Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Antôn Pavlôvits Sêkhôp (1860-1904) là đại biểu xuất sắc cuối cùng
của chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỷ XIX. Ông “bước vào lịch sử văn học như
một nhà cách tân thiên tài trong lĩnh vực truyện ngắn và kịch” [40,349]. Đến
nay, nhân loại vẫn gọi ông là “nhà văn làm ta muôn thuở say mê” [108].
Toàn bộ truyện ngắn của Sêkhôp là bức tranh liên hoàn gồm nhiều
mảng nhỏ hợp lại dựng lên chân dung xã hội Nga những năm cuối thế kỷ
XIX. Đó là một “thời đại đau ốm”, con người sa vào thói dung tục, tha hoá
ngay trong “cảnh sống thừa”. Vượt lên thực tại tầm thường, Sêkhôp đã phê
phán sự bất lực của con người, nhất là giới trí thức, đồng thời nghiêm khắc
lên án “cái phi nhân” của chế độ xã hội bằng “tiếng thở dài khẽ mà sâu của
một trái tim trong sạch” [38,341].
Nam Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc
nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn chỉ
gói gọn trong 15 năm (1936- 1951), song cho tới nay ông vẫn là hiện tượng
hấp dẫn, lôi cuốn giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc “nghĩ tiếp”, khơi sâu
vào những “địa tầng” mới để kiếm tìm những “vỉa vàng” lấp lánh.
Trong sáng tác của Nam Cao, chúng ta bắt gặp những bức tranh rất
chân thực, sống động về những kiếp người nhỏ bé. Đó là số phận bi thảm của
người nông dân nghèo bị đẩy vào đường cùng, bị chà đạp tàn nhẫn, đặc biệt là
bị tha hoá, lưu manh hóa; những trí thức nghèo có hoài bão, tâm huyết, tài
năng, muốn vươn lên cao nhưng lại bị chuyện áo cơm ghì sát đất rơi vào bi
kịch “sống mòn”, “chết mòn”. Trái tim nhân đạo Nam Cao đã phê phán gay
gắt xã hội phi nhân tính tàn phá, huỷ diệt tâm hồn con người, đồng thời thể
hiện khao khát về một cuộc sống có ích và thực sự có ý nghĩa.
1.2. Theo kết quả khảo sát, lượng truyện xuất hiện nhân vật trí thức
trong sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao chiếm tỷ lệ cao (trung bình 54%,
trong đó Sêkhôp có 32/60 truyện, Nam Cao có 27/50 truyện). Điều đó chứng
học phổ thông, Cao đẳng, Đại học của Việt Nam. Việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp
chúng tôi có phương pháp nghiên cứu, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy, đồng
thời thấy rõ hơn những cách tân nghệ thuật, vị thế và tầm ảnh hưởng của Sêkhôp
trong sự so sánh với Nam Cao. Trên cơ sở đó hiểu hơn những đóng góp cách tân
của Nam Cao trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Vấn đề nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác của A.Sêkhôp
Sêkhôp và những sáng tác của ông là “hạt ngọc ẩn dấu” đối với giới
nghiên cứu phê bình suốt hai thế kỷ qua. Trên thế giới và cả ở Việt Nam, các
học giả đã giành cho ông những tình cảm đặc biệt thể hiện qua những công
trình nghiên cứu chuyên sâu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong quá trình
2
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
thực hiện đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao”,
do hạn chế về ngoại ngữ, chúng tôi chỉ xin nêu những ý kiến có liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu dựa trên cơ sở những công trình
được dịch ra tiếng Việt và bài viết của các nhà nghiên cứu của Việt Nam.
Dường như tất cả các nhà văn nổi tiếng đương thời đều yêu mến, trân
trọng và đánh giá cao tài năng của Sêkhôp. Trong bức thư ngày 25 tháng 3 năm
1886 gửi Sêkhôp, nhà văn lão thành Đ.V.Grigôrôvich đã khẳng định Sêkhôp có
“một tài năng đích thực”. Ông khâm phục “tính chính xác, chân thực tuyệt vời
trong việc miêu tả nhân vật và thiên nhiên”, khen ngợi “khả năng phân tích nội
tâm chính xác”, “tài nghệ trong miêu tả”, “khả năng tạo hình” của Sêkhôp. Với
“tất cả sự chân thành” của “con tim trong sạch”, Grigôrôvich “tin vào tài năng”
của nhà văn trẻ thuộc trong số những người viết được những “tác phẩm xuất
sắc, những tác phẩm nghệ thuật thực sự” [63, 200-201].
Tuân là nhà nghiên cứu đầu tiên tuyển chọn và viết bài giới thiệu cho tập
“Truyện ngắn của Sêkhôp”. Như “một thiên hồi ức ngắn”, bài viết đã kể lại sự ra
đời, tác động của cuốn sách trong lòng bạn đọc, nhất là giới cầm bút. Đặc biệt,
ông đã có những nhận xét rất đáng chú ý có liên quan đến vấn đề chúng tôi quan
tâm. Theo Nguyễn Tuân, truyện ngắn Sêkhôp đã khái quát lên bức tranh cuộc
sống đương thời: “luôn luôn bốc lên cái hơi ngạt độc đoán chuyên chế làm
nghẹn ngào và ngạt thở bao tâm hồn, bao con người… Những người ấy như bị
lắc trong một cái hũ nút khổng lồ”. Sêkhôp đã phát hiện ra một kiểu nạn nhân
khiếp sợ trật tự xã hội đến mức bị “cái áo bao trùm kín lấy một kiếp người có ăn
có nghĩ” và có “biết bao kẻ mang áo bao ấy vẫn nhan nhản sờ sờ” trong cuộc
sống thường ngày, mặc dù nhân vật trí thức Bêlicôp (Người trong bao) đã chết.
Đặc biệt về nghệ thuật xây dựng nhân vật, Sêkhôp “không chen vào mà giải
quyết vấn đề”. Ông để “nhân loại nhân vật” tự nói lên tư tưởng nghệ thuật, thái
độ của mình đối với nghề nghiệp và cuộc sống [103,12-13-19].
Trong số những người yêu quý và say mê Sêkhôp ở Việt Nam không thể
không kể tới Phan Hồng Giang. Trong bài giới thiệu “Sêkhôp tuyển tập truyện
ngắn” năm 1994, tuy nhà nghiên cứu không đề cập trực tiếp đến nhân vật trí
thức, song lại có những gợi dẫn quý báu về mối liên hệ chặt chẽ, sự ảnh hưởng
qua lại giữa đời sống hiện thực với sáng tác văn học. Với “đôi mắt tinh tường
“nhìn thấu bốn cõi”, Sêkhôp đã làm được điều khó khăn là “chỉ cho con người
thấy tính quái thai ở những con người thoạt nhìn tưởng như bình thường vô tội,
ở những hiện tượng lặp lại hàng ngày, không mấy ai để ý” [35,9].
Năm 1960, trong bài “Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của Sêkhôp”,
La Côn đã chỉ ra “cảm tình của Sêkhôp hướng về những người lao động” và
“khinh bỉ những kẻ ngồi không ăn bám”. Sau khi phân tích một loạt truyện
ngắn, La Côn đã có những nhận xét đáng chú ý động chạm đến đối tượng
chúng tôi nghiên cứu về nhân vật trí thức, tuy nhiên mới chỉ ở mức độ khái
4
hiện những khám phá “làm hiển lộ chất bi thường trực của đời thường lẩn khuất
khỏi con mắt nhiều người khác”. Chính vì vậy, cảm thức cuộc sống trong truyện
của Sêkhôp “bộc lộ tính “đa thanh”, “phức điệu” cực độ”. Người trí thức càng
bận tâm tha thiết hơn với sự đời: “Cuộc sống sẽ đi đến đâu? Thu thút tâm não
nhiều người trong họ hơn mọi câu hỏi của đời sống thực tiễn” [24,142-143-154].
5
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
Việc nghiên cứu sự tiến triển của tiếng cười Sêkhôp từ những sáng tác giai
đoạn đầu đến sáng tác giai đoạn chín chắn giúp tác giả đi tới kết luận về sự đa
dạng trong sắc thái của nó: “từ hồn nhiên, nhẹ nhõm, vô tâm đến nặng trĩu ưu
tư hay thấm đượm chất trữ tình”, đồng thời phát hiện “sự đan thoa lấp lánh đầy
bất ngờ giữa cái hài và cái nghiêm” trong cốt truyện và trong nhiều nhân vật
của Sêkhôp. Nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét thú vị về mối quan hệ
giữa tác giả - nhân vật và người đọc trong thế giới của nhà văn, đặc biệt là quan
niệm sáng tác của Sêkhôp, trong đó có đánh giá về vai trò của người trí thức:
“Tôi không tin vào giới trí thức của chúng ta, đạo đức giả, dối trá, thao cuồng,
vô giáo dục, lười biếng; tôi không tin ngay cả khi họ đau khổ và kêu ca, bởi
những kẻ hà hiếp họ xuất thân ngay từ tầng lớp của họ [24,176].
Đào Tuấn Ảnh trong bài nghiên cứu “Cách tân nghệ thuật của A.Sêkhôp”
đã khái quát tính cô đọng hướng về nguyên tắc “im lặng” tối giản nhằm hướng
nội, tính khách quan, mạch ngầm văn bản, sự tin cậy của nhà văn vào khả năng
đồng sáng tạo của bạn đọc. Nhà nghiên cứu nhận xét chính xác: “Trạng thái tâm
lý nhân vật của Sêkhôp không diễn ra liên tục mà luôn phá vỡ những cái từ bên
ngoài đưa vào. Những tự bạch, tự phân tích, mổ xẻ, giằng xé nội tâm, trăn trở
của nhân vật luôn bị đứt quãng… Dòng tâm lý của con người xen lẫn dòng đời
bất tận” [4,15-18]. Đào Tuấn Ảnh còn đi sâu phân tích phương pháp thể hiện
bệnh”, “bắt mạch”, “kê đơn” cho căn bệnh kinh khủng của thời đại. Trong bài
“Sêkhôp: nghệ sĩ và bác sĩ”, Lê Huy Bắc cho rằng: “Với tư cách là một nghệ
sỹ- bác sỹ, Sêkhôp đã thực sự tạo nên phong cách độc đáo của riêng mình. Là
nhà văn hiện thực, con mắt nghề nghiệp (bác sỹ) đã giúp ông bắt mạch, lần
tìm và mổ xẻ đúng căn bệnh trầm kha của thời đại. Là nghệ sỹ trác tuyệt, tâm
hồn ông vươn tới tận miền sâu thẳm, đầy bí ẩn trong vô thức, trong bản thể
con người” [14,28]. Tác giả đã thấy được mối liên hệ đặc biệt giữa khoa học
và nghệ thuật làm nên thành công trong sự nghiệp văn học của Sêkhôp. Trong
“Ngòi bút chẩn bệnh của A.Sêkhôp”, tác giả Hà Thị Hòa nhìn nhận: “Nhiều
truyện của ông như những tấm phim hiện hình của những thói đời dung tục”,
từ đó đi lý giải sâu sắc “thói sợ hãi cấp trên” đã nhiễm sâu vào tâm lý con
người nhất là tầng lớp trí thức, công vụ bậc trung. Tác giả còn chỉ ra biệt tài
chẩn bệnh “rất tài tình” của Sêkhôp, đồng thời đưa ra khả năng phòng tránh
để nhân vật “vươn lên mà sống theo đúng nghĩa làm người” [48,37-38].
Năm 2004, kỷ niệm 100 năm ngày mất của A. Sêkhôp, Hội nghị khoa
học “A.Sêkhôp và nhà trường Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia
của nhiều nhà nghiên cứu phê bình và những người mến mộ ông. Ngoài
những bài nghiên cứu nêu trên, còn có rất nhiều bài viết cảm thụ và phân tích
những tác phẩm riêng lẻ, cũng như cảm nghĩ về Sêkhôp với người đương thời
và hậu thế của các tác giả tiêu biểu như: Thành Đức Hồng Hà, Nguyễn Diệu
7
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
Linh, Lê Nguyên Cẩn, Đinh Thị Khang, Lê Thời Tân, Trần Lê Bảo, Lê Lưu
Oanh…đã đưa ra những gợi dẫn bổ ích đối với người viết luận văn.
Ngoài ra, có hơn chục khoá luận, luận văn đã nghiên cứu về thế giới
nhân vật của Sêkhôp ở những góc độc khác nhau cũng đã có những đúc rút
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
sáng tác của Nam Cao trước và sau cách mạng của ông. Ở phần “Đời sống và
hoạt động văn học của Nam Cao”, tác giả giới thiệu về cuộc đời, những ảnh
hưởng của gia đình, hoàn cảnh xã hội tới sự nghiệp của Nam Cao, trong đó
sớm có sự so sánh đáng chú ý: “Bước vào đời văn, Nam Cao thích hơn cả là
những tác phẩm của Đôtxtôiepxki và Tsêkhôp, đặc biệt là Tsêkhôp. Cũng
không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao quý mến Tsêkhôp. Nam Cao tìm thấy ở
Tsêkhôp sự gần gũi về quan niệm sáng tác cũng như về phong cách …Tsêkhôp
thích đi sâu phân tích tâm lý nhân vật, đặc biệt là những nhân vật tiểu tư sản trí
thức nghèo với những tâm trạng đầy mâu thuẫn. Chủ đề sáng tác của Nam Cao
về con người tiểu tư sản trí thức nghèo nhiều điểm gần gũi với những chủ đề
của Tsêkhôp… Những tác phẩm của Đôtxtôiepxki và Tsêkhôp có ảnh hưởng ít
nhiều đến sáng tác của Nam Cao về nội dung cũng như hình thức biểu hiện” .
Đề cập đến “Chủ đề tiểu tư sản” ở phần hai “Thời kỳ trước Cách mạng tháng
Tám”, nhà nghiên cứu đã đề xuất khái niệm “nhân vật trí thức kiểu Nam Cao”
và đặc biệt quan tâm đến tính chân thực của hình tượng này: “Nhân vật trí thức
kiểu Nam Cao được tập trung phản ánh một số nét điển hình và chân thực về
tâm lý và sinh hoạt của các tầng lớp trí thức thành thị trong thời kỳ Đại chiến
thế giới lần thứ II. Đó là thời kỳ bản thân họ đang phải đấu tranh gay gắt tìm
đường thoát khỏi tình trạng bế tắc của cuộc sống, vươn tới lý tưởng tốt đẹp
hơn” [31,30-110]. Ngoài ra, Hà Minh Đức nhận xét khái quát về nghệ thuật
miêu tả tâm lý nhân vật. Nhưng phải đến năm 1982, trong bài “Nam Cao và
nghệ thuật sáng tạo tâm lý”, ông mới đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về nghệ
thuật sáng tạo tâm lý. Hà Minh Đức nhận xét: Nam Cao đã thể hiện một nghệ
thuật miêu tả tâm lý già dặn và đặc biệt chú ý “chất tâm lý” của nhân vật trí
thức, đến việc miêu tả thiên nhiên gắn với việc thể hiện tâm lý nhân vật, sự tự
nhận thức…. và nhất là “Nam Cao sử dụng nhiều độc thoại nội tâm để biểu
sống, người ta càng thấy ghê rợn, đó là bi kịch sống mòn” [44,22-26].
Trong “Bi kịch tự ý thức- nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của
Nam Cao”, Đinh Trí Dũng đã đi sâu khẳng định một khía cạnh liên quan đến
vấn đề chúng tôi đang quan tâm, đó là “chưa ai đưa được vấn đề tự ý thức của
nhân vật lên đến mức sâu sắc, thường trực, nhất quán như ở ngòi bút của Nam
Cao”. Và “trong cuộc đấu tranh vươn tới lẽ sống nhân đạo ở các nhân vật tiểu
tư sản của Nam Cao… có nhiều mất mát, bi kịch” nhưng “sự tự ý thức dường
như là tự nhiên, thường trực trở thành một bộ phận không thể thiếu của con
người” [28,35].
Bài viết “Nam Cao và sự lựa chọn một chủ nghĩa hiện thực kiểu mới”
của Phạm Xuân Nguyên đã khẳng định sự vượt trội của Nam Cao so với các
tác giả cùng thời. Về nhân vật trí thức, ông đã vạch ra mâu thuẫn “giằng xé
giữa cái sống và kiếm sống với cái làm nghệ thuật và phụng sự nghệ thuật”
10
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
bằng cách “tác giả nhập vào nhân vật để nó tự suy nghĩ phân tích”, tạo “một
khả năng mới trong mối quan hệ tác giả- nhân vật”. Kết quả, “Nam Cao đã đa
thanh hoá giọng điệu tự sự, giọng tác giả và giọng nhân vật đan xen, hoà trộn
vào nhau, tiếng nói tác giả và tiếng nói nhân vật phụ hoạ nhau, tranh cãi
nhau” [72,74].
“Lối văn kể chuyện của Nam Cao” của Phan Diễm Phương là một bài
viết chuyên sâu đưa ra nhiều phát hiện mới mẻ về nghệ thuật kể chuyện của
Nam Cao. Tác giả khẳng định giọng văn Nam Cao phong phú mà sinh động,
hấp dẫn: “Trong truyện của Nam Cao, ta gặp lối kể chuyện bằng nhiều chất
giọng: nghiêm nghị và hài hước; trân trọng, nâng niu và nhạo, đay, mỉa”. Đặc
biệt giọng văn Nam Cao vừa mang tính chất triết lý nhưng cũng thấm đẫm
2004, phần viết về “Nam Cao”, Hà Văn Đức đã đi sâu tìm hiểu đề tài người
trí thức nghèo và nhấn mạnh đến bi kịch vỡ mộng và bi kịch chết mòn về
tinh thần cũng như cuộc đấu tranh để vượt lên chính mình và hoàn cảnh.
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra 4 đặc điểm thành công của nghệ thuật miêu
tả tâm lý là: Khắc hoạ tâm trạng, độc thoại nội tâm, kết cấu tâm lý và hình
thức tự truyện [30, 483-489].
Có thể thấy, các tác giả đã nghiên cứu nhân vật trí thức trong sáng tác
của Nam Cao từ nhiều phương diện nhưng còn mang tính khái quát, chứ chưa
đặt nhân vật trí thức trong cái nhìn đối sánh với các nhà văn khác trên thế giới,
cụ thể là A.Sêkhôp của văn học Nga. Song những nhận định thống nhất, chính
xác về nhân vật, đời sống tâm lý của người trí thức và giọng điệu kể chuyện là
tiền đề quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài.
2.3. Vấn đề so sánh Sêkhôp và Nam Cao ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hướng tiếp cận Nam Cao từ góc độ so sánh với các tác gia
văn học nước ngoài đã manh nha từ thập niên 60,70,80 của thế kỷ XX. Các
nhà nghiên cứu như Phan Cư Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Đàn, Phong Lê
đã đưa ra những lời nhận định có tính chất khái quát về Sêkhôp và Nam Cao
nhưng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu từ góc độ văn học so
sánh. Trong “Nam Cao- nhìn từ cuối thế kỷ”, giáo sư Phong Lê định hướng:
“Vấn đề đánh giá sự phát triển nghệ thuật của Nam Cao với tư cách người
nghệ sỹ, và sự soi sáng vấn đề từ một chân dung khác- Tsêkhôp trong văn học
Nga, quả gợi được nhiều điều thú vị. Đạt đến đỉnh cao của chủ nghĩa hiện
thực ở thời kỳ tiền Cách mạng, thực hiện tích cực cuộc canh tân văn học trong
hoàn cảnh xã hội thuộc địa, Nam Cao có vị trí tựa như Tsêkhôp, không chịu
lui vào bóng rợp của hai cây đại thụ Đốtxtôiepxki và Tônxtôi, mà tự vạch lấy
đường đi cho mình vào những năm giao thời giữa hai thế kỷ. Cả hai, Nam
Cao và Tsêkhôp đều tìm về chủ nghĩa hiện thực đời thường, soi chiếu các giá
trị phổ quát của đời sống vào “Những chuyện không muốn viết”, vào những
điều tưởng như chi ly, vặt vãnh” [59,108].
đáo- đào sâu vào đời sống tâm lý và hướng vào cuộc sống nhỏ nhặt thường
ngày; ở một tiếng nói thâm trầm, chua xót, giàu suy nghĩ và triết lý; ở một lối
văn kiệm lời- “lời chật mà ý rộng”, giàu sức chứa và sức mở” [60,189-203]. Tác
giả đã dành cả phần IV đề cập đến người trí thức và những cảnh sống thừa. Đây
là định hướng quan trọng, nền tảng giúp chúng tôi triển khai đề tài.
Ngoài ra, luận án tiến sỹ “Chủ nghĩa hiện thực hiện đại qua sáng tác
của Nam Cao (so sánh với sáng tác của Sêkhôp)” của Lý Thị Quỳnh Anh đã
13
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
làm rõ chủ nghĩa hiện thực hiện đại những thập niên đầu thế kỷ XX thông qua
sự phân tích sáng tác của Nam Cao so với Sêkhôp, chỉ ra những nét tương đồng
trên các khía cạnh như hiện thực tâm lý, những yếu tố hiện thực hiện đại qua
nghệ thuật tổ chức truyện trong sáng tác của Nam Cao so sánh với sáng tác của
Sêkhôp [1].
Các công trình nghiên cứu về nhân vật, nhất là nhân vật trí thức nói
chung và dưới góc độ so sánh giữa Sêkhôp và Nam Cao nói riêng là chưa thật
chuyên sâu, song những kết luận mang tính phát hiện là cơ sở quan trọng giúp
chúng tôi triển khai đề tài “Nhân vật trí thức trong truyện ngắn Sêkhôp và
Nam Cao”.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhân vật trí thức của Sêkhôp trong so sánh với nhân vật trí
thức của Nam Cao, chúng tôi mong muốn chỉ ra sự “gặp gỡ” trong quan điểm
và tư duy nghệ thuật của Sêkhôp và Nam Cao về người trí thức, trên cơ sở đó
làm nổi bật những sáng tạo của hai nhà văn trong hành trình khám phá nội
tâm người trí thức mang bi kịch đời thường. Qua đó, chúng ta thấy được
Theo C.Mac, trí thức là một tầng lớp lao động làm thuê, là giai cấp vô
sản lao động trí óc. Trong xã hội tư bản, giống như các giai cấp khác: công
nhân, nông dân... đa số những người thuộc tầng lớp này cũng bị giai cấp tư
sản áp bức, bóc lột về sức lao động. Vì thế, họ có một vai trò nhất định trong
liên minh công- nông- binh- trí thức trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh
giải phóng dân tộc.
Trong “Từ điển Tiếng Việt”, Hoàng Phê định nghĩa: “Trí thức là những
người chuyên lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt
động nghề nghiệp của mình” [81,1034].
Trong luận án tiến sĩ “Những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của A.
P. Sêkhôp”, Nguyễn Thị Minh Loan đưa ra khái niệm về người trí thức như sau:
Trí thức bao gồm trí thức cao cấp, trung cấp và trí thức bình dân, mở rộng ra còn
có cả quan, tu sĩ, doanh nhân, quý tộc, sinh viên, viên chức, nghệ sỹ [63,93].
Như vậy, các định nghĩa về người trí thức trên đều thống nhất cho rằng:
trí thức là những người lao động trí óc. Tuy nhiên, nếu chỉ định nghĩa như vậy
về người trí thức thì chưa thật đầy đủ. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra quan điểm
về trí thức trong cuốn giáo trình “Chủ nghĩa xã hội khoa học”: trí thức bao
gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, có trình độ học vấn đủ
để am hiểu và hoạt động trong lĩnh vực lao động của mình. Họ hoạt động chủ
yếu trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dựng khoa học, văn học, nghệ
thuật, lãnh đạo và quản lý [85,191]. Định nghĩa trên sẽ giúp chúng ta có một
cơ sở để xác định về tầng lớp trí thức trong đời sống cũng như trong văn học.
Mặt khác, chúng ta lưu ý rằng, trí thức không phải là một giai cấp, mà chỉ
là một đội ngũ, một tầng lớp có học vấn trong xã hội. Nhưng tầng lớp này lại kết
15
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
nước ở trường phổ thông Việt Nam.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo
16
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
Chương 1: Những bi kịch đời thường
Chương 2: Sức mạnh của độc thoại nội tâm
Chương 3: Giọng điệu trần thuật
17
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
Chương 1: NHỮNG BI KỊCH ĐỜI THƯỜNG
CỦA NHÂN VẬT TRÍ THỨC
Như một quy luật tất yếu, văn chương không phải lúc nào cũng là bản
anh hùng ca, là cái đẹp viên mãn hay tiếng cười sảng khoái. Văn chương đôi
khi chính là những tiếng thở dài, xung đột gay gắt, xuất phát từ những đòi hỏi,
khát vọng chân chính của con người... Nói cách khác, văn chương là cuộc
sống, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì cuộc sống. Cuộc sống ở khía
cạnh bản chất nhất chính là cuộc sống thường ngày- cuộc sống đời thường.
Nhiệm vụ của người nghệ sỹ phải tìm ra cái quy luật chung có tính tất yếu về
“sự thật của bản thân đời sống” biểu hiện trong cái hàng ngày.
Viết về nhân vật trí thức, Sêkhôp và Nam Cao khơi sâu vào tấn “bi kịch
tinh thần” chứ không đề cập đến ý thức chính trị hay lập trường cách mạng.
nỗi thống khổ, cùng quẫn của nhân dân, thôi thúc con người đến cái đẹp.
Cái hàng ngày, cái đời thường là mảng đề tài phổ biến nhất, là nguồn
cảm hứng dồi dào, bất tận để Sêkhôp và Nam Cao tìm kiếm, khám phá sự thật
đời thường. Trong cái phong phú và phức tạp của cuộc sống hàng ngày, hai nhà
văn hướng đến cái nhỏ bé, cái đời thường, thậm chí là tầm thường. Đó là những
“Chuyện đùa nho nhỏ”, “Chuyện đời vặt vãnh”, “Chuyện không muốn viết” xảy
ra hàng ngày hết sức đơn giản, không có gì quan trọng, không gây sự chú ý,
giật gân. “Chuyện đời vặt vãnh” của Sêkhôp có thể là chuyện viên y sĩ nhổ răng
cho viên trợ tế nhà thờ, chuyện cả đời mơ ước được ăn quả phúc bồn tử chua
loét, chuyện giáo sư già ngẫm lại cuộc đời đã qua của mình, chuyện người đàn
bà phù phiếm, thích hư danh, luôn mơ ước hão huyền; còn ở Nam Cao là
những chuyện “Nhỏ nhen”, chuyện “Quên điều độ”, chuyện dạy trẻ con quét
nhà, chuyện mua một căn nhà mới, chuyện vợ chồng cắn rứt nhau…Dường
như trong cuộc sống có bao nhiêu biến cố, bao nhiêu sự kiện, bao nhiêu lát cắt
đời thường đều có thể trở thành một trong những thiên truyện ngắn của hai ông.
Tất cả những gì diễn ra hàng ngày, tất cả những số phận, những kiếp người dù
chỉ một lần thoáng gặp, thoáng đi qua cuộc đời của nhà văn cũng đều có thể trở
thành cảm hứng sáng tạo của hai ông. Trong những “Chuyện đời vặt vãnh”,
“Những chuyện không muốn viết”, Sêkhôp và Nam Cao đã nhìn thấy những
đặc tính tiêu biểu của nếp sống chung, chỉ ra những cái không bình thường
trong cái tưởng như là bình thường. Đó là cuộc sống với sự vận động bề mặt
hết sức đơn điệu, tẻ nhạt nhưng lại ngầm ẩn chứa những vận động tâm trạng
hết sức phức tạp và tinh tế, những day dứt bức bối, những bừng ngộ bất ngờ,
những dự cảm, ước mơ đôi khi còn mơ hồ chưa ý thức được hết. Có thể nói,
trong quan niệm sáng tác của Sêkhôp và Nam Cao cái hàng ngày không chỉ
19
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
Cao đã “đào sâu”, khơi trúng cái sự thật đời thường bằng ngòi bút chân thực
khách quan của một chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt với một tấm
20
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
lòng thiết tha sôi nổi rất mực yêu thương những con người bình thường với tất
cả những mặt xấu tốt của nó.
Nhân vật hoạ sỹ trong “Ngôi nhà có căn gác nhỏ” thay lời Sêkhôp khẳng
định mục đích lớn lao mà mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực phải hướng tới:
“…nền khoa học và nghệ thuật chân chính không nhằm mục đích riêng lẻ,
nhất thời mà bao giờ cũng hướng về những gì chung mà vĩnh viễn. Khoa học
và nghệ thuật đi tìm sự thật và ý nghĩa của cuộc sống, tìm Thượng đế, tìm tâm
hồn…”. Nam Cao thì khẳng định: “Một tác phẩm có giá trị, phải vượt lên bên
trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho tất cả loài
người. Nó chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa
phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho
người gần người hơn”. Với mục đích chân chính đó, Sêkhôp và Nam Cao đặt
chúng ta đối diện với cuộc sống, nhìn thẳng vào nó mà hiểu mà thấy mình
đang sống “tồi tệ” và “buồn tẻ”, “nghèo” và “hèn” như thế nào. Truyện của
Sêkhôp và Nam Cao có tác dụng lay động và “thức tỉnh trong con người lòng
kinh tởm đối với cuộc sống tẻ nhạt, cái cuộc sống chẳng khác cái chết mấy
đỗi này” [38,344].
Quan điểm của Sêkhôp và Nam Cao về sứ mệnh nghệ thuật, về nhiệm vụ
của nghệ sỹ là nhất quán, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa nghệ thuật và
cuộc sống, nhà văn và bạn đọc, khẳng định một lần nữa cái nhìn khách quan, có
chừng mực của hai ông về cuộc sống. Sêkhôp và Nam Cao đã phát ngôn đầy đủ
và sâu sắc hơn về đặc trưng và nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực.
thần của họ trong cuộc sống hàng ngày. Đó là trạng thái đau khổ về tinh thần
khi con người đứng trước những mâu thuẫn, xung đột không thể hoá giải,
điều hoà giữa ước mơ, khát vọng chân chính đời thường và thực tiễn cuộc
sống. Họ tự ý thức được tình trạng của mình, song bàng quan, thoả hiệp, sợ
hãi chui vào bao, tha hóa hoặc cố tìm lối thoát nhưng không tìm được, sống
trong dằn vặt, đau đớn, dày vò. Đặc biệt trong quá trình đi sâu phân tích tấn bi
kịch tinh thần, khám phá “con người trong con người”, Sêkhôp và Nam Cao
phát hiện bi kịch của người trí thức nằm ngay trong cuộc sống hàng ngày mà
họ không chịu thừa nhận hoặc cố tình lẩn trốn nó.
Không phải ngẫu nhiên, Sêkhôp và Nam Cao quan tâm đến đời sống tinh
thần, chỉ ra bi kịch đời thường của người trí thức. Nhà văn chỉ có thể viết hay
nhất, sâu sắc nhất về những gì mà mình nếm trải. Cùng sinh trưởng trong
những gia đình nghèo, sớm phải tự thân kiếm sống, bệnh tật đeo đuổi, Sêkhôp
và Nam Cao am hiểu và thấm thía sâu sắc thân phận chính mình và bi kịch
tinh thần của người trí thức nghèo. Họ là những người có học, có ước mơ hoài
bão nhưng sống “buồn tẻ”, “nghèo hèn”, không phát huy được tài năng, hoặc
quên lãng khát vọng chân chính của mình.
22
Luận văn: Nhân vật tri thức trong truyện ngắn Sêkhôp và Nam Cao
Sinh ra và lớn lên ở hai đất nước, hai thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng
Sêkhôp và Nam Cao cùng chứng kiến những chuyện chướng tai gai mắt của
chế độ đương thời. Những năm 80 thế kỷ XIX, khi Sêkhôp bắt đầu hoạt động
văn học, cả nước Nga đang trong “buổi hoàng hôn” ảm đạm của “một xã hội
cổ lỗ, mà lại hoang dại tối tăm, và cái chính là nó cứ mòn mỏi trôi qua trước
mắt mọi người. Một ít cải cách có được thực hiện, song rút cục mọi chuyện
vẫn đâu đóng đấy” [76,16]. Người trí thức Sêkhôp đã vượt lên trên thực tại
Khám phá bi kịch tinh thần, Sêkhôp và Nam Cao đã phát hiện ra bi kịch
đời thường của người trí thức. Họ không phải là Anđrây Bônkônxki (Chiến
tranh và hoà bình), hay Raxkônnhikôp (Tội ác và hình phạt) theo đuổi những
hoài bão, tư tưởng lớn lao mang tầm vóc thời đại mà hướng suy nghĩ, trăn trở
vào cuộc sống thường ngày. Họ đang vật lộn trong những mâu thuẫn, xung
đột tưởng như bình thường không ai băn khoăn, thắc mắc đang gặm nhấm,
đầu độc cuộc sống con người và đẻ ra hàng loạt những cuộc sống thừa, những
cảnh đời thừa, đẩy con người đứng trước bờ vực của sự tha hoá ngay trong
nhịp sống uể oải hàng ngày. Nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh khái quát: “Đây
chính là “thái độ dân chủ đối với chất liệu, là chủ nghĩa nhân văn cao cả của
Sêkhôp và Nam Cao, là sự mẫn cảm đặc biệt của những nhà văn lớn trước
những yêu cầu, đòi hỏi mới của thời đại- thời đại diễn ra quá trình hiện đại
hoá, dân chủ hoá gấp rút trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ [6,100].
1.2. Bi kịch đời thường của nhân vật trí thức trong truyện ngắn Sêkhôp
Qua ngòi bút chẩn bệnh tài tình của Sêkhôp, bi kịch đời thường của người
trí thức hiện ra với những biến dạng rất tinh vi: bi kịch người trong bao, bi kịch
sự tha hoá, bi kịch của sự bừng tỉnh muộn màng.
1.2.1. Bi kịch người trong bao
Hình ảnh “cái bao” là sáng tạo độc đáo của Sêkhôp trong truyện ngắn
“Người trong bao”. Ngoài ý nghĩa cụ thể, nó còn là một biểu tượng mang ý
nghĩa ẩn dụ. Nói như thầy giáo Burkin, thứ bao này là “một dạng tính cách”
của “cái thứ người bản tính vốn ưa sống đơn độc như con ốc, con sên lúc nào
cũng cố thu mình vào trong vỏ ốc”. Để tránh mọi ảnh hưởng bên ngoài,
Bêlikốp- một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp đã tạo cho mình một thứ bao hoàn
hảo, làm nên phong cách trong bao. Đó là một chân dung chìm lấp đi trong
lớp lớp những cái bao khác nhau: bao trang phục, bao thân hình, bao vật
dụng, bao ý nghĩ... Trong công việc, hắn khống chế trường học bằng bao thận
trọng, đa nghi suốt mười lăm năm trời. Hắn ca ngợi quá khứ, “những chỉ thị,
thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng”,
mòn” nơi làng quê, xa rời tất cả những hứng thú và đam mê nghiên cứu khoa
học. Tức là Aliôkhin tự nguyện, chấp nhận lối sống trong bao- buồn bã, tẻ
nhạt, để cuộc đời trôi đi vô vị giữa một trang ấp mênh mông. Nguy hiểm hơn,
lối sống trong bao đã chi phối cả suy nghĩ, hành động của Aliôkhin. Khi làm
thẩm phán của hội đồng thành phố, anh đã thầm yêu Anna Alêchxâyépna một phụ nữ đã có chồng, trẻ trung, xinh đẹp, phúc hậu, thông minh và có học
thức. Trước những suy nghĩ, đắn đo tính toán về hạnh phúc hay bất hạnh, về
sự trung thực trong tình yêu, về sự tự ti của bản thân, Aliôkhin đã không đủ
dũng cảm, quả quyết đến với tình yêu, đánh mất vĩnh viễn hạnh phúc của
mình, đẩy Anna vào tâm trạng bức bối, suy nhược thần kinh. Cuối cùng, anh
sống trong day dứt, dằn vặt và Anna mãi mãi dời xa anh.
25