Lời cảm ơn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: "Tìm hiểu những khó khăn tâm lí
trong giao tiếp của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Yên Hóa-Minh HóaQuảng Bình", chúng em đã gặp phải một số khó khăn vì đây là lần đầu tiên
nghiên cứu khoa học. Nhưng được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của giảng
viên Nguyễn Thị Xuân Hương, cùng sự giúp đỡ của các giáo viên chủ nhiệm lớp
3, cùng toàn thể các em học sinh trường tiểu họcYên Hóa, các thầy, cô trong tổ
bộ môn Tâm lí - Giáo dục, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học Trường
Đại học Quảng Bình.
Qua đây,chúng em xin trân trọng gửi tới các thầy cô, các bạn sinh viên,
các em học sinh, đặc biệt xin trân trọng gửi tới giảng viên Nguyễn Thị Xuân
Hương lời cảm ơn, sự biết ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Đồng Hới, ngày 20 tháng 2 năm 2018
SVTH: Anh Lung
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con người từ khi xuất hiện trên Trái đất, để có thể tồn tại và phát triển, đã
không ngừng nhận thức thế giới xung quanh cũng như thế giới bên trong mình.
Trong quá trình nhận thức, loài người phải tiến hành giao tiếp, không chỉ để trao
đổi thông tin, truyền đạt kinh nghiệm, mà còn trao đổi cả tư tưởng, tình cảm,
góp phần làm cho cuộc sống của mình trở nên đa dạng, phong phú.
Việc trao đổi, truyền đạt những kinh nghiệm đã được tích lũy, đã được
khái quát hóa và hệ thống hóa dẫn đến sự ra đời của hoạt động giáo dục. Nhờ có
giáo dục mà nhân cách con người được hình thành và phát triển đúng đắn.
Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, nhân cách đang được hình thành và phát
triển. Lúc này, giao tiếp cũng có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi vì các phẩm chất
được thông qua các quá trình tích luỹ, rèn luyện một cách thường xuyên, liên tục
và thực tế cho thấy việc rèn luyện chỉ có kết quả tốt nếu học sinh có ý thức rèn
luyện và biện pháp rèn luyện phù hợp.
Vì vậy, tôi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu một số khó khăn tâm lí trong giao
tiếp của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Yờn Húa- Minh Húa-Quảng Bỡnh”
có ý nghĩa nhất định về mặt lí luận và thực tiễn, nhằm bổ sung thêm vào vốn tri
thức tâm lí học lứa tuổi, giúp hiểu rõ hơn về lứa tuổi học sinh tiểu học. Từ đó đề
xuất và thử nghiệm một số biện pháp tháo gỡ khó khăn nhằm nâng cao hiệu quả
trong giao tiếp của học sinh tiểu học, từ đó nâng cao kết quả học tập và rèn
luyện cho học sinh, ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển nhân cách cho học sinh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có rất nhiều nhà tâm lí học nghiên cứu về vấn đề giao tiếp và cỏc khía
cạnh của giao tiếp. Tác giả Bùi Văn Huệ trong cuốn “Giáo trình tâm lí học Tiểu
học” đã đưa ra khái niệm chung về giao tiếp, chức năng giao tiếp… nhưng chưa
nghiên cứu những khó khăn trong giao tiếp của học sinh tiểu học. Một số tác giả
nghiên cứu khó khăn trong giao tiếp của học sinh tiểu học như: Tác giả Nguyễn
Xuân Thức đã có công trình nghiên cứu “Khó khăn tâm lí của trẻ đi học lớp 1”.
Tác giả đã nhận xét “Trẻ gặp khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp với
thầy cô bạn bè đặc biệt là giao tiếp với giáo viên”. Bởi vì “quan hệ cô - trò trong
trường Tiểu học mang tính chất công việc và nguyên tắc khác với quan hệ cô trò ở mẫu giáo mang tính chất tình cảm”.
Tác giả Vũ Ngọc Hà và Lê Thị Thu Hà có công trình nghiên cứu về: “Khó
khăn tâm lí trong quá trình của học sinh lớp 1” Tác giả Đào Thị Oanh đi sâu
SVTH: Anh Lung
Page 3
nghiên cứu “Nội dung giao tiếp của học sinh cuối tiểu học” .Tác giả nhận xét:
“Nội dung giao tiếp của học sinh cuối bậc tiểu học khá đa dạng và phong phú”.
Những vấn đề được các em quan tâm, trao đổi khi gặp nhau được nhóm lại và
7.1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
7.2. Phương pháp điều tra
7.3. Phương pháp quan sát
7.4. Phương pháp trò chuyện
7.5. Phương pháp thống kê toán học
7.6. Phương pháp tác động thực nghiệm
8. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu một số khó khăn tâm lí trong giao tiếp của học sinh
lớp 3 trường Tiểu học Yờn Húa-Minh Húa-Quảng Bỡnh.
SVTH: Anh Lung
Page 5
Nội dung
Chương 1. cơ sở lý luận
1.1. Giao tiếp là gì?
Hiện nay có nhiều định nghĩa về giao tiếp. Tuỳ theo góc độ xem xét, vấn đề
giao tiếp được phân tích theo các khía cạnh khác nhau (y học, xã hội học, tâm lí
học...).
Trong lĩnh vực tâm lí học, tuỳ thuộc vào từng chuyên ngành các nhà nghiên
cứu đã đưa ra những định nghĩa giao tiếp khác nhau.
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từ góc độ tâm lí học liệu pháp (1991) định nghĩa:
“Sự giao tiếp là trao đổi giữa người với người thông qua một bộ mã. Người phát
tin mã hoá một số tín hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên truyền một ý nghĩa
nhất định để bên kia hiểu được”
Đó là mặt nhận thức, nhưng bao giờ trong giao tiếp cũng có mặt cảm xúc
quá trình thấm cảm và phân cảm của một cá thể riêng lẻ cũng không thoát khỏi
mối quan hệ đã trải qua những nhóm nhất định. Giao tiếp được xét với tư cách là
một khách quan xã hội, hình thái biểu hiện linh hoạt, phương thức sinh hoạt rất
đa dạng và phong phú của con người. Do đó giao tiếp vừa mang tính xã hội vừa
mang tính cá nhân.
Đặc điểm xã hội của giao tiếp thể hiện ở chỗ nó nảy sinh hình thành trong
xã hội và sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được chuyển từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Đặc điểm cá nhân thể hiện ở mặt nội dung, phạm vi,
phong cách, kỹ năng… giao tiếp của người này với người khác…
Cần nhấn mạnh giao tiếp có ba mặt quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự thông tin
qua lại giữa con người với con người, sự tác động qua lại với nhau giữa những
người tham gia giao tiếp, sự tri giác gữa con người với nhau.
Giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều phương tiện nhưng trong xã hội
loài người, ngôn ngữ được sử dụng như một công cụ để giao tiếp có tính toàn
năng bởi nó tiện lợi nhất, có hiệu quả nhất trong điều kiện giao tiếp bình thường
(chưa tính đến sự can thiệp của kĩ thuật viễn thông, kĩ thuật điều khiển từ xa…).
Nhu cầu giao tiếp là một loại nhu cầu tinh thần của con người thoả mãn
nhu cầu trao đổi thông tin, trao đổi hiểu biết, trao đổi tình cảm, cảm xúc, thiết
lập quan hệ với người khác. Đó là một trong những nhu cầu quan trọng và vĩ đại
nhất của con người cần phải được thoả mãn để tồn tại và phát triển với tư cách
một nhân cách, một chủ thể.
SVTH: Anh Lung
Page 7
1.2. Đặc điểm giao tiếp của học sinh tiểu học
Cuộc sống tâm lí của con người bắt đầu từ nhu cầu giao tiếp với con người,
trước tiên là những người xung quanh. Giao lưu sơ đẳng đã xuất hiện khi trẻ ba
tuần tuổi. Từ khi biết nói thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ trở nên cực kì quan
Nội dung giao tiếp của trẻ ở lứa tuổi này tập trung xung quanh các vấn đề
học tập và cuộc sống vui chơi, hoạt động tập thể trong nhà trường hoặc ở địa
phương. Ngôn ngữ trẻ đang phát triển.
Trong lĩnh vực giáo dục nội dung giao tiếp của học sinh tiểu học rất đa
dạng và phong phú. Giao tiếp cảm xúc: học sinh có thái độ của mình với bạn bè
xung quanh và tiếp nhận thái độ của bạn đối với mình; giao tiếp công việc nhằm
phối hợp để giải quyết nhiệm vụ chung nào đó.
Giao tiếp của học sinh tiểu học với nhau có ý nghĩa sống còn với đời sống
tinh thần của chúng. Các em không thể sống thiếu vắng bạn bè. Nhu cầu giao
tiếp của học sinh không được thoả mãn sẽ dẫn đến sự phát triển không bình
thường cả tâm lí và sinh lí, xã hội trong con người các em.
1.3. Giao tiếp với sự hình thành nhân cách của học sinh tiểu học
1.3.1. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
1.3.1.1. Tớnh chủ thể và tính hồn nhiên trong quá trình phát triển
Học sinh là một thực thể hồn nhiên tiềm ẩn khả năng tốt đẹp cho sự phát
triển mà ở trong nó hiện tồn tại một nhân cách đang hình thành giữa những tác
động muôn vẻ của giáo dục và đào tạo, của thực tại khác quan không ngừng đổi
mới và sôi động. Đối với các em tất thảy những gì của cuộc sống đều mới mẻ.
Trẻ em phải tham gia vào các mối quan hệ xã hội để chiếm lĩnh đối tượng vô
cùng mới mẻ đó nhằm chuyển những nội dung ấy vào bên trong biến thành
phẩm chất nhân cách của mình.
Trong thực tiễn, trẻ em tuổi nhi đồng luôn bộc lộ những nhận thức, tư
tưởng, tình cảm của mình một cách vô tư hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng.
Trẻ em ở độ tuổi nhi đồng cũng rất dễ xúc động và sống bằng tình cảm. Đời
sống tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực quan và giàu cảm xúc.
Tình cảm của các em dễ nảy sinh, thiếu tính ổn định và không bền vững. Tình
cảm trí tuệ của trẻ đang phát triển. K.Đ. Urinxki đã cho rằng: các em tuổi nhi
đồng đã biết suy nghĩ những hình ảnh, màu sắc âm thanh của đối tượng sống
bằng cảm xúc mạnh của chính mình. Trẻ thích tìm hiểu những cái li kì mạo hiểm
chưa được phát triển một cách hài hoà và tương xứng nhau. Do vậy ở các em,
các quá trình cũng như thuộc tính và trạng thái tâm lí cũng có sự phát triển
không đều.
1.3.2. Giao tiếp tác động tới hình thành nhân cách
Giao tiếp là một trong những đặc trưng, bản chất của tâm lí con người, của
ý thức và nhân cách. Nếu sự phát triển tâm lí của cá nhân là quá trình lĩnh hội
SVTH: Anh Lung
Page 10
kinh nghiệm của loài người đã tích luỹ được (L.X. Vưgôtxki, 1965; A.V.
Ziaprogiet, Đ.N. Lêonchiev, 1965…) thì giao tiếp phải là một nhân tố cơ bản của
sự phát triển tâm lí đó. Xét quá trình phát triển của cá thể người thì giao tiếp là
một nguồn quan trọng nhất của sự phát triển tâm lí đó.
Thực vậy các nhà tâm lí học Liên Xô (trước đây) đã chỉ ra rằng sự phát
triển của trẻ về nguyên tắc với sự phát triển của động vật non được hình thành
theo con đường di truyền còn ở con người thì kinh nghiệm lịch sử của xã hội
trước đây để lại có ý nghĩa cơ bản. Kinh nghiệm này được củng cố, được truyền
lại không bằng con đường di truyền sinh học mà bằng con đường bên ngoài, con
đường vật hoá, con đường đối tượng là quá trình hoạt động xã hội - lịch sử vào
những sản phẩm do loài người sáng tạo ra, vào công cụ, vào đồ vật trong gia
đình (C. Mác). Nếu không có sự lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử thì không thể có sự
phát triển tâm lí nào. Muốn có sự lĩnh hội ấy thì nhất thiết phải có sự giao tiếp
của trẻ em với người lớn.
Quá trình xã hội hoá tức là sự gia nhập môi trường xã hội thực sự thích ứng
với nó, việc lĩnh hội có vai trò và chức năng được mỗi cá thể trẻ em lặp lại theo
thế hệ đi trước trong suốt tiến trình lịch sử hình thành loài người. Những trường
hợp trẻ em bị thiếu giao tiếp hoặc bị giam giữ cách bức với cuộc sống xã hội đã
xác nhận sự phát triển tâm lí và sinh lí của cơ thể người không giống nhau. Não
1.4. Một số trở ngại trong giao tiếp
Các trở ngại trong giao tiếp có thể là:
- Sự quá chênh lệch giữa người phát và người thu. Bản thông điệp được
xây dựng có nhiều nhược điểm, nhiều yếu tố tâm sinh lí, làm cho người đối thoại
không sẵn sàng giao tiếp, một số trở ngại do môi trường không thuận lợi.
- Sự quá chênh lệch giữa người phát và người thu (về tuổi tác, cương vị,
thu nhập, môi trường xã hội, văn hoá) có thể là những yếu tố gây hiểu lầm hoặc
không hiểu nhau.
- Khả năng xây dựng và trình bày bản thông điệp (diễn đạt) của người phát
tin được phân tích thành các yếu tố sau:
+ Khả năng nói rõ ràng.
+ Khả năng diễn cảm, biểu hiện được thái độ.
+ Khả năng quy chiếu, đáp ứng trúng các đặc điểm tâm lí của người nghe,
nhu cầu của họ.
+ Khả năng siêu ngữ, làm cho một vài khía cạnh của vấn đề được thật sáng
tỏ, nói ít hiểu nhiều.
SVTH: Anh Lung
Page 12
+ Khả năng duy trì sự tiếp xúc, sự chú ý của đối tượng.
+ Khả năng sáng tạo dùng các từ và tổ hợp từ làm cho bảng thông điệp đem
lại sự thú vị của bài nói.
Bất kì các yếu tố nào có khả năng xây dựng và trình bày bản thông điệp của
người phát thông tin không được đảm bảo đều gây trở ngại cho giao tiếp.
Về mặt tâm lí những yếu tố gây trở ngại trong giao tiếp là:
- Những chấn thương tình cảm.
- Những sự khác nhau về chính kiến, những xung đột.
- Những sự tưởng tượng, đánh giá về người khác, những định kiến có sự
thầy cô nào cũng thông cảm với hoàn cảnh các em, đôi khi các thầy cô cùng vô
ý có những hành động làm các em bị tổn thương.
Không ai đòi hỏi thầy cô giải quyết hết những bi kịch mà xã hội và gia đình
gây ra, Nhưng với những học sinh kém may mắn hơn ấy, ít nhất đến trường thầy
cô cũng nên quan tâm, nhiều khi chỉ cần một lời nói thông cảm là đủ khuấy lên
trong con người những em bé ấy nguồn sinh lực dồi dào giúp các em vượt qua
thử thách.
SVTH: Anh Lung
Page 14
Chương 2.
Thực trạng và nguyên nhân một số khể khăn trong giao tiếp mà
Học SINH gặp phải
Khó khăn tâm lý trong giao tiếp là toàn bộ những đặc điểm tâm lý cá nhân
và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung đối tượng và hoàn cảnh
giao tiếp.
Tôi đã tiến hành điều tra thực trạng những khó khăn tâm lý trong giao tiếp
mà học sinh gặp phải trên 65 học sinh của 2 lớp 3A và 3B trường Tiểu học Yờn
Húa-Minh Húa-Quảng Bỡnh bằng hệ thống câu hỏi kết hợp với việc quan sát và
trò chuyện với các em.
Kết quả thu được như sau:
2.1. Biểu hiện khó khăn tâm, lý giao tiếp mà học sinh gặp phải
2.1.1. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh với GV
Bảng 1. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh lớp 3 với GV
STT
1.
2
Đôi khi
Không bao giờ
SL
1
%
1,53
SL
5
%
7,69
SL
59
%
90,78
1
1,53
0
0
16,92
29
44,61
25
38,47
3
4,63
15
20,07
47
72,30
9
13,86
49
75,38
Nguyên nhân là các em đã được rèn luyện thói quen chào các thầy (cô) giáo
của mình dù ở trường hay ở nơi khác.
Học sinh lớp 3 trường Tiểu học Yờn Húa-Minh Húa-Quảng Binh cũn cho
rằng thầy (cô) giáo của mình là người gần gũi. Trong số 65 em được hỏi chỉ có 3
em chiếm 4,63% thường xuyên cảm thấy thầy (cô) giáo của mình là người khó
gần, có 15 em chiếm 23,07% đôi khi cảm thấy thầy (cô) giáo của mình là người
khó gần, có tới 47 em chiếm 72,30% không bao giờ cảm thấy thấy (cô) giáo là
người khó gần.
Kết quả trên cũng là điều dễ hiểu vì trường Tiểu học Yờn Húa-Minh HúaQuảng Bỡnh có hầu hết các lớp là lớp bán trú. học sinh ở trường cả ngày, ăn,
nghỉ trưa tại trường. Các thầy (cô) giáo trong trường không chỉ dạy kiến thức,
giáo giúc đạo đức mà còn chăm lo cho các em từ bữa ăn đến giấc ngủ nên các
em quen với sự có mặt của các thầy (cô), các em cũng yêu quý thầy (cô) của
mình nên khá tự tin khi tiếp xúc với thầy (cô) giáo.
Để tìm hiểu khó khăn của học sinh khi không hiểu lời nói của giáo viên tôi
đặt câu hỏi: “Khi cô giáo giảng bài hoặc giao nhiệm vụ, em có thường xuyên
cảm thấy lời của cô giáo khó hiểu không ?” có 64 em chiếm 98,47% không bao
giờ cảm thấy lời của cô giáo khó hiểu, chỉ có 1 em chiếm 1,53% thường xuyên
cảm thấy lời của giáo viên khó hiểu. Như vậy, khó khăn “Không hiểu lời nói của
SVTH: Anh Lung
Page 16
giáo viên” ít xảy ra với học sinh. Bởi vì, trường Tiểu học Yờn Húa là một trong
những trường điểm của huyện Minh Húa, giáo viên trong trường là những giáo
viên giỏi, giàu kinh nghiệm, diễn đạt rõ ràng, khả năng diễn cảm tốt và luôn tìm
được những từ ngữ đơn giản, dễ hiểu khi giảng bài và khi giao nhiệm vụ cho học
sinh. Có một số học sinh thường xuyên cảm thấy lời nói của cô giáo khó hiểu,
qua quan sát tôi thấy khả năng tập trung vào bài học của học sinh đó là rất kém.
Khi không hiểu lời của giáo viên có 56 học sinh chiếm 86,15% thường
cảm thấy lo lắng, chỉ có 23 em chiếm 35,39% không cảm thấy lo lắng khi nhân
nhiệm vụ mà giáo viên giao.
Khi làm sai bài tập hoặc bị mắc khuyết điểm mà cô giáo phát hiện, chỉ có
13 em chiếm 20,01% không bao giờ lo lắng, có 46 em chiếm 70,76% đôi khi lo
lắng và có 6 em chiếm 9,23% thường xuyên cảm thấy sợ hãi lo lắng.
Bởi vì, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất đối với học sinh, các em rất
thích được cô giáo khen, được bạn bè tán thưởng, thích được điểm 9, điểm 10 dể
về nhà khoe với bố, mẹ... Tâm lý chung của học sinh là sợ hãi, lo lắng khi mắc
khuyết điểm, khi không đạt điểm tốt. Các em sợ bị bố mẹ mắng , trách phạt
thậm chí là đánh đòn khi bị điểm kém hay bị thầy cô giáo phê bình.
Như vậy, khó khăn lớn nhất của học sinh trong giao tiếp với giáo viên là
thiếu tự tin khi trả lời câu hỏi của giáo viên và lo lắng khi nhận nhiệm vụ mà
giáo viên giao cho. áp lực khi giao tiếp với giáo viên trong học tập là khá nặng
nề với học sinh.
2.1.2. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh với bạn bè
Bảng 2. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh lớp 3 với bạn bè
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Thường xuyên
SL
%
Khó khăn
Giờ chơi thường chơi một
7,69
Không bao giờ
SL
%
59
90,78
5
7,69
59
90,78
16
24,61
46
70,78
1
1,53
62
hỏi bài tập
8.
9.
10.
11
16,92
16
24,62
38
58,46
0
0
1
1,53
64
98,47
một mình, có duy nhất 1 em chiếm 1,53% trả lời là thường xuyên chơi một
mình.
Bởi vì học sinh Tiểu học là thực thể hồn nhiên, vô tư, trong sáng và rất hiếu
động. Vui chơi cùng bạn bè là không thể thiếu được của các em. Các em thường
chia thành nhóm nhỏ chơi trò chơi yêu thích. Những em ngồi cùng bàn, hay ngồi
ở các bàn gần nhau chơi với nhau thân thiết hơn.
Những học sinh đôi khi thích chơi một mình là các em: Chí Công, Khánh
Huyền, Tử Long, Mạnh Hùng, Anh Tuấn. Những em này đôi khi bày trò chơi
cho riêng mình. Chí Công thích vẽ và nặn, Khánh Huyền: làm thủ công, Tử
Long chơi ghép hình, Mạnh Hùng và Anh Tuấn đọc báo. Khi đang chơi một
mình các em rất khó chịu nếu có bạn khác “xen” vào, có một em thường ngồi
chơi một mình đó là em Tiến Dũng, em rất “hiền” và “ít nói”.
Học sinh cũng không gặp khó khăn trong việc làm quen với bạn mới, có 59
em chiếm 90,78% thường xuyên làm quen ngay với bạn mới, có 5 em chiếm
7,69% đôi khi không dám làm quen với bạn mới, chỉ có 1 em chiếm 1,53%
không làm quen với bạn mới. Bởi vì, học sinh Tiểu học rất thích có nhiều bạn,
SVTH: Anh Lung
Page 19
các em cũng hồn nhiên vô tư đối xử với bạn mới cũng như với bạn đã thân quen
từ lâu.
Học sinh Tiểu học cũng rất thích và cảm thấy tự tin, tự hào khi được giao
giữ chức vụ nào đó trong lớp. Khi được hỏi có 62 em chiếm 95,40% không bao
giờ từ chối không nhân chức vụ được giao, 1 em chiếm 1,53% đôi khi từ chối và
có 2 em chiếm 3,07% thường xuyên từ chối không nhận. Nguyên nhân là vì các
em rất thích được làm cán bộ lớp. Khi được làm cán bộ lớp các em thấy mình có
vai trò quan trọng, được thầy(cô) đánh giá cao, bạn bè nể phục và được bố mẹ
tin tưởng. Học sinh cũng ít gặp khó khăn khi nói trước các bạn. Có 38 em chiếm
thích: 14 em chiếm 18,75%, học sinh Tiểu học ít trao đổi về các vấn đề khác
như: chuyện gia đình, ca nhạc, phim ảnh, hay chuyện của lớp khác. Bởi vì nhiệm
vụ quan trọng nhất và công việc chính của học sinh Tiểu học là học tập. Học
sinh tiểu học cũng rất thích nói về sở thích và mơ ước của mình. Như vậy, nội
dung giao tiếp của học sinh Tiểu học còn hẹp.
Không gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp thông thường với bạn bè nhưng
khó khăn trong giao tiếp lớn nhất mà học sinh Tiểu học gặp phải chính là các em
không biết phối hợp với nhau trong các hoạt động tập thể.
Cụ thể: Có 41 em chiếm 63,09% thường xuyên không thích tham gia các
hoạt động tập thể, có 17 em chiếm 26,15% đôi khi không thích tham gia các
hoạt đông tập thể, chỉ có 7 em chiếm 10,76% thích tham gia các hoạt động cụ
thể.
Nguyên nhân của tình trạng trên là các hoạt động tập thể của trường còn
mang tính hình thức và đơn điệu. Các hoạt động tập thể của trường phần lớn
mang tính nghi thức không gây được hứng thú cho học sinh như: chào cờ đầu
tuần, thể dục giữa giờ... Một số hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn như: Ngày
8/3, ngày 26/3... tổ chức thi các cuộc thi “Năm cánh hoa học trò”, Rung chuông
vàng”, “Thi kéo co”, ... thì chỉ có một số ít học sinh được tham gia nên học sinh
trong lớp chưa có điều kiện phối hợp với nhau trong các hoạt động tập thể. Tuy
trong tuần, mỗi lớp có một tiết hoạt động tập thể nhưng tiết này thường được các
giáo viên tận dụng để dạy các bài tập nâng cao của môn khác.
Như vậy, học sinh chưa có điều kiện mở rộng giao lưu với bạn bè và giáo
viên ngoài giờ học.
SVTH: Anh Lung
Page 21
Học sinh lớp 3 trường Tiểu học Yờn Húa cũng chưa tích cực giúp đỡ bạn
với người thân trong gia đình
Mức độ
STT
1.
Khó khăn
“Ngại” kể chuyện ở lớp, ở
Thường
xuyên
SL
%
8
12,32
Đôi khi
Không bao
giờ
SL
37
%
56,92
SL
20
%
93,84
10
15,39
37
56,92
18
27,65
0
0
2
3,08
63
96,92
0
0
chỉ có 3 em chiếm 4,62% thường xuyên cảm thấy căng thẳng. Bởi vì Học sinh
lớp 3 trường Tiểu học Yờn Húa đa số là con của cán bộ công nhân viên chức, gia
đình kinh tế khá, ít con nên các em được bố mẹ chiều chuộng quan tâm. Các em
cũng yêu quý bố mẹ mình nên các em khá tự nhiên khi trò chuyện với bố mẹ.
Khi mắc khuyết điểm có 61 em chiếm 93,84% không lo lắng nên nhận lỗi
ngay với bố mẹ, 4 em chiếm 6,16% đôi khi lo lắng nên chỉ nhận lỗi khi bố mẹ đã
biết, không có em nào trốn tránh không nhận lỗi. Bởi vì khi các em mắc khuyết
điểm phần lớn bố mẹ các em chỉ nhắc nhở phê bình (56 em chiếm 86,16%) chỉ
có 9 em chiếm 13,84% bị bố mẹ mắng , trách phạt. Hơn nữa tự bản thân học
sinh cũng muốn nhận lỗi khi mắc khuyết điểm.
SVTH: Anh Lung
Page 23
Tuy học sinh được bố mẹ quan tâm chăm sóc, các em cũng khá tự nhiên
trong quan hệ với bố mẹ nhưng qua điều tra tôi thấy bố mẹ học sinh chưa thật sự
hiểu các em. Sự quan tâm của bố mẹ các em chủ yếu ở việc chăm nom cho các
em về ăn mặc, chứ chưa thực sự quan tâm đến nhu cầu giao tiếp của các em. Có
8 em chiếm 12,32% thường xuyên cảm thấy ngại khi kể chuyện ở lớp, ở trường
cho người thân trong gia đình nghe, có 37 em chiếm 56,92% đôi khi thấy ngại,
có 20 em chiếm 39,76% không ngại.
Đa số học sinh ngại kể chuyện ở trường, lớp cho bố mẹ nghe. Nhất là
những em có học lực kém hơn càng không thích kể chuyện ở lớp đặc biệt là ngại
kể về những người bạn học khá hơn. Vì sợ bố mẹ so sánh với bạn bè. 20 em
không ngại kể chuyện ở lớp, trường cho bố mẹ nghe là những em học khá hơn.
Khi chưa hiểu vấn đề nào đó, chỉ có 18 em chiếm 27,69% thường xuyên
thắc mắc với bố mẹ, có 37 em chiếm 56,92% đôi khi mới thắc mắc, 1 em chiếm
15,39% không bao giờ thắc mắc. Qua điều tra, trò chuyện với học sinh, khi
không hiểu vấn đề nào đó hoặc khi không làm được bài tập, người mà các em
3
Từ khó khăn tâm lý trong giao tiếp của trẻ là có thực và ảnh hưởng tiêu cực
của những khó khăn này gây ra cho học sinh, nên việc tìm hiểu nguyên nhân gây
ra khó khăn tâm lý trong giao tiếp của trẻ là việc làm cần thiết để từ đó tìm ra
các giải pháp để tháo gỡ các khó khăn trên.
Để tìm hiểu nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến khó khăn trong
giao tiếp của học sinh tôi điều tra trên 24 giáo viên của trường Tiểu học Yờn
Húa.
2.2.1. Nguyên nhân khách quan
SVTH: Anh Lung
Page 25