” là cách nói hoán dụ- lấy làng để chỉ những
người dân Chợ Dầu.
c. Trong câu nói, ông Hai dùng sai từ “mục đích”, lẽ ra phải nói “mục kích” nghĩa là nhìn
thấy, chứng kiến.
LẶNG LẼ SA PA – NGUYỄN THÀNH LONG
Bài 1: Vẻ đẹp thiên nhiên Sa Pa
-Trước hết,”Lặng lẽ Sa Pa” là một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, huyền ảo, độc đáo
đó ( Yêu cầu: trình bày thành một đoạn văn)
b. Tình huống cơ bản của truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa" là gì? Tác giả tạo ra tình huống
truyện đó nhằm mục đích gì?
c. Hãy kể tên hai tác phẩm đã học viết về "đề tài lao động sản xuất" ( Yêu cầu: ghi rõ tên
tác giả)
=> Gợi ý:
a. Đoạn đối thoại đó là lời của nhân vật anh thanh niên nói với họa sĩ.
Trình bày những hiểu biết của em về nhân vật anh thanh niên trong một đoạn văn:
- Đó là người yêu đời.
- Đó là người yêu nghề và có trách nhiệm với công việc.
- Là người cởi mở, khiêm tốn.
b. Tình huống của truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”: cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ, cô
kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh cao Yên Sơn.
Tác giả tạo ra tình huống đó nhằm lấy cớ cho câu chuyện phát triển và cũng để làm rõ ý
nghĩa : những người tốt luôn có xung quanh ta.
c. Những tác phẩm viết về đề tài lao động sản xuất, vì dụ:
+ Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận).
+ Truyện ngắn “Mùa lạc” ( Nguyễn Khải).
Bài tập 3: Cho đoạn văn sau:
21
(...)“Gian khổ nhất là là lần ghi vào báo về lúc một giờ sáng. Rét bác ạ. Ở đây có cả
mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay
ra tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vấn thấy là không đủ sáng.
Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô
tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: Nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống
những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung.” (...)
(Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long – Sách Ngữ văn 9, tập 1)
a. Đoạn văn trên là lời của nhân vật nào, được nói ra trong hoàn cảnh nào? Những lời tâm
động: Nuôi gà, trồng hoa, tự học và đọc sách ngoài giờ làm việc.
c. Chép một trong hai câu có sử dụng phép nhân hóa trong đoạn văn:
- “ Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào
ào xô tới”.
- Hoặc là câu “Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: Nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà
gió thì giống như những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung”.
Bài tập 4: Đọc Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, hẳn các em còn nhớ:
Khi được mời lên nhà anh thanh niên, họa sĩ đã nghĩ thầm: "Khách tới bất ngờ, chắc cu
cậu chưa kịp quét tước dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn".
Nhưng rồi, sau những câu chuyện anh kể, những việc anh làm, họa sĩ lại nghĩ: "Chao ôi,
bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành
sáng tác còn là một chặng đường dài. Mặc dù vậy, ông đã chấp nhận một sự thử thách".
a. Em hiểu cách nhìn nhận, đánh giá của họa sĩ về nhân vật anh thanh niên đã thay đổi
như thế nào? Vì sao có sự thay đổi đó? Ý nghĩ sự thay đổi đó là gì?
b. Bên cạnh nhân vật họa sĩ, còn nhiều nhân vật phụ khác cũng đã góp phần làm rõ tính
cách nhân vật anh thanh niên. Đó là những nhân vật nào?
c. Viết đoạn văn phân tích nhân vật họa sĩ trong tác phẩm. Trong đoạn có sử dụng khởi
ngữ và thành phần phụ chú. ( Yêu cầu: gạch chân dưới các thành phần đó)
=> Gợi ý:
a.
- Cách nhìn nhận, đánh giá của họa sĩ với nhân vật anh thanh niên đã thay đổi; từ chưa
hiểu đến hiểu, cảm phục.
- Sự thay đổi đó có được là do những điều họa sĩ chứng kiến,nghe, thấy, và cảm nhận từ
anh thanh niên.
b. Bên cạnh nhân vật anh thanh niên, trong truyện còn có những nhân vật phụ khác góp
phần làm rõ tính cách nhân vật anh thanh niên. Đó là bác lái xe, cô kĩ sư trẻ, ông họa sĩ,
ông kĩ sư dưới vườn rau Sa Pa và anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét.
c. Viết đoạn văn:
* Về nội dung: phân tích nhân vật họa sĩ với những biểu hiện sau:
- Tâm hồn nhạy cảm, mẫn cảm : Ông hoạ sĩ trong câu chuyện với người thanh niên mặc
=> Gợi ý:
a. Tình huống của truyện “Lặng lẽ Sa Pa” là cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa anh thanh niên
làm công tác khí tượng trên đỉnh cao Yên Sơn với ông họa sĩ già và cô kĩ sư mới ra
trường.
b.Chủ đề của câu chuyện được thể hiện trong câu: ...Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã
nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất
nước.
24
c. Viết đoạn văn:
* Hình thức: độ dài khoảng 10 đến 12 câu, trình bày theo cách diễn dịch.
* Ngữ pháp: có câu dùng thành phần phụ chú. Gạch chân.
* Nội dung: làm rõ những đổi thay trong suy nghĩ của ông họa sĩ về nhân vật anh thanh
niên, từ đó hiểu hơn về nhân vật chính.
- Suy nghĩ của ông họa sĩ khi thấy anh thanh niên lên nhà trước khách “Khách tới bất
ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét tước dọn dẹp...” Tức là sống luộm thuộm, cẩu thả.
- Nhưng rồi qua lời anh kể, những điều ông chứng kiến, suy ngẫm, ông thấy người con
trai ấy đáng yêu thật nhưng làm ông nhọc quá, ông hiểu gặp con người như anh là một cơ
hội hạn hữu cho sáng tác, ông muốn thể hiện anh trong sáng tác của mình, làm thế nào
đặt được tấm lòng mình vào trong tác phẩm...cho người xem hiểu được anh ta mà không
phải như một ngôi sao xa...
- Như vậy, vẻ đẹp tâm hồn của anh thanh niên đã khơi dậy trong họa sĩ cảm hứng sáng
tạo, tác động đến tâm hồn họa sĩ...
- Qua sự thay đổi thái độ đánh giá của họa sĩ với anh thanh niên, nhân vật được hoàn
chỉnh và vẻ đẹp của nhân vật cũng tự nhiên gợi xúc cảm cho người đọc.
ÁNH TRĂNG – NGUYỄN DUY
Bài tập 1 : Kết thúc một bài thơ có câu:
a. Hãy chép lại chính xác những câu thơ nối tiếp để hoàn chỉnh khổ thơ.
b. Khổ thơ em vừa chép nằm trong bài thơ nào? Tác giả là ai?