Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở - Pdf 41

Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở

Lời cảm ơn
Trƣớc hết, em xin gửi lời tri ân sâu sắc tới T.S. Phan Thị Hồng Xuân,
ngƣời thầy đã tận tình giúp đỡ, định hƣớng cho em trong suốt thời gian
nghiên cứu luận văn này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Trƣờng, trong
Khoa Ngữ văn và tổ Phƣơng pháp đã mang đến cho chúng em những giờ học
bổ ích. Chính sự động viên, giúp đỡ của thầy cô là động lực để em phấn đấu,
tập làm nghiên cứu khoa học.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu đã luôn vững tay chèo để đƣa
những thế hệ học viên tới đƣợc bến bờ tri thức.
Lời cuối, em muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn là chỗ
dựa để em cố gắng vƣơn lên trong học tập, nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả

Lê Thị Thu Hƣơng


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 3
4. Giả thuyết khoa học.................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4

2.2.4. Dạy học theo dự án........................................................................... 102
2.3. Các phƣơng pháp tạo hứng thú trên bình diện phƣơng tiện dạy học..... 105
2.3.1. Các phương tiện dạy học truyền thống ............................................. 105
2.3.2. Các phương tiện dạy học hiện đại .................................................... 108
2.4. Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện môi trƣờng dạy học ........... 109
2.4.1. Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò ......................................... 110
2.4.2. Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa trò với trò .......................................... 112
2.5. Các biện pháp tạo hứng thú bằng cách đổi mới cách kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh ....................................................................... 113
Tiểu kết chương 2 ....................................................................................... 117
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM ............................................................... 118
3.1. Mục đích thực nghiệm ......................................................................... 118
3.2. Nội dung thực nghiệm ......................................................................... 118
3.3. Kết quả thực nghiệm ........................................................................... 132
KẾT LUẬN ............................................................................................... 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 135


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở

CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

HS

:

Học sinh

CT


:

Phƣơng tiện dạy học


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Mấy năm trở lại đây các nhà giáo dục đã nói nhiều đến tình trạng
dạy học Ngữ văn của học sinh phổ thông. Đã có nhiều hội thảo, đề xuất nhằm
cải thiện tình hình. Nhƣng kết quả vẫn không mấy khả quan. Học sinh chán
và không mặn mà với môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói
riêng. Việc học Ngữ văn của nhiều em là để đối phó với các bài kiểm tra trên
lớp và qua các kì thi. Nói nhƣ Tiến sĩ Chu Văn Sơn: chƣa bao giờ giáo viên
đƣợc trang bị nhiều phƣơng tiện, kĩ thuật dạy học nhƣ hiện nay nhƣng học
sinh lại chán ghét học văn nhƣ bây giờ... Đặc biệt là với phân môn Tiếng Việt,
một phân môn đƣợc coi là vừa “khô” vừa “khó”. Đó là một điều thật đáng
buồn. Để biến những giờ Tiếng Việt thành những giờ học hấp dẫn, lôi cuốn,
việc áp dụng các biện pháp nhằm tạo hứng thú cho họcsinh là rất quan
trọng, góp phần khơi gợi niềm đam mê học tập ở các em.
1.2. Thực tế đi dạy ở phổ thông cho thấy: việc dạy và học Ngữ văn ở
Trung học cơ sở (THCS) còn nặng về truyền thụ tri thức, bỏ qua nhiều điều
bổ ích, thú vị. Đây lại là cấp học có tính chất nối giữa bậc Tiểu học với Trung
học phổ thông (THPT) – nội dung kiến thức phần Tiếng Việt còn nhiều. Bản
thân ngôn ngữ vốn rất phong phú, sinh độnggiống nhƣ cuộc sống vậy, giờ học
mất đi phần máu thịt chỉ còn lại phần “xƣơng xẩu” sẽ rất nhàm chán, đơn
điệu. Tiếng Việt của chúng ta giàu đẹp là thế lại không đƣợc học sinh chú ý,

ngƣời yêu thích một hoạt động nào đó sẽ có những hoạt động tích cực hƣớng
vào hoạt động ấy.
Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết khẳng định: hứng thú của con
ngƣời không phải là thuộc tính bẩm sinh, tự nhiên mà có. Đó là kết quả của sự
nỗ lực cá nhân, của quá trình học tập và giáo dục… Hứng thú học tập chỉ là
một biểu hiện nhỏ trong hứng thú nhận thức. Theo B.M.Cheplop,
B.G.Anannhiep, A.N.Leeontiep… hứng thú học tập mang những đặc trƣng:
sự lựa chọn, tính thống nhất giữa chủ quan - khách quan, sự kết hợp giữa tình
cảm - lí trí… Chúng ta không thể phủ nhận rằng trong học tập cũng nhƣ trong
công việc, có hứng thú, say mê sẽ có hiệu quả cao.
2


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Ở nƣớc ta, những năm gần đây việc nghiên cứu hứng thú và thái độ của
ngƣời học đã và đang đƣợc quan tâm. Việc xuất hiện ngày càng nhiều các
luận văn, luận án, bài báo… ở các môn học cho thấy sự ý thức ngày càng rõ
vai trò của hứng thú trong việc dạy và học. Có thể kể đến một số công trình
nhƣ sau: Bồi dưỡng hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Việt (Lê Xuân
Thại), Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh để nâng cao chất
lượng dạy học ở tiểu học (Lê Phƣơng Nga, Trần Ngọc Lan), Hứng thú và
hứng thú học tập ở người học (Nguyễn Thị Thu Cúc), Một số biện pháp nhằm
phát triển hứng thú cho học sinh THPT trong giờ dạy học văn (Đỗ Tiến Sĩ)…
Đặc biệt là luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lan: “Các biện pháp tạo hứng
thú nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” là một công trình
nghiên cứu tiêu biểu về đề tài hứng thú, góp phần làm phong phú tính sinh
động của việc dạy và học Tiếng Việt… Phần lớn các bài viết đều đề cập tới
vấn đề: làm thế nào để học sinh thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của tiếng Việt; sự
kì diệu, lí thú của tiếng Việt trong việc biểu đạt tình cảm… Các tác giả chƣa

các giờ học Tiếng Việt ở trên lớp, không tính đến các biện pháp tạo hứng thú
ngoài lớp học nhƣ gia đình, xã hội…
7.Các phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp tổng hợp: đƣợc thực hiện thông qua quá trình đọc, tìm
tài liệu đặc biệt là những tài liệu về hứng thú học tập, ngữ liệu thú vị…Sau đó
tổng hợp lại, đánh giá.
- Phƣơng pháp quan sát: thông qua các tiết học, quan sát biểu hiện bên
ngoài của học sinh khi có hứng thú trong giờ học tiếng Việt nhƣ hào hứng
phát biểu, chờ đợi tới tiết học…
- Phƣơng pháp thực nghiệm là phƣơng pháp thủ công trong quá trình
thực hiện đề tài: đƣa các biện pháp tạo hứng thú vào một số giờ Tiếng Việt ở
các lớp THCS; Tiến hành kiểm tra kết quả học tập của HS trƣớc và sau khi
thực nghiệm.

4


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
8. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan tới đề tài
- Về thực tiễn: xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập
cho học sinh THCS, trong đó tập trung nghiên cứu nhóm biện pháp tạo hứng
thú trên bình diện nội dung dạy học. Nhờ những biện pháp này, học sinh hứng
thú hơn trong việc học góp phần nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học
Tiếng Việt.
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn đƣợc chia làm 3 phần:
- Phần mở đầu: nêu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên
cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tƣợng, phạm vi nghiên

thú là gì? Đó có phải là sự thích thú của cá nhân khi làm một việc gì đó?
Nhóm tác giả Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy thì cho
rằng: khi ta có hứng thú với một cái gì đó thì cái đó bao giờ cũng đƣợc ta ý
thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện
một tình cảm đặc biệt đối với nó. Do đó hứng thú hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta
về phía đối tƣợng của nó tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận, đi sâu vào nó.
Với tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá
nhân với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa với cuộc sống, vừa có khả năng
đem lại khoái cảm cho cá nhân trong qua trình hoạt động.”
Hiện nay trong tâm lí học ngƣời ta đều thống nhất với định nghĩa về
“hứng thú” của A.G.Côvaliốp: “Hứng thú là thái độ tích cực của chủ thể
hướng đến đối tượng với cảm xúc đặc biệt thể hiện mong muốn tìm hiểu,
khám phá và hành động một cách có kết quả tốt nhất.”

6


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Dựa trên cơ sở đó ta thấy hứng thú đƣợc hình thành từ yếu tố bên ngoài,
từ sự hấp dẫn của đối tƣợng làm nảy sinh cảm xúc tích cực của chủ thể. Từ đó
mà chủ thể đi sâu nhận thức đối tƣợng, hiểu rõ ý nghĩa của đối tƣợng mà hình
thành hứng thú. Cũng theo Côvaliốp: “Hứng thú có thể đƣợc hình thành một
cách tự phát vì không có ý thức, do sự hấp dẫn về tình cảm sau đó dẫn đến sự
nhận thức ý nghĩa của đối tƣợng. Quá trình hình thành hứng thú có thể đi
ngƣợc lại: từ chỗ ý thức về ý nghĩa đối tƣợng đến chỗ bị đối tƣợng hấp dẫn.”
Hứng thú đa dạng nhƣ thế giới hiện thực khách quan nhƣng chỉ có cái
cần thiết, cái ý nghĩa mới lôi cuốn, hấp dẫn đối tƣợng. Điều đó dẫn tới con
đƣờng hình thành và phát triển hứng thú cũng khác nhau.
Hứng thú học tập là một loại hứng thú đặc trƣng làm nên tính tích cực

N.G.Marôzôva: Hứng thú học tập chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1:
Thái độ tích cực đƣợc duy trì, củng cố, khả năng tìm tòi độc lập của các
em thƣờng xuyên đƣợc khơi dậy khi đó thái độ hứng thú trở thành xu
hƣớng cá nhân.

Giai đoạn 2:
Những rung động định kì đƣợc lặp đi, lặp lại nhiều lần và khái quát bền
vững trở thành thái độ nhận thức cảm xúc tích cực với đối tƣợng tức là
hứng thú đƣợc duy trì.

Giai đoạn 3:
Thái độ nhận thức có cảm xúc với đối tƣợng đƣợc xuất hiện dƣới dạng
những rung động. Từ đó hứng thú đƣợc hình thành.
Sơ đồ các giai đoạn hình thành hứng thú.
Dựa trên cơ sở đó hứng thú có thể chia thành hai giai đoạn chính:
- Giai đoạn tự phát: là giai đoạn xuất phát từ tình cảm đến nhận thức rồi
mới đến hứng thú.

8


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Giai đoạn này mang tính cảm tính. Ban đầu là sự tò mò, muốn biết, là
sự hấp dẫn bên ngoài của bài học. Ví nhƣ các em đã đƣợc nghe thầy cô, bố
mẹ, anh chị hoặc bạn bè… nói qua, nhắc đến trong cuộc trò chuyện, giờ muốn
biết cụ thể, chính xác… Niềm hứng thú của các em ở giai đoạn này còn mang
tính nhất thời, chƣa ổn định, sẽ dễ bị mất đi nếu các em không còn thấy thú vị
nữa. Mà cảm xúc ở học sinh THCS lại là “sáng nắng chiều mƣa”. Đến đây

tích cực, chủ động, sáng tạo. Điều đó cho thấy vai trò và tầm quan trọng của
chủ thể học tập. Hứng thú lại là sự tổng hợp của các thuộc tính tâm lí, cảm
xúc, lí trí… Vì thế ta cần xét đến những thuộc tính trên của học sinh THCS.
1.1.2.1. Đặc điểm của quá trình nhận thức
Về khả năng tri giác: với học sinh THCS các em thƣờng tri giác với
những gì mình yêu thích, phù hợp với nhu cầu, sở thích cá nhân. Bài học lí
thú, bổ ích, hấp dẫn sẽ làm các em say mê. Thậm chí chỉ thích học môn học
đó mà không thích những môn học khác.
Về khả năng chú ý: học sinh ở THCS đã biết điều khiển sự tập trung
của lí trí. Nếu có đam mê các em có thể ngồi hàng giờ để làm cho bằng đƣợc
sở thích mình theo đuổi. Nếu chƣa hoàn thiện có thể bỏ cả ăn cơm, thức
khuya hoặc hẹn đồng hồ dậy sớm... Ngƣời giáo viên biết cách khơi gợi sẽ
đánh thức ở các em lòng ham hiểu biết, ý chí vƣơn lên trong học tập và cuộc
sống để theo đuổi những điều mình yêu thích. Các em ở lứa tuổi này đã có lập
trƣờng, quan điểm riêng, sự kiên trì phấn đấu đƣợc thể hiện khá rõ thông qua
kết quả học tập. Thái độ ấy đƣợc duy trì trong một quá trình dài nếu giáo viên
biết tạo hứng thú cho các em, bằng không sẽ làm các em quay lƣng lại với
môn học hoặc tỏ ra bất cần, buông xuôi.
Về khả năng tư duy: học sinh THCS đã biết tƣ duy một cách khái quát,
có khả năng tổng hợp, ghi nhớ những kiến thức phức tạp cũng nhƣ biết liên
hệ, so sánh, đối chiếu giữa đối tƣợng này với đối tƣợng khác. Ở giai đoạn này
ngƣời giáo viên có thể áp dụng nhiều kĩ thuật dạy học, cho các em làm việc
độc lập hoặc theo nhóm. Dạy Tiếng Việt biết lồng ghép với những câu
chuyện, những giai thoại sẽ kích thích ở các em trí tƣởng tƣợng, niềm yêu
thích với những môn học khác nhƣ tìm hiểu về lịch sử, địa lí, thiên văn…
Những trò chơi học tập không chỉ đem lại cho các em tiếng cƣời sảng khoái
10


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu



Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
hiểu biết không chỉ là kiến thức sách vở mà còn là sự am hiểu về các lĩnh vực
của cuộc sống.
Về hứng thú học tập: Mỗi thầy dạy lại có cách trình bày, sử dụng các
hình thức dạy học khác nhau hay phƣơng pháp độc đáo riêng của mình. Điều
đó ảnh hƣởng tới sự lĩnh hội, phát triển trí tuệ, nhân cách của các em. Thái độ
say sƣa, hứng thú học tập chịu ảnh hƣởng rất lớn từ bài giảng và nhân cách
ngƣời thầy.
Hoạt động học tập ở lứa tuổi này đƣợc xây dựng một cách cơ bản so
với học sinh tiểu học. Ở thời kì đầu của lứa tuổi học sinh THCS, các em chƣa
có kĩ năng cơ bản để tổ chức tự học. Với các em hoạt động học tập dần dần
đƣợc xem nhƣ hoạt động hƣớng vào sự thỏa mãn những nhu cầu nhận thức.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy động cơ học tập của học sinh
THCS có một cấu trúc phức tạp. Nhiều khi các em tỏ ra bàng quan, “phớt
đời” với điểm số, với học tập. Có tình trạng trên là do các nguyên nhân sau:
do xung đột với giáo viên, thất bại trong học tập, môn học chƣa đem lại lại sự
thú vị, hấp dẫn…
Để tạo ra hứng thú học tập cho các em cần:
- Tài liệu học tập phải gắn với cuộc sống của các em.
- Nội dung học tập phải súc tích, khoa học.
- Biết cách gây cho các em hứng thú và có nhu cầu tìm hiểu nó.
Biện pháp tốt nhất để tổ chức sự chú ý của học sinh THCS là tổ chức
các hoạt động sao cho các em ít có thời gian nhàn rỗi hoặc bị hút vào đối
tƣợng nào đó trong thời gian lâu dài. Những công việc hứng thú, giờ học
hứng thú có tác dụng tạo ra sự say mê, tập trung chú ý của các em. Nhƣng cần
lƣu ý không phải bao giờ các em cũng thích cái vui, cái dễ hiểu mà chính
những giờ học có nội dung, có sự chuyển tiếp từ hình thức làm việc này đến

Cũng thật dễ hiểu khi nhà văn Nga Raxun Gamzatốp đã mất rất nhiều
thời gian đi tìm tiếng chửi hay nhất để đƣa vào tác phẩm của mình. Theo lời
ngƣời ta mách bảo, ông tìm đến một bà già có tiếng là chua ngoa để xin một
vài câu chửi. Bà già ấy đã tuôn ra cho ông một tràng quát tháo và đuổi ông đi
vì ông dám bảo bà ta là chua ngoa, đanh đá. Nghe một thôi một hồi,
Gamzatốp đã từ biệt và cảm ơn bà già tốt bụng.
13


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Nói một cách gần gũi, giản đơn hơn khi việc sử dụng tiếng Việt có tác
động trực tiếp tới cuộc sống của chúng ta. Học sinh làm bài mà không đủ chữ
để viết cho thành ý, nhà lí luận muốn bày tỏ quan điểm của mình mà không có
ngôn ngữ thích hợp để diễn đạt thì sao làm đƣợc? Do đó dù làm bất cứ nghề
gì, việc gì cũng cần một vốn ngôn ngữ nhất định. Ngôn ngữ là một chuỗi âm
thanh nhƣng nhiều khi là những hàng chữ, những trang sách không cần phát
ra âm mà có thể làm cho những ngƣời không chung tiếng nói có thể hiểu nhau
bằng chữ, bằng lời. Muốn có đƣợc vốn ngôn ngữ đó ta phải khổ công tích lũy,
trau dồi học tập.
Chính vì lẽ đó mà tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng và xuất hiện ở
mọi cấp học, bậc học.
1.1.3.2. Sự thú vị của tiếng Việt
Chúng ta có quyền tự hào khẳng định tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp và
hấp dẫn. Với hệ thống nguyên âm và phụ âm, tiếng Việt làm nên nét sinh
động mà không phải bất cứ ngôn ngữ nào cũng có. Cùng với đó là sự xuất
hiện của hệ thống các thanh điệu tạo cho ngôn ngữ mang âm điệu lên bổng
xuống trầm. Và sự xuất hiện của những vần thơ khi thì mênh mông, dàn trải
lúc lại khúc khuỷu, gập ghềnh: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút
cồn mây súng ngửi trời – Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống – Nhà ai

cõi trần mà lên cõi tiên và ngậm ngùi đọc:
“Một mảnh hương hồn tếch ngọc lâu!”
Vị phú ông đứng cạnh lắc đầu:
- Ông nói thế thì xa xôi quá. Sao không nghĩ đến điều thiết thực hơn.
Nàng đã đi xa, thế là hết. Phải nói nhƣ tôi thế này:
“Kho vàng đụn bạc biết tìm đâu!”
Nhà sƣ nghe hai câu cũng tỏ ra không vừa ý:
- Nhƣ thế sao gọi là chí tình. Ngƣời đã mất, các ông chỉ biết nghĩ đến
của cải, đến tài năng chứ có nghĩ gì đến nàng đâu. Theo tôi, giờ đây ta phải
cầu cho nàng đƣợc siêu sinh tịnh độ mới là đúng. Tôi xin phép đọc:
“A di đà Phật về Tây Trúc!”

15


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Đến lƣợt bác đồ tể giẫm chân, trách ba ngƣời trên:
- Các ông nói toàn những chuyện đâu đâu cả. Tôi chẳng thấy các ông tỏ
đƣợc nỗi niềm đau xót của bản thân các ông trƣớc sự thiệt thòi này. Thôi! Để
tôi làm câu kết cho các ông xem:
“Rạch phổi moi gan, ruột tớ nhầu!”
Nhƣ vậy, văn tức là ngƣời. Nhà thơ, nhà giàu, nhà sƣ và nhà bán thịt
quen với công việc, sở trƣờng của mình nên dùng ngôn ngữ, chất liệu mà họ
quen dùng. Vì thế chúng ta cần phải chau truốt về mặt ngôn từ.
Xã hội xƣa rất coi trọng chữ nghĩa, văn chƣơng đặc biệt ở tài ăn nói ứng
biến. Chuyện kể rằng thầy giáo Đàm Thận Huy một hôm trời mƣa to, buổi học
đã kết thúc mà học sinh vẫn chƣa về đƣợc. Thầy bèn đọc một vế câu đối:
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
(Nghĩa là: Mƣa không có then, có khóa mà gì mà có thể giữ khách lại

Ông bà ta thƣờng nói: “Người thanh tiếng nói cũng thanh” quả không sai.
Điều này cũng lí giải vì sao các nhà văn, nhà thơ luôn nhọc công tìm
kiếm những từ ngữ “đắt” đƣợc coi là “nhãn tự” để biểu đạt ý mình.
Nhà văn Tô Hoài kể: có lần ông muốn tả sự mệt nhọc của con ngƣời
làm việc dƣới trời nóng bức, mồ hôi tuôn ra. Có nhiều từ ngữ nói về chuyện
đổ mồ hôi này: nào là mồ hôi nhễ nhại, mồ hôi nhƣ tắm, mồ hôi ƣớt đầm…
Nhƣng có một buổi nhà văn chứng kiến một đoàn xã viên nông nghiệp kéo
nhau về nghỉ trong trụ sở hợp tác xã, ngƣời nào ngƣời nấy đều kêu mệt với
cái nắng chang chang. Một bà nông dân thốt ra một câu: Nóng gì mà nóng
khiếp thế, mồ hôi mẹ mồ hôi con đâu tuôn ra lắm thế này! Nhà văn sung
sƣớng nhƣ bắt đƣợc vàng.
Vì thế nhà thơ Nguyễn Bính đã rất cám ơn nhà xuất bản (chẳng biết vô
tình hay hữu ý) đã thay đổi một chữ trong câu thơ của ông:
Chẳng là vào năm 1956, ông viết bài “Trưa hè” ca ngợi sự hi sinh của
ngƣời mẹ miền Nam đã dũng cảm lấy thân mình bảo vệ đứa con thơ. Trong
đó có đoạn:
“Lao trong lửa đạn bời bời
Vợ tôi ôm chặt con tôi vào lòng
Thương con lại nhớ lời chồng
Lấy thân làm bức thành đồng cho con.”

17


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Khi in ra, nhà xuất bản đã thay chữ “con” ở câu thơ cuối thành chữ “che”:
“Lấy thân làm bức thành đồng che con”
Chỉ thay đổi một chữ mà thay đổi đƣợc cả ý tứ, tinh thần và chất thơ.
“Cho con”, chỉ là cách nói chung chung. “Che con” là cả một hình ảnh, một

không thấy lòng rung động nhè nhẹ nhƣ những ngƣời đã sống ở đất Bắc, mà
hễ lòng chƣa rung động mà chƣa gọi là hiểu hết đƣợc cái hay của thơ.
Câu:
Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya.
của Xuân Diệu, về nghệ thuật xét ra chẳng có gì là đặc biệt cả, nhƣng mỗi lần
ngâm lên, tôi thấy thoang thoảng hoa bƣởi ở đâu đây mà nhớ những đêm xuân
ở miền Bắc.
Bài Tràng giang của Huy Cận, từ xƣa tôi vẫn cho là hay, nhƣng phải
đợi tới lúc tôi nằm trong một chiếc ghe bầu, lênh đênh trên những sông Tiền
Giang, Hậu Giang, nhất là trong mùa nƣớc đổ, mới thấm đƣợc hết cái buồn
man mác của nó. Và ngày nay, mỗi lần qua đò Mĩ Thuận hay Vàm Cống,
trông dòng sông đầy, băng băng chảy cuốn theo những mảng bèo, tôi đều bất
giác ngâm lên những câu:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”
Sự thú vị của tiếng Việt thể hiện ở sự sâu sắc, ý tứ, đâu dễ gì hiểu đƣợc
trong một sớm một chiều?
Không chỉ có vậy tiếng Việt còn mang tính đa nghĩa, biểu hiện ở tính
đồng âm, nhiều nghĩa, tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Đức Nguyễn
(tạp chí ngôn ngữ số 1, năm 2001) vẫn là con số chín nhƣng lại đƣợc đồng âm
hóa giữa số từ và tính từ: Trùng trục như con chó thui – Chín mắt, chín mũi,
chín đuôi, chín đầu.
Nhƣ vậy từ chín là một từ đa nghĩa vì nó biểu hiện những khái niệm
khác nhau:

19



chúng ta cần phải căn cứ theo quy luật sau:
20


Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Hai là, quy luật chuyển nghĩa của từ. Viện sĩ Nga Ju.S.Stepanov đã chỉ
ra rằng: “Các nhà thơ, nhà văn sử dụng từ chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ
(bao gồm cả hoán dụ) theo những hƣớng khác nhau. Từ thiên nhiên đến thế
giới nội tâm của con ngƣời, từ thân thể đến những phẩm chất tinh thần, từ tinh
thần đến thể xác, từ một hiện tƣợng của thiên nhiên đến những hiện tƣợng
khác… Nhƣng hƣớng chủ yếu của sự chuyển nghĩa có tính ẩn dụ trong ngôn
ngữ chung là từ chính con ngƣời và từ hiện thực gần gũi nhất đối với con
ngƣời đến toàn bộ thế giới còn lại”.
Dựa vào quy luật này có thể rút ra rằng: trong hai ý nghĩa của một từ đa
nghĩa, nghĩa nào nói về bản thân con ngƣời hoặc nói về hành động, tính
chất… của con ngƣời thì thƣờng là nghĩa có trƣớc, nghĩa gốc, còn nghĩa về
các hiện tƣợng khác lại thƣờng là nghĩa chuyển. Thí dụ nghĩa của từ “reo”
trong câu: “…em bé reo lên…” là nghĩa gốc, còn nghĩa đƣợc dùng trong câu
“Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió” là nghĩa chuyển. Nghĩa của từ “răng”
trong “răng người” là nghĩa gốc, trong răng bừa, răng lược là nghĩa chuyển.
Nhƣ vậy nghĩa của từ nói về bản thân con ngƣời hay về hành động, tính
chất… của con ngƣời, hoặc phạm vi hiện thực gần gũi nhất với con ngƣời thì
thƣờng là nghĩa có trƣớc (nghĩa gốc), còn nghĩa nói về các hiện tƣợng khác
không thuộc con ngƣời hoặc thuộc phạm vi thế giới xa với con ngƣời thì
thƣờng là nghĩa chuyển.
Nhờ sử dụng từ nhiều nghĩa, cách nói ẩn ý, bóng gió… mà mang lại sự
thú vị của tiếng Việt.
Ví nhƣ tiếng cƣời về hai cô gái mất lịch sự đã hiểu sai nghĩa của từ
trong câu chuyện sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status