Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở tiểu học - Pdf 12


1

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trờng Đại học s phạm Hà Nội

Vũ Thị Lan
Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh
Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh
Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao h
nhằm nâng cao hnhằm nâng cao h
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
iệu quả dạy học iệu quả dạy học
iệu quả dạy học tiếng Việt ở Tiểu học
tiếng Việt ở Tiểu họctiếng Việt ở Tiểu học
tiếng Việt ở Tiểu học

Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Phơng Nga
Phản biện 1: PGS.TS. Hà Quang Năng
Viện Ngôn ngữ
Phản biện 2: PGS.TS. Hoàng Hòa Bình
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Phản biện 3: TS. Nguyễn Trọng Hoàn
Bộ Giáo dục và Đào tạo Luận án đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án tiến sĩ
cấp Nhà nớc họp tại: Trờng Đại học S phạm Hà Nội
Vào hồi: 8 giờ 30 ngày 15 tháng 3 năm 2009
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Th viện Quốc gia
- Th viện Trờng Đại học S phạm Hà Nội

3Danh mục những công trình khoa học của tác giả
Danh mục những công trình khoa học của tác giảDanh mục những công trình khoa học của tác giả
Danh mục những công trình khoa học của tác giả


4

mở đầu

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập là nhiệm vụ
chung đặt ra cho các thầy cô giáo, nhà giáo dục ở nớc ta cũng nh mọi
quốc gia trên thế giới.
1.2. Tạo hứng thú học tập cho học sinh Tiểu học có ý nghĩa rất quan
trọng bởi đây là bậc học đầu tiên của cuộc đời học sinh, có vai trò đặt
nền móng cho các bậc học sau này.
1.3. Thực trạng dạy và học tiếng Việt ở trờng Tiểu học hiện nay cha
tạo đợc không khí học tập hào hứng, cha làm cho việc học tiếng Việt của
học sinh trở thành niềm vui, cha thực sự đạt đợc hiệu quả nh mong
muốn, trong khi môn Tiếng Việt là môn học trung tâm ở trờng Tiểu học.
1.4. Hiện nay, ở Việt Nam, cha có công trình nào nghiên cứu chuyên
sâu về vấn đề tạo hứng thú học tập tiếng Việt cho học sinh phổ thông nói
chung, học sinh Tiểu học nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu hứng thú học tập tiếng Việt
2.1. Những tài liệu gián tiếp bàn về hứng thú học tập tiếng Việt
ý tởng tìm tòi các biện pháp dạy học tiếng Việt sao cho hay, cho vui đã
đợc nhiều nhà giáo dục thể hiện qua một số cuốn sách tham khảo mặc dù
sách không bàn đến bất kì một vấn đề lí thuyết nào về dạy học hứng thú. Ví
dụ: Những bài tập tiếng Việt lí thú (Trơng Đức Thành chủ biên), Chuyện
vui chữ nghĩa (Nguyễn Văn Tứ), Tiếng Việt lí thú Trịnh Mạnh), Vui học
Tiếng Việt (Trần Mạnh Hởng), Trò chơi học tập Tiếng Việt ở Tiểu học
(Trần Mạnh Hởng, Lê Phơng Nga, Nguyễn Thị Hạnh), Các cuốn sách
này dẫn ngời dạy, ngời học tới kết luận: Có thể dạy học tiếng Việt hứng
thú nếu biết sử dụng nguồn ngữ liệu và bài tập hấp dẫn, nếu biết tổ chức học
tập theo tinh thần Học vui - vui học, Học mà chơi - chơi mà học.

5.1. Đối tợng nghiên cứu của luận án là hứng thú học tập tiếng Việt và
biện pháp tạo hứng thú học tập tiếng Việt cho HS Tiểu học. Vì vậy, mọi
biện pháp kích thích hứng thú học tập mà tác giả nêu ra đều xuất phát từ
việc tìm hiểu HS Tiểu học và nội dung dạy học tiếng Việt ở Tiểu học sau
năm 2000.
5.2. Luận án chỉ nghiên cứu biện pháp tạo hứng thú đợc thực hiện
ngay trong giờ học chính khoá trên lớp và tập trung phân tích các biện
pháp tạo hứng thú học tập tiếng Việt trên bình diện nội dung.
6. Phơng pháp nghiên cứu

6
Đề tài đợc thực hiện bằng các phơng pháp nghiên cứu chủ yếu: tổng
kết kinh nghiệm, quan sát, điều tra viết, phỏng vấn - trò chuyện, thực
nghiệm và nghiên cứu sản phẩm (giáo án của GV và bài kiểm tra của HS)
7. Dự kiến những đóng góp của đề tài
- Nêu ra một quan niệm về hứng thú (theo tác giả là đúng đắn nhất) làm
chỗ dựa để triển khai vấn đề hứng thú trong dạy học môn Tiếng Việt.
- Phân tích các điều kiện cơ bản của việc tạo hứng thú học tập tiếng
Việt cho HS dới góc độ giáo dục học.
- Thể hiện cách thức xây dựng hệ thống biện pháp tạo hứng thú học tập
cho HS dựa theo cấu trúc của quá trình dạy học và bản chất của hứng thú,
điều kiện nảy sinh hứng thú.
- Thiết kế một hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập tiếng Việt
cho HS Tiểu học, trong đó tập trung nghiên cứu nhóm biện pháp trên bình
diện nội dung dạy học. ở mỗi biện pháp, chỉ dẫn thêm cho GV cách thức
vận dụng vào thực tế dạy học.
8. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 249 trang, trong đó có 199 trang chính và 50 trang phụ
lục, chia làm 3 phần: phần mở đầu (20 trang), phần nội dung gồm 3
chơng (Chơng 1 trình bày cơ sở khoa học của việc tạo hứng thú học tập

hợp giúp HS Tiểu học nhận thức đợc lợi ích của việc học tiếng Việt. Cùng
với việc gia tăng tính thiết thực của nội dung bài học là sự gia tăng yếu tố
hấp dẫn của nó.
1.1.2. Điều kiện tạo hứng thú xét từ chủ thể học tập
Trong quá trình hình thành và phát triển hứng thú học tập cho HS Tiểu
học, phải có hiểu biết nhất định về đặc điểm tâm lí của các em, xem đó là
một điều kiện tạo hứng thú xét từ phía chủ thể học tập. HS Tiểu học thờng
tri giác những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, phù hợp với nhu cầu, hứng
thú bản thân; sự tập trung chú ý của HS Tiểu học còn thiếu bền vững; t
duy mang tính cụ thể, trực quan; tin vào những nhận xét của ngời khác,
nhất là của thầy cô; dễ nản chí khi gặp thất bại, Do vậy, sử dụng đa dạng
các phơng pháp, phơng tiện dạy học, tôn trọng nguyên tắc trực quan,
thận trọng khi nhận xét, đánh giá là yêu cầu quan trọng để tạo hứng thú
học tập tiếng Việt cho HS.

8
1.1.3. Điều kiện tạo hứng thú xét từ đối tợng học tập
Xem xét điều kiện tạo hứng thú học tập tiếng Việt từ phía đối tợng học
tập chính là tìm hiểu khả năng gây hứng thú của tiếng Việt. Tiếng Việt, với
những chức năng xã hội quan trọng (làm công cụ giao tiếp, t duy) và
những đặc điểm thú vị (tính đa trị bởi hiện tợng đồng âm, đa nghĩa; tính
năng sản cao - từ số lợng đơn vị tiếng Việt nhất định, có thể cấu tạo nên
nhiều đơn vị lớn hơn; sự độc đáo về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp , thực sự
là điều kiện thuận lợi để HS nhận thức đúng lợi ích và sự hấp dẫn của môn
học Tiếng Việt.
1.1.4. Điều kiện tạo hứng thú xét từ cấu trúc của quá trình dạy học
Thông hiểu cấu trúc quá trình dạy học là điều kiện cần thiết để tạo hứng
thú học tập tiếng Việt cho HS. Một giờ học gây đợc hứng thú với HS phải là
giờ học tác động tới mọi yếu tố trong cấu trúc của quá trình dạy học (nội
dung dạy học, phơng pháp dạy học, phơng tiện dạy học và đánh giá kết

SGV và một số tài liệu hớng dẫn dạy học đã đa ra nhiều biện pháp
dạy học tích cực: tổ chức trò chơi học tập; cho HS đóng kịch, phân vai; tạo
sự thi đua giữa các nhóm học tập, sử dụng đồ dùng dạy học, Đây cũng
đồng thời là những biện pháp có khả năng gây hứng thú học tập cho HS.
Qua khai thác kinh nghiệm dạy học của các GV giỏi, qua phân tích giáo án
của một số GV, qua trò chuyện, phỏng vấn và những phiếu điều tra, có thể
thấy GV thờng tạo đợc hứng thú học tập tiếng Việt cho HS bằng những
biện pháp: kể chuyện liên quan đến bài học, sử dụng bài tập độc đáo, tổ
chức trò chơi học tập, sử dụng phơng tiện dạy học hiệu quả, động viên,
khích lệ HS trong giờ học,
Tiểu kết Sơ đồ 1.2.
Các biện pháp tạo hứng thú học tập tiếng Việt

Các bi
ện pháp tạo hứng thú học tập

Các

biện pháp
tạo
hứng thú
trên
bình diện
đánh giá
dạy học 10

Chơng 2
Các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt
cho học sinh Tiểu học

2.1. Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện nội dung dạy học
2.1.1. Giúp HS nhận thức lợi ích của nội dung học tập
HS Tiểu học sẽ hứng thú học tập tiếng Việt khi các em thấy việc học
tiếng Việt thực sự có ý nghĩa với cuộc sống của bản thân. Nh vậy, giúp
HS Tiểu học nhận thức đợc lợi ích hay tính thiết thực của tiếng Việt là việc
làm có thể kích thích hứng thú, tạo động cơ học tập cho các em. Nên tiến
hành công việc đó bằng hai cách: trình bày lợi ích của nội dung học tập một
cách tờng minh, hoặc trình bày lợi ích của nội dung học tập thông qua
tình huống s phạm.
2.1.2. Sử dụng ngữ liệu thiết thực, hấp dẫn
2.1.2.1. Sử dụng ngữ liệu có nội dung thiết thực
Ngữ liệu đợc xem là thiết thực khi đặt ra những tình huống giao tiếp
thờng ngày khiến HS tìm thấy hình ảnh của chính mình trong tình huống

Sơ đồ 2.1.
Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện nội dung dạy học
Các biện pháp tạo hứng thú

trên bình diện nội dung dạy học

Giúp
học sinh
nhận thức

thể
hiện
lợi
ích
học
tập

Sử
dụng
ngữ
liệu

nội
dung
thiết
thực
Sử
dụng
ngữ
liệu
phản
ánh
sự

thú vị
của
t.Việt
Sử
dụng
ngữ

ài tập

hình
thức
sinh
động

Cung
cấp
thông
tin
bên lề
thú vị

Cung
cấp
mẹo
luật
ngôn
ngữ
sinh
động

12

Ngữ liệu thiết thực là ngữ liệu có tần số sử dụng cao, nhiều hiện tợng
ngôn ngữ cần dạy học đợc nén tối đa trong một ngữ liệu có độ dài tối
thiểu, có tác dụng củng cố và rèn luyện nhiều kiến thức, kĩ năng tiếng Việt
cho HS. Ví dụ: Cái cân này cân không đúng vì đặt không cân. Chỉ một
câu ngắn gọn nhng đủ gom lại nhiều hiện tợng ngôn ngữ, rèn HS kĩ năng


Đối với HS đầu bậc Tiểu học, nên sử dụng ngữ liệu văn vần và bài hát
cho thêm hiệu quả. Nội dung học vần có thể chuyển tải dễ dàng qua hình
thức vần vè sinh động: "Bờ cao, e thấp, lạ sao!/ Giống nhau nét thắt, ghép
vào thành be". Dạy học vần "inh" mà đợc nghe bài hát Em viết tên Bác
Hồ của cố nhạc sĩ Lu Hữu Phớc minh hoạ thì thật tuyệt vời. Bài hát vừa
giúp HS đánh vần, ghép vần, đọc trơn tiếng, liền từ, vừa giáo dục các em
tình cảm thiêng liêng, biết ơn đối với lãnh tụ.
2.1.3. Sử dụng bài tập thiết thực, hấp dẫn
Nội dung dạy học tiếng Việt ở Tiểu học đợc xây dựng dới dạng các
bài tập. Do vậy, để HS hứng thú học tập tiếng Việt, vấn đề chính yếu là
phải có hệ thống bài tập thiết thực và hấp dẫn HS.
2.1.3.1. Tăng cờng bài tập dạy nghĩa, bài tập sử dụng và bài tập phòng
ngừa lỗi thờng gặp
Bài tập dạy nghĩa yêu cầu HS hiểu và nêu nghĩa của các đơn vị tiếng
Việt trong những ngữ cảnh giao tiếp khác nhau, chỉ ra mối quan hệ giữa
hình thức của đơn vị ngôn ngữ và ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ (quan tâm
đến những hình thức quy định nghĩa) Ngay từ bài tập chính tả đã cần chú
ý dạy nghĩa của tiếng, từ đợc viết, kết hợp chính tả với nắm nghĩa của đơn
vị chính tả. Có thể yêu cầu HS nhận ra sự khác biệt nghĩa giữa các từ, các
câu khi chỉ khác nhau về hình thức chính tả: Con tôi đi Hàn Quốc Con tôi
đi hàn cuốc, Em gái của mẹ thì gọi là gì?/Em gái của mẹ thì gọi là dì, Bài
tập xác định một tổ hợp từ nào đó là một từ hay hai từ cũng chỉ có giá trị
thực tiễn nếu việc xác định đó quyết định việc hiểu nghĩa của cả tổ hợp hay
câu chứa nó. Ví dụ, việc phân định ranh giới từ trong áo dài, chân vịt, cà
chua, mới thật có tác dụng.
Bài tập sử dụng yêu cầu HS vận dụng kiến thức đã học vào thực tế giao
tiếp, mang lại các em có đợc những bài học quý báu về cách lựa chọn từ
ngữ, cách đặt câu, cách chuyển đổi kiểu câu theo mục đích nói năng
Bài tập phòng ngừa lỗi thờng gặp giúp HS khắc sâu nội dung kiến

lỗi, vì trờng hợp này có thể sửa chữa bằng nhiều cách.
2.1.3.3. Sử dụng bài tập có hình thức sinh động, hấp dẫn
Bài tập có hình thức sinh động, hấp dẫn là bài tập không đi theo hình
thức giao lệnh thông thờng âý, mà xuất hiện dới dạng một lời nói tâm
tình, một tiểu phẩm, hay dới dạng thơ, văn vần hay hình thức thi đố, đố
vui, câu đố,
Thay cho những mệnh lệnh khô khan của bài tập, GV đa ra lời "thỉnh
cầu", kiểu: Cô muốn phân chia đoạn văn sau đây thành nhiều câu khác
nhau. Các con có thể giúp cô đợc không? Thay cho mệnh lệnh từ phía
thầy cô, đôi lúc, hãy mợn lời các nhân vật vốn quen thuộc, thân thiết với
HS trong phim hoạt hình, trong truyện cổ tích, để chuyển tải nhiệm vụ
học tập. Thay cho hình thức câu văn xuôi mở đầu bằng các từ hãy, đừng,

15

chớ của các bài tập, hãy là các câu thơ, câu văn vần, câu đố sinh động, là
hình thức thi đố, đố vui hấp dẫn. Ví dụ, dùng câu đố để củng cố kiến thức
đồng âm, đồng nghĩa, nhiều nghĩa và làm giàu vốn từ cho HS: Bánh
không ăn đợc, đờng chẳng ngọt? (Giải đố: bánh xe và đờng đi); dùng
truyện cời và hình thức đố vui sau đây để củng cố kĩ năng phân định ranh
giới từ: Đố các em, câu chuyện dới đây gây cời ở chỗ nào? Khách hàng
trong câu chuyện đã hiểu hết lòng theo nghĩa của một từ hay hai từ?
Cửa hàng nọ làm lòng lợn rất ngon, chẳng phải quảng cáo gì mà ngời
đến mua cứ đông nghịt. Một hôm, lòng có rất nhiều nhng không thấy
khách hàng nào đến. Mãi rồi ông chủ cửa hàng mới hiểu nguyên nhân.
Sáng nay, ông vừa cho đặt tấm biển khá to ngoài cửa: Hết lòng phục vụ
quý khách.
Khi dạy về cấu tạo từ tiếng Việt, có thể bổ sung dạng bài tập Tìm từ lạc hệ
thống: Gạch bỏ từ không thuộc nhóm cấu tạo với các từ còn lại trong những
dãy từ sau: Tơi mát, tơi cời, tơi rói, tơi sáng, tơi tắn, tơi tỉnh,

2.2.1. Tổ chức trò chơi học tập
Trong thực tế dạy học tiếng Việt, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều
gây đợc không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho
thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tởng tợng
của trẻ em, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em. Tổ chức
trò chơi
học tập

Tổ chức

Sắm vai trong dạy học là nhận một vai giao tiếp nào đó nhằm thể hiện
sinh động nội dung học tập. Hình thức học tập sắm vai nhiều khi rất vui
nhờ những chi tiết hài hớc, ngộ nghĩnh do những diễn viên bất đắc dĩ
tạo nên. Hình thức sắm vai đặc biệt phát huy tác dụng trong các giờ tập làm
văn rèn kĩ năng nói, bởi nó giúp trẻ đợc thực hành giao tiếp, đợc quan sát
trực tiếp hoạt động nói với sự kết hợp sinh động của phơng tiện âm thanh và
các yếu tố phi ngôn ngữ.
2.2.3. Tổ chức hoạt động học theo nhóm
Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên
trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập chung. Học theo nhóm
là hình thức học tập nhằm phát huy tối đa sự góp mặt, sự bộc lộ năng lực
học tập, tinh thần hợp tác của toàn bộ HS trong một lớp học. Dạy học tiếng
Việt bằng biện pháp học theo nhóm giúp HS nắm kiến thức, rèn kĩ năng
tiếng Việt hiệu quả. Bởi biện pháp này đã tạo nên một môi trờng giao tiếp
tự nhiên, thuận lợi cho hoạt động giao tiếp - trao đổi kiến thức giữa những
trẻ cùng tổ nhóm.
2.3. Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện phơng tiện dạy học
2.3.1. Sử dụng phơng tiện dạy học truyền thống
Phơng tiện dạy học truyền thống (PTTT) là phơng tiện tơng đối đơn
giản, không đòi hỏi kĩ thuật cao trong chế tác cũng nh sử dụng. PTTT có

18

mặt từ rất lâu, quá quen thuộc trong dạy học. GV hoàn toàn có khả năng tự
làm ra các phơng tiện dạy học đơn giản kiểu này. Trong giờ học, GV có
thể sử dụng các PTTT nh: vật thật, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình, hình vẽ,
bảng biểu Ví dụ: những mảnh bìa, khối gỗ, bộ chữ cái, chiếc hộp, bông
hoa, đợc đại diện cho một âm hay một vần, một từ, một thành phần câu,
một dấu câu nhất định. HS có thể tháo lắp bằng tay với các vật để nhanh
chóng làm quen với thao tác phân tách, nhóm gộp các âm, các tiếng, các

truyền
thống

Sử dụng
phơng
tiện
dạy học
hiện đại

Sơ đồ 2.3. Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện PTDH
Các biện pháp tạo hứng thú

trên bình diện phơng tiện dạy học

19

chiếu hắt, máy chiếu đa năng, máy vi tính và phần mềm dạy học
powerpoint Ví dụ, dùng hiệu ứng powerpoint để đa ngữ liệu, nêu yêu
cầu của bài tập, đến gợi ý phân tích ngữ liệu trong bài tập, và cuối cùng,
đa ra đáp án của bài tập
2.4. Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện đánh giá dạy học
2.4.1. Nhận xét - đánh giá đảm bảo sự công bằng
Việc nhận xét - đánh giá của GV trên lớp, trớc hết phải đảm bảo sự
công bằng - công bằng giữa HS và HS, giữa HS và GV. Những HS có tiến
bộ, đạt thành tích nhất định trong học tập cần đợc khen, những HS cha
thực sự hoàn thành nhiệm vụ học tập, phải nhận hình thức phê bình, nhắc
nhở nào đó. Một GV không công bằng với HS là GV không bao giờ chịu
thừa nhận những thiếu sót của mình, chỉ biết phê phán HS; chỉ đề cao mình
nhng phủ nhận mọi thành tích và sự tiến bộ của HS. Cũng vì sự công
bằng, có GV không ngần ngại áp dụng biện pháp giả hạ thấp uy tín trớc


Sơ đồ 2.4.
Các biện pháp tạo hứng thú trên bình diện đánh giá dạy Học
C
ác biện pháp tạo hứng thú

trên bình diện đánh giá dạy học
Nhận xét - đánh giá
đảm bảo

Thực nghiệm trong luận án chủ yếu nhằm kiểm chứng tính khả thi, tính
hiệu quả của những biện pháp tạo hứng thú đã đề xuất và thêm một lần nữa
làm rõ thực trạng hứng thú học tập tiếng Việt của HS Tiểu học hiện nay.
3.2. Đối tợng và địa bàn thực nghiệm
3.2.1. Đối tợng thực nghiệm
Đối tợng thực nghiệm là HS lớp 1 và HS lớp 5 của Tỉnh Thái Bình -
nơi đa dạng vùng dân c, có đồng bằng và ven biển, có thành thị và nông
thôn, có trung tâm kinh tế và vùng sâu, vùng xa, GV đợc mời dạy thực
nghiệm và đối chứng là GV có trình độ Cao đẳng S phạm và Đại học S
phạm ngành Giáo dục Tiểu học, có năng lực chuyên môn từ trung bình khá
trở lên, có tuổi nghề ít nhất 5 năm.
3.2.2. Địa bàn thực nghiệm
Địa bàn thực nghiệm trải hết 7 huyện và 1 thành phố trong Tỉnh Thái
Bình: huyện Vũ Th, Đông Hng, Kiến Xơng, Hng Hà, Quỳnh Phụ,
Thái Thuỵ, Tiền Hải và thành phố Thái Bình.
3.3. Cách thức thực nghiệm và kết quả
Trong quá trình thực nghiệm, ngời nghiên cứu đa các biện pháp tạo
hứng thú học tập đã đề xuất vào các giờ Tiếng Việt và theo dõi ảnh hởng
của chúng đến với hứng thú và chất lợng học tập tiếng Việt của HS (ngay
trong giờ học, sau một giờ học, sau nửa học kì, sau cả học kì). Nếu sau khi
tiếp nhận những biện pháp tác động, HS có hứng thú, đạt kết quả cao trong
học tập thì những biện pháp đề xuất đợc xem là khả thi, hiệu quả, có thể
áp dụng rộng rãi trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học.
3.3.1. Thực nghiệm khẳng định
Thực nghiệm khẳng định đợc tiến hành trong nửa đầu kì I của năm học
2005 - 2006, trên tổng số 257 HS (gồm 122 HS lớp 1 và 135 HS lớp 5)
thuộc các trờng của Thành phố Thái Bình và huyện Vũ Th, Kiến Xơng,

22


0
10
20
30
40
50
60
70
80
Lớp 1 TN -
V1
Lớp 1 TN -
V2
Lớp 1 ĐC -
V1
Lớp 1 ĐC-
V2
Lớp 5 TN -
V1
Lớp 5 TN -
V2
Lớp 5 ĐC -
V1
Lớp 5 ĐC -
V2
Hứng thú Bình thờng Chán học

Biểu đồ 3.1. Hứng thú học tập của từng khối lớp
qua 2 vòng khảo sát
0

Lớp 5 TN -
V1
Lớp 5 TN -
V2
Lớp 5 ĐC -
V1
Lớp 5 ĐC -
V2
Điểm giỏi Điểm khá Điểm trung bình Điểm kém

Biểu đồ 3.3. Kết quả học tập của HS từng khối lớp qua 2 vòng
khảo sát
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
Lớp TN - V1 Lớp TN - V2 Lớp ĐC - V1 Lớp ĐC - V2
Điểm giỏi Điểm khá Điểm trung bình Điểm kémBiểu đồ 3.4. Kết quả học tập của HS thực nghiệm và đối chứng
qua 2 vòng khảo sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status