KỸ NĂNG ỨNG PHÓ với NHỮNG KHÓ KHĂN tâm lý TRONG học tập của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG TỈNH bắc NINH - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

------o0o------

TRẦN THỊ LOAN

KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ
TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.04.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Thị Hạnh Phúc


HÀ NỘI, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm
lý trong học tập của học sinh Trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh” là công
trình do chính tôi nghiên cứu.
Các số liệu trong đề tài này là kết quả công sức tôi đã đầu tư thu thập và
xử lý thông tin một cách trung thực. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong
luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình
bày hay công bố ở bất cứ công trình nào khác trước đây.
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐH, CĐ
ĐTB, X
ĐLC
HĐHT
HS
KK
KKTL
KN
KNƯP
THCS
THPT
VTN

: Đại học, cao đẳng
: Điểm trung bình
: Độ lệch chuẩn
: Hoạt động học tập
: Học sinh
: Khó khăn
: Khó khăn tâm lý
: Kỹ năng
: Kỹ năng ứng phó
: Trung học cơ sở
: Trung học phổ thông
: Vị thành niên


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng khách thể được nghiên cứu..............................................52

THPT không lý giải theo chiều hướng tiêu cực, không “đổ lỗi cho hoàn cảnh”
(ĐTB = 1,95), không “lảng tránh” (ĐTB = 2,10), không “phủ nhận” những
thất bại của mình (ĐTB = 2,26) mà các em biết “chấp nhân” thực tế đã xảy ra
(ĐTB = 2,34)...................................................................................................82
Bảng 3.6. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó bằng suy nghĩ
của HS THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những KKTL trong học tập..................82
Bảng 3.7. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó bằng hành
động của HS THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những KKTL trong học tập.........84
Bảng 3.8. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó mang tính tích
cực và tiêu cực của HS THPT tỉnh Bắc Ninh đối với những KKTL trong học
tập....................................................................................................................86
Bảng 3.9. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những khó
khăn tâm lý trong học tập của học sinh nam và học sinh nữ...........................87
Bảng 3.10. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những
KKTL trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh xét theo khối lớp.....89
Học sinh lớp 11,12 có mức độ thực hiện hành vi tiêu cực cao hơn hẳn. Đặc
biệt, các em HS lớp 11, có cách ứng phó bằng hành vi tiêu cực cao nhất trong
ba khôi (ĐTB= 1,61). Vì các em lớp 11 đã quan với môi trường học tập ở bậc
THPT, các em muốn thể hiện bản thân, muốn gây được sự chú ý, trong khi
suy nghĩ của các em lại chưa chín chắn. Bên cạnh đó, khả năng lên kế hoạch
và biết tìm những hành vi tích cực để thay thể trong tình huống khó khăn của
các em khối 11, 12 cũng cao hơn HS lớp 10. Trong khi đó, các em HS khối 10
lại chọn cách ứng phó theo kiểu “ Tìm lời khuyên” (ĐTB = 2,39) và “Lảng
tránh” cao nhất trong ba khối (ĐTB = 2,13). Bởi các em còn chưa có kinh
nghiệm trong việc ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập, các em muốn
tìm kiếm những lời khuyên từ bạn bè mình, từ những người có thể giúp đỡ
các em để có thể vượt qua khó khăn...............................................................90
Bảng 3.11. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những
KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh.........................................92
xét theo môi trường học tập.............................................................................92

KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh xét theo khối lớp.............90
Biểu đồ 3.6. Biểu hiện của việc lựa chọn các phương án ứng phó với những
KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh.........................................93
xét theo môi trường học tập............................................................................93
Như vây, có thể thấy cách thức biểu hiện những cách ứng phó khi gặp khó
khăn trong học tập của HS THPT ở môi trường học tập khác nhau cũng có
những khác biệt ít nhiều. HS ở mỗi môi trường đều sử dụng những cách ứng
phó riêng của mình theo đặc điểm riêng. Điểm chung nhất trong các kiểu ứng
phó là các em có xu hướng giải quyết những khó khăn trong học tập của mình
biểu hiện ra bằng hành động, đặc biệt là những hành động tích cực..............93


Biểu đồ 3.7. Kết quả tự đánh giá của học sinh về hiệu quả của việc sử dụng
các phương án ứng phó với KKTL trong hoạt động học tập...........................94
Biểu đồ 3.8. Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của việc sử dụng các phương
án ứng phó với KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh................96
Biểu đồ 3.9. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến kỹ năng ứng phó
của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh...................................................................99
Biểu đồ 3.10. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến kỹ năng ứng
phó của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh..........................................................103


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lứa tuổi thanh niên là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời mỗi con
người. Trong tâm lí học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt
đầu từ lúc dậy thì và kết thúc vào tuổi người lớn. Lứa tuổi học sinh trung học
phổ thông ( THPT) là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên.
Những công trình nghiên cứu sự phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi học
sinh THPT gần đây quan niệm: lứa tuổi này như là một giai đoạn phát triển đi

của học sinh THPT còn khá mới mẻ, đặc biệt trên một địa bàn cụ thể.
Trong xu thế phát triển chung với cả nước, tỉnh Bắc Ninh là một trong
những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, đặc biệt là tốc độ đô thị hóa, công
nghiệp hóa khá nhanh. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và
các khu công nghiệp đã góp phần nâng cao đời sống, tạo ra nhiều cơ hội việc
làm cho lao động phổ thông... Bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của nó là
việc quan tâm đến học tập của con em các gia đình có cả bố mẹ đều làm công
nhân bị chểnh mảng, các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều, đặc biệt nhiều học
sinh có thái độ học tập chống đối chỉ để lấy bằng tốt nghiệp là sẽ có việc
làm,... Do đó, vấn đề học tập, hướng nghiệp trong nhà trường THPT ở tỉnh
Bắc Ninh luôn được quan tâm. Tuy nhiên, khi gặp những khó khăn trong học
tập, học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh ứng phó chưa hiệu quả, làm ảnh hưởng đến
kết quả học tập của các em. Vì vậy việc giáo dục để học sinh THPT tỉnh Bắc
Ninh có được khả năng ứng phó tốt là việc hết sức cần thiết, qua đó giúp các
em nâng cao khả năng ứng phó với những khó khăn trong hoạt động học tập,
để có được kết quả học tập mong muốn. Với tính cấp thiết đó, chúng tôi chọn
nghiên cứu đề tài “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý trong học tập
của học sinh trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh” với mong muốn tìm hiểu về
cách ứng phó của HS THPT tỉnh Bắc Ninh trong việc ứng phó với khó khăn
trong học tập, từ đó kiến nghị một số biện pháp tâm lý – sư phạm giúp học
sinh THPT nâng cao kỹ năng ứng phó hiệu quả với những khó khăn tâm lý

2


trong học tập để các em có thể đạt được kết quả cao trong học tập và định
hướng tốt cho tương lai.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng kỹ năng ứng phó với
những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh. Từ

năng ứng phó hiệu quả với những khó khăn tâm lý trong học tập.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về biểu hiện của kỹ năng ứng phó với
những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 400 học sinh và một số giáo viên ở hai
trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh năm học 2015 – 2016, cụ thể:
200 học sinh và 15 giáo viên trường THPT Hàn Thuyên thuộc thành
phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
200 học sinh và 15 giáo viên trường THPT Quế Võ số 3 thuộc huyện Quế Võ,
tỉnh BN.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
7.3. Nhóm phương pháp xử lí số liệu
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, thì luận văn còn có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận về kỹ năng ứng phó với những khó khăn
tâm lý trong học tập của học sinh THPT
Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu kỹ năng ứng phó
với những khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh THPT
Chương 3. Thực trạng kỹ năng ứng phó với những khó khăn tâm lý
trong học tập của học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh.


thoát khỏi tình huống khó khăn, tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội, gánh vác trách
nhiệm, né tránh thực tại, lập kế hoạch giải quyết vấn đề và nhìn thấy điều
thuận lợi. Các nhà nghiên cứu tin rằng những cách này phản ánh hai kiểu cơ
bản của sự ứng phó: tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc. Lazarus
và Folkman nhấn mạnh rằng những khía cạnh trong hành vi ứng phó của cá
nhân thay đổi phụ thuộc vào tình huống hay mức độ hỗ trợ xã hội mà cá nhân
nhận được. Một trong những công cụ đo lường được phát triển bởi quan điểm
mới là CISS (Coping with stressful situations). Công cụ này cố gắng đưa ra
những dấu hiệu của các cách ứng phó mà con người có thể sử dụng trong
tình huống khó khăn. Những cách thức ứng phó mà công cụ này đưa ra bao
gồm cách thức hướng vào nhiệm vụ, trong đó người ta hướng đến việc
đương đầu với những vấn đề kế tiếp sẽ diễn ra; cách thức hướng vào cảm
xúc, cách thức tránh né thực tại (bao gồm tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt xã hội
và tìm kiếm sự giải tỏa tâm trí) [44].

6


Trong nghiên cứu của Bolognini Monique, Plancherel Bernard,
Halfon Olivier “Đánh giá các chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có
sự khác nhau theo tuổi và theo giới tính hay không?” đã tìm hiểu các cách
ứng phó theo đặc trưng giới, mối tương quan giữa việc chọn lựa các cách
ứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và theo độ tuổi. Các tác giả đã
đưa ra những cách thức ứng phó như: sử dụng quan hệ xã hội, gia đình, tình
cảm âm tính, sự giải trí, hài hước, cam kết, tiêu xài, gia đình, nhà trường. Các
kết quả khẳng định nữ thanh thiếu niến tự điều chỉnh tùy theo khó khăn bằng
cách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố mẹ
và các người lớn khác). Nghiên cứu đã cho thấy con gái đầu tư nhiều hơn
vào thế giới tương tác nhằm thể hiện tình cảm một cách cởi mở, nhằm nhận
được sự nâng đỡ, các lời khuyên và những điều an ủi từ một người tâm

cảnh khó khăn của chính bản thân VTN [43;1].
Theo Kovacs (1989), có nhiều vấn đề về tâm thần của VTN liên quan
đến sự kém hiểu biết về kỹ năng xã hội , đây cũng là một trong những nguyên
nhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát [43;2].
Một tác giả cho rằng hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi
là xu hướng ứng xử (Carver, Schenier,Weinntraub). Theo các tác giả này, con
người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau [45].
Cách ứng phó thể hiện mối liên quan của hành vi ứng phó với các sự
kiện của cuộc sống, với những trải nghiệm sớm của cá nhân được nhiều tác
giả quan tâm.
Các tác giả Myers L.B, Brewin C.R (1994) cho rằng đứa trẻ có những trải
nghiệm âm tính sớm thường có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi chúng gặp lại
quang cảnh của sự kiện cũ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến quan hệ gia
định. Ở đây có mối quan hệ chặt chẽ giữa mức độ trải nghiệm các cảm xúc với
cách mà con người ứng phó với hoàn cảnh khó khăn, với stress tâm lý [7].
Segersform S.C, Taylor S.E, Kemeny M.E, Fahey J.L. (1998),
Horowwitz, Sdler và Kegeles (1988) tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của
các ứng phó với tính lạc quan và bi quan. Các tác giả nhận thấy tính lạc quan

8


có quan hệ với khuynh hướng sử dụng cách ứng phó tập trung vào giải quyết
vấn đề, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, thể hiện những khía cạnh dương tính trong
tình huống stress, ngược lại tính bị quan thường đi kèm với xu hướng phủ
định hoặc tránh xa tình huống stress, tập trung vào những cảm giác stress của
mình [7].
Terry D.L (1991), Lees M.C, Neufeld R. W. J(1999) nghiên cứu mối
liên quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận thức về các khía cạnh khác
nhau của stress với hành vi ứng phó. Theo họ, việc con người ứng xử thế nào

Viện tâm lý học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên cứu về
cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn tại một số trường
THCS, THPT, Trung tâm giáo dục thường xuyên ở Hà Nội và một số trường
Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình. Nghiên cứu đã đưa ra một số đặc điểm ứng phó
của trẻ vị thành niên Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả Phan Thị
Mai Hương đã tìm hiểu về “Mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị
thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tố xã hội” và “mối tương
quan giữa cách ứng phó của trẻ vị thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với
các nhân tố nhân cách”. Kết quả nghiên cứu khẳng định một số nhân tố xã
hội như mức độ trải nghiệm các sự kiện của cuộc đời, chỗ dựa xã hội từ các
mối quan hệ với cha mẹ, thầy cô và bạn bè, thành tích học tập đạt được qua
các năm học, những thành tích nổi bật trong hoạt động ở nhà trường và vị
thế kinh tế - xã hội của gia đình có ảnh hưởng lớn đến khả năng đáp ứng
trước khó khăn của học sinh. Nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên có chỗ
dựa xã hội vững chắc về tinh thần: có nơi để chia sẻ, nhận được sự thông
cảm, an ủi cũng như giúp đỡ, có sự quan tâm và hiểu biết lẫn nhau… và có
định hướng tốt đẹp, ít trãi qua những sự kiện âm tính trong cuộc sống thì
thường có những cách ứng phó tích cực trước hoàn cảnh khó khăn và ngược
lại [9].
Tác giả Nguyễn Hữu Thụ với nghiên cứu “Các kiểu ứng phó với stress
trong học tập của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội” đã chỉ ra rằng chiến

10


lược ứng phó của sinh viên trước các tình huống gây stress trong học tập chủ
yếu bằng phương thức thay đổi nhận thức và hành vi bằng cách giải tỏa cảm
xúc, đánh giá sự kiện xem nó có gây stress không và thay đổi hoạt động của
cá nhân. Từ đó, sinh viên chủ động trong học tập, giảm bớt sự lo lắng và
cảm xúc tiêu cực nảy sinh từ các sự kiện gây stress cao trong học tập [22].

Tác giả Lê Minh Nguyệt ( Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) nghiên
cứu “Xung đột tâm lý của thiếu niên với thiếu niên THCS”.
Tác giả Bùi Bích Phượng ( Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) nghiên
cứu “Ứng phó với Stress trong học tập của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội”.
Tác giả Vũ Thị Thanh Hiển (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – Năm
2010) nghiên cứu “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn trong việc rèn luyện
nghiệp vụ của giáo sinh trường trung cấp sư phạm mầm non Đăk Lăk”.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội –
Năm 2012) nghiên cứu “Kỹ năng ứng phó với khó khăn trong cuộc sống của
sinh viên dân tộc ít người trường cao đẳng sư phạm Thái Nguyên”.
Như vậy, các nghiên cứu này xác nhận, thanh thiếu niên Việt Nam gặp
những khó khăn tâm lý trong lĩnh vực học tập và trong hoạt động hàng ngày.
Tùy vào đặc điểm nhân cách và môi trường xã hội mà các em sẽ chọn lựa các
cách đáp ứng trước những khó khăn khác nhau. Việc phân tích lịch sử nghiên
cứu về ứng phó với những khó khăn tâm lý của thanh thiếu niên cho thấy, có
rất ít công trình đi sâu nghiên cứu về kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý
trong học tập của học sinh THPT. Đặc biệt chưa có tác giả nào đi sâu nghiên
cứu KNƯP với KKTL trong học tập của HS THPT tỉnh Bắc Ninh.
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Kỹ năng và kỹ năng ứng phó
1.2.1.1. Kỹ năng
Theo một cách phổ biến nhất thì kỹ năng được hiểu là việc cá nhân
thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó. Tuy nhiên khi
xem xét một cách hệ thống, chỉ tính riêng trong khoảng từ năm 1960 cho đến

12


nay đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về kỹ năng được các tác giả
đề cập đến. Tóm lại chúng tôi nhận thấy chủ yếu tập trung vào hai cách tiếp

phương thức vận dụng tri thức vào thực hành để giải quyết các nhiệm vụ đặt
ra phù hợp với điều kiện cho trước. Con người nắm được các hành động tức
là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng.
Tác giả Trần Trọng Thủy, trong cuốn “Tâm lý học lao động” cũng cho
rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động. Con người nắm bắt được
cách thức hành động là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng”[32;2].
Tác giả Bùi Thị Xuân đưa ra quan niệm: “Kỹ năng là sự vận dụng đúng
đắn những tri thức, giá trị, thái độ liên quan vào hoạt động hay hành động
thực tiễn theo những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động
có kết quả”. Theo tác giả chỉ khi nào cá nhân nắm rõ tri thức về phương thức
thực hiện hành động và có thái độ vận dụng nó vào thực tiễn thì cá nhân mới
được coi là có kỹ năng trong hoạt động ấy.
Cách tiếp cận thứ hai: Xem xét kỹ năng không chỉ là kỹ thuật của
hành động còn là biểu hiện năng lực của con người. Theo quan điểm này thì
kỹ năng vừa có tính ổn định vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo, vừa có
tính mục đích. Đại diện cho quan niệm này có các tác giả như: N.Đ. Lêvitop,
X.I Kixegof, K.K. Platonov, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Tất Dong, Nguyễn
Thạc, Vũ Dũng, Hà Thị Đức, Trần Quốc Thành… Tuy cách trình bày khác
nhau, nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất : Kỹ năng là khả năng thực
hiện có hiệu quả một nhiệm vụ về lý luận hay thực tiễn nhất định, là năng lực
vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có vào hoạt động cá nhân.
Theo N.Đ. Lêvitôp thì “kỹ năng là sự thực hiện có hiệu quả của một
tác động nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp
dụng những cách thức đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện
hành động có kết quả”. Ông cho rằng, con người có kỹ năng không chỉ nắm
bắt lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tế [41;3].

14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status