HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA GIÁO DỤC
_____________
______________
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP
CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Giảng viên hướng dẫn Chủ nhiệm đề tài
ThS. Lê Thị Thủy Nguyễn Cao Cường
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu)
HÀ NỘI, 3/2014
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
1. Danh sách thành viên
STT Họ và tên Ghi chú
01 Nguyễn Cao Cường Chủ nhiệm
02 Nguyễn Thị Hiên Thành viên
2. Đơn vị phối hợp
STT Đơn vị Nội dung
01 Khoa giáo dục Nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực trạng
02 Khoa Quản lý Nghiên cứu thực trạng
03 Khoa Công nghệ thông tin Nghiên cứu thực trạng
2
MỤC LỤC
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
4
QLGD hạn chế và khắc phục khó khăn tâm lý trong giao tiếp là điều cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài "Khó khăn
tâm lý trong giao tiếp của sinh viên năm nhất HV QLGD"làm đề tài nghiên cứu
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong giao tiếp của sinh viên năm nhất Học
viện Quản lý giáo qua đó tìm hiểu nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục khó
khăn trên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khó khăn tâm lý trong giao tiếp của sinh viên năm nhất Học viện Quản lý giáo dục.
6
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu 237 Sinh viên năm thứ nhất Học viện
Quản lý giáo dục. Trong đó: 97 SV Khoa GD; 95 SV Khoa QL; 45 SV Khoa CNTT.
4. Giả thuyết khoa học của đề tài
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
(giao tiếp, khó khăn tâm lý, khó khăn tâm lý trong giao tiếp).
5.2. Tìm hiểu thực trạng một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp của sinh
viên năm nhất Học viện Quản lý giáo dục và nguyên nhân của thực trạng đó.
5.2 Đề ra một số biện pháp khắc phục những khó khăn nêu trên.
6. Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập chung
nghiên cứu khó khăn tâm lý trong giao tiếp của sinh viên năm nhất Học viện Quản
lý giáo dục.
- Giới hạn về địa điểm nghiên cứu: chỉ nghiên cứu trên 237 sinh viên năm
nhất ở ba khoa Giáo dục; Quản lý; CNTT Học viện Quản lý giáo dục.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Vị trí của hiện tượng giao tiếp, khó khăn trong cấu trúc các vấn đề tâm lý
xã hội.
+ Những đặc điểm của việc nhận thức các nguyên nhân gây ra khó khăn
trong giao tiếp công việc.
+ Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố khó khăn đến quá
trình giao tiếp công việc.
Qua công trình nghiên cứu này tác giả đã phát hiện một số khó khăn trong
giao tiếp và nguyên nhân nảy sinh chúng. Song tác giả chưa đưa ra được định nghĩa
về KKTL trong giao tiếp và chưa phân loại chúng một cách cụ thể.
8
1.1.2. Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, vấn đề KKTL trong giao tiếp được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu.
- Tác giả Huyền Phan với bài viết: "Những trở ngại tâm lý khi giao tiếp”, đã
cho biết, trong nhiều tình huống giao tiếp, chủ thể giao tiếp không đạt được mục
đích vì bị trở ngại tâm lý ngăn cản. Vì vậy, muốn giao tiếp đạt mục đích, chủ thể
giao tiếp cần vượt qua các trở ngại tâm lý đó là:
+ Bức tường định kiến do các ác cảm với một người náo đó, do cái nhìn
thiên lệch đã tạo ra ấn tượng không tốt đẹp khi giao tiếp.
+ Bức tường ác cảm nảy sinh, khi có định kiến với đối tượng.
+ Bức tường sợ hãi xuất hiện do những suy nghĩ, băn khoăn dẫn đến tiếp xúc
gượng ép, thiếu tự tin.
+ Bức tường thiếu hiểu biết nảy sinh do khi tiếp xúc không hiểu nhau hoặc
không hiểu đúng về nhau.
Theo tác giả, khắc phục được những bức tường trở ngại này thì chắc chắn
giao tiếp sẽ đạt mục đích đề ra.
- Tác giả Nguyễn Thanh Bình trong giáo trình TLH giao tiếp phần "trở ngại
tâm lý trong giao tiếp"cũng đã đưa ra những nguyên nhân gây ra các trở ngại tâm lý
trong giao tiếp, chẳng hạn:
+ Hoàn cảnh giao tiếp
của con người, hàng rào tâm lý xuất hiện như những vách ngăn trong giao tiếp(thiếu
sự đồng cảm, sự sơ cứng của các tâm thế xã hội liên nhân cách [tr.89]
Tập hợp tất cả những các nghĩa trong các từ điển nêu trên chúng ta có thể
hiểu khó khăn là những trở ngại, cản trở đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua.
Và trong hoạt động cũng như cuộc sống hàng ngày, chúng ta đều gặp những
khó khăn trở ngại, những trở ngại này làm cho con người không tiến hành được
hoạt động hoặc làm cho hoạt động không đạt kết quả như mong muốn. Những khó
khăn này do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan gây ra:
- Yếu tố khách quan (bên ngoài) đó là môi trường sống và làm việc, có thể là
phương tiện, điều kiện sống và làm việc.
- Yếu tố chủ quan (bên trong) đó là những đặc điểm về sinh lý, đặc điểm tâm
lý tạo ra như: tâm thế, sự hồi hộp, lo lắng, sự mặc cảm, tự ti, sự thiếu hiểu biết,
thiếu kinh nghiệm hoặc cũng có thể do khả năng tự nhận thức bản thân, tự kiềm
chế, tự chủ bản thân kém, Những khó khăn do đặc điểm tâm lý gây ra gọi là khó
khăn tâm lý.
Vậy, khó khăn tâm lý (hay còn gọi là trở ngại tâm lý) là những yếu tố tâm lý
gây cản trở hoạt động của con người làm giảm thiểu hiệu quả hoạt động.
1.2.2. Khái niệm giao tiếp
10
Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học. Tư tưởng
về giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỉ
XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp. Ngay từ khi còn là
tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất
giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một
khía cạnh của hoạt động giao tiếp.
Tuy mới hình thành mấy chục năm gần đây nhưng trong chuyên ngành Tâm
lý học đã có nhiều ý kiến, quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về giao tiếp. Khi tìm
hiểu khám phá bản chất giao tiếp các nhà Tâm lý học đã có các hướng khá rõ nét:
1.2.2.1. Trên thế giới
Nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E cho rằng giao tiếp bao gồm các hành
song song cùng hoạt động (B.Ph.Lomov).
Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm về giao
tiếp của mình: Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng
thức ứng xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm ấy, không có sự
đối lập giữa giao tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời: giao tiếp là một tổng thể
toàn vẹn.
1.2.2.2. Ở Việt Nam
Theo “Từ điển Tâm lý học"của Vũ Dũng. Giao tiếp là quá trình thiết lập và
phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động. Giao tiếp
bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động
thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: Giao
lưu, tác động tương hỗ và tri giác.
Theo “Từ điển Tâm lý học"của Nguyễn Khắc Viện. Giao tiếp là quá trình
truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay một
nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác). Thông tin hay thông
điệp được nguồn phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng một mã
chung.
Theo “Tâm lý học đại cương"của Trần Thị Minh Đức(chủ biên). Giao tiếp là
quá trình tiếp xúc giữa con người với con ngươi nhằm mục đích nhận thức, thông
qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại
lẫn nhau.
12
Theo “Tâm lý học xã hội"của Trần Thị Minh Đức(chủ biên). Giao tiếp là sự
tiếp xúc trao đổi thông tin giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ, cử
chỉ, tư thế, trang phục,
Theo "Tâm lý học đại cương"của tác giả Nguyễn Xuân Thức(chủ biên). Giao
tiếp là sự tiếp sức tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với
nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với
nhau. Hay nói khác đi giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện
thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác.
nhân.
1.2.4.1. Về nhận thức trong giao tiếp
Như chúng ta đã biết, nhận thức là yếu tố quan trọng đầu tiên trong đời sống
tâm lý của con ngýời. Nhờ có nhận thức mà con ngýời tỏ thái ðộ và có những hành
vi ứng xử týõng ứng. Trong thực tế, con người không phải bao giờ cũng có nhận
thức đúng đắn trước các vấn đề của cuộc sống và trong giao tiếp cũng vậy. Người
có KKTL trong giao tiếp thường biểu hiện như:
- Hiểu biết chưa đầy đủ về nội dung, đối tượng, hoàn cảnh và mục đích của
cuộc giao tiếp do chưa được rèn luyện giao tiếp và kỹ năng giao tiếp hiệu quả; giáo
viên chưa thật sự coi trọng và hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh được trải
nghiệm và rèn luyện giao tiếp, kỹ năng giao tiếp; hoặc do cá nhân người học chưa
chủ động, tích cực, tự giác học tập và rèn luyện giao tiếp.
- Chưa nhận thức đúng về bản thân, thường đánh giá mình quá cao dẫn đến
tự tin thái quá; hoặc đánh giá mình quá thấp, dẫn đến thiếu tự tin, tự ti, mặc cảm với
chính khả năng của bản thân.
- Chưa nhận thức đúng đắn về vai trò, tác dụng của giao tiếp, dẫn đến tình
trạng thiếu tự tin, căng thẳng, sợ mắc phải những sai lầm hoặc thờ ơ, vô cảm, chủ
quan, thiếu tích cực trong quá trình giao tiếp,
1.2.4.2. Về mặt xúc cảm tình cảm
Xúc cảm tình cảm là sự thể hiện những thái độ rung cảm của chủ thể trong
quá trình giao tiếp. Người có KKTL trong giao tiếp thường có những biểu hiện sau:
- Không chú ý, quan tâm, say mê trong giao tiếp, tỏ thái độ thờ ơ, không tích
cực trong giao tiếp.
- Không thể hiện những thái độ tình cảm thân thiện, thiện chí khi giao tiếp;
không làm chủ được trạng thái cảm xúc của mình.
14
- Trong giao tiếp luôn tỏ thái độ e ngại, rụt rè, thậm chí là sợ hãi, chân tay
run rẩy khi tham gia giao tiếp, nhất là giao tiếp những chỗ đông người.
- Thụ động trong giao tiếp; ngại ngùng, mặc cảm, tự ti khi những chỗ đông
người, nhất là những người có vị trí và địa vị hơn mình,
e ngại, rụt rè như: đỏ mặt, hai tay cầm lấy nhau,
- Người có nhân cách hướng ngoại có khó khăn đặc trưng là kém tập trung
chú ý vào đối tượng giao tiếp trong thời gian dài.
Cùng với đó là những thay đổi về mặt cơ thể(tuổi dậy thì) thì sẽ làm cho tâm
lý giao tiếp của các bạn sinh viên năm nhất gặp phải những khó khăn nhất định: sự
bất ổn tâm lý, hay cáu gắt, tranh luận gay gắt, hay có những hành động phi ngôn
ngữ không hợp lý, không lịch sự- tế nhị với người giao tiếp,
1.2.5.2. Nguyên nhân chủ quan
Như chúng ta đã biết, trở ngại tâm lý trong giao tiếp thường được biểu hiện
qua ba mặt: nhận thức, xúc cảm- tình cảm và hành vi ứng xử. Người gặp khó khăn
trong giao tiếp thường không hiểu biết đầy đủ về đối tượng giao tiếp, về chính bản
thân mình. Họ thường thiếu khả năng kiềm chế cảm xúc, tình cảm của bản thân khi
giao tiếp với người khác, đồng thời có những hành vi ứng xử thiếu tự nhiên, gò bó.
Cụ thể như:
- Trong quá trình giao tiếp, sinh viên chưa xác định được động cơ và mục đích
giao tiếp đúng đắn.
- Do chưa thấy hết được ý nghĩa, vai trò to lớn của việc giao tiếp tốt nên chưa
có ý thức rèn luyện giao tiếp thường xuyên.
- Do có định kiến, quan điểm, ý kiến không tốt về đối tượng giao tiếp.
- Do khả năng giao tiếp của sinh viên chưa tốt.
- Do chưa chuẩn bị tâm thế tốt, sẵn sàng cho một cuộc giao tiếp.
- Do sự khác nhau về phong tục tập quán, văn hóa địa phương, ngôn ngữ địa
phương,
- Do sinh viên chưa nhận thức, đánh giá đúng khả năng của bản thân.
- Sinh viên chưa chủ động, tích cực, tự giác tham gia rèn luyện giao tiếp.
- Do tâm lý e ngại, ngại ngùng, chênh lệch về địa vị xã hội khi giao tiếp.
- Do ấn tượng ban đầu của sinh viên với người giao tiếp không tốt sẽ gây cản
trở cho những lần giao tiếp về sau.
- Do năng lực, khả năng còn hạn chế (nói lắp, nói ngọng, mắt kém ) ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình giao tiếp(tiếp nhận thông tin).
nhất Học viện Quản lý giáo dục, khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, hầu như các
em chưa có những kiến thức cơ bản, sơ đẳng về giao tiếp nói chung và kỹ năng giao
tiếp nói riêng. Trong thời gian đầu học tập trên đại học chỉ là giai đoạn chuẩn bị ban
đầu cho các em có những điều kiện và cơ hội giao tiếp và rèn luyện giao tiếp tốt.
Những KKTL đó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của hoạt động giao tiếp của
17
sinh viên năm nhất, làm cản trở quá trình giao tiếp hiệu quả. Ảnh hưởng của
những KKTL tới hoạt động giao tiếp của sinh viên năm nhất biểu hiện ở một số
điểm sau đây:
- Là hàng rào ngăn cản, làm giảm tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
sinh viên trong quá trình giao tiếp.
- Làm cho sinh viên khó vượt qua những khó khăn trong quá trình giao tiếp
của mình.
- Làm cho các em sinh viên cảm thấy mất tự tin khi tiến hành hoạt động
giao tiếp.
- Làm cho các em không phát huy được hết khả năng thật sự của bản thân,
thiếu chủ động, sáng tạo trong giao tiếp.
- Ngăn cản việc hình thành những kỹ năng giao tiếp hiệu quả của sinh viên.
- Gây trở ngại đối với việc hình thành những phẩm chất, năng lực cần thiết
đối với nghề nghiệp tương lai của sinh viên,
Vì những ảnh hưởng tiêu cực của những KKTL đến kết quả giao tiếp hiệu
quả nêu trên, cho nên trong quá trình tổ chức hoạt động giao tiếp cho sinh viên năm
nhất Học viện Quản lý giáo dục cần giúp cho các em nhận thức rõ những KKTL đó
và có biện pháp phù hợp để giúp các em khắc phục, hạn chế ảnh hưởng của những
KKTL đối với hoạt động giao tiếp nói chung và hình thành những kỹ năng giao tiếp
hiệu quả nói riêng.
Tóm lại: KKTL xuất hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Trong
đó có KKTL trong giao tiếp của sinh viên năm nhất Học viện Quản lý giáo dục.
KKTL trong giao tiếp là những đặc điểm tâm lý cá nhân thể hiện sự không phù hợp
giữa nhận thức, xúc cảm- tình cảm và hành vi ứng xử của cá nhân với nội dung, đối
trạng. Trên cơ sở đó điều tra thu thập thông tin, từ đó kiến nghị biện pháp nhằm
khắc phục bớt KKTL trong giao tiếp thường gặp.
Giai đoạn nghiên cứu này được thể hiện qua những bước sau:
19
Bước 1: Điều tra sơ bộ trên 45 SV nhằm sơ bộ tìm hiểu những KKTL trong
giao tiếp của SV, tìm hiểu nguyên nhân gây nên KKTL đó.
Để thăm dò chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến, gồm hệ thống câu hỏi
(phụ lục 1). Kết quả thu được từ điều tra thăm dò cho chúng tôi những thông tin làm
căn cứ để xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến ở lần điều tra tiếp theo, chính thức trên
toàn bộ khách thể nghiên cứu.
Bước 2: Điều tra lần 2
• Điều tra SV:
Mục đích của lần điều tra này nhằm tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân gây
ra những KKTL trong giao tiếp của SV năm nhất HV QLGD; đồng thời tìm hiểu ý
kiến của SV về những biện pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của KKTL khi giao tiếp
để giao tiếp của SV diễn ra hiệu quả hơn.
Phiếu điều tra trưng cầu ý kiến lần 2 được xây dựng trên cơ sở phân tích,
tổng hợp kết quả điều tra lần 1, cùng với những nghiên cứu về mặt lý luận của các
tác giả, với hệ thống câu hỏi đóng và mở đã tạo điều kiện cho người trả lời có thể
lựa chọn đáp án và nêu ý kiến, nhận định của bản thân về vấn đề nghiên cứu.
• Điều tra GV:
Mục đích là lấy ý kiến của GV về những vấn đề có liên quan đến đối tượng
nghiên cứu như: ý kiến của GV về thái độ, tinh thần- thái độ của SV khi giao tiếp,
việc rèn luyện kỹ năng, những KKTL mà SV gặp phải, ý kiến của GV về biệp pháp
tác động nhằm hạn chế KKTL cho SV trong giao tiếp.
Bước 3: Xử lý kết quả điều tra
- Để tìm hiểu thực trạng KKTL trong giao tiếp của SV năm nhất HV QLGD
chúng tôi dùng câu hỏi số 8 trong phiếu điều tra (phụ lục 2). Kết quả thu được
chúng tôi sử dụng toán thống kê để tổng hợp theo tần số xuất hiện của KKTL trên
tổng số khách thể nghiên cứu. Căn cứ vào kết quả thống kê, chúng tôi đánh giá và
Đây là phương pháp rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu. Trong đề tài này
quan sát được chúng tôi sử dụng làm phương pháp bổ trợ nhằm thu thập những
thông tin thực tế về:
- Thái độ, tính tích cực của SV và tập thể SV trong hoạt động giao tiếp.
- Các hình thức tổ chức, cách tiến hành giao tiếp.
- Hoạt động giao tiếp của SV trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô, anh chị
khóa trên nhằm tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc mà họ gặp phải,
phát hiện những nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra những
KKTL ở SV năm nhất trong hoạt động giao tiếp.
21
Để thực hiện phương pháp này, chúng tôi tiến hành quan sát biểu hiện của
một số KKTL ở SV thông qua dự giờ một số tiết học. Ngoài ra chúng tôi còn tiến
hành quan sát SV trong các hoạt động ngoại giờ lên lớp khác, các hoạt động khác
của SV. Các thông tin thu thập được trong khi quan sát được ghi chép đầy đủ và
được xử lý nhằm bổ sung cho những kết quả thu được qua phương pháp điều tra
viết.
2.4.3. Phương pháp đàm thoại
Đây là phương pháp thu thập thông tin, phân tích những phản ứng bằng lời
của SV, GV và cán bộ quản lý diễn ra trong cuộc trò chuyện với mục đích mà người
nghiên cứu đã xác định.
Chúng tôi tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với SV, GV và cán bộ quản
lý trên tinh thần cởi mở, thân thiện, cầu thị nhằm mục đích thu thập ý kiến của các
đối tượng này về KKTL của SV trong giao tiếp, về nhận thức, thái độ, tính tích cực
của SV,
Trong và sau khi kết thúc cuộc trò chuyện, chúng tôi tiến hành ghi lại các ý
kiến của người trò chuyện, tổng hợp các ý kiến để bổ sung kết quả nghiên cứu của
các phương pháp khác.
2.4.4. Phương pháp điều tra viết
Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài. Chúng tôi xây dựng hệ
thống câu hỏi (đóng và mở) bằng văn bản và tiến hành điều tra trên 237 SV và một
điền đầy đủ những thông tin cơ bản về cá nhân.
+ Yêu cầu SV có thái độ nghiêm túc, trả lời đầy đủ, chân thực những câu hỏi.
Trược tiếp hướng dẫn SV cách trả lời và giải quyết các thắc mắc của SV.
* Điều tra trên GV:
Mục đích là lấy ý kiến của GV về những vấn đề có liên quan đến đối tượng
nghiên cứu như: Ý kiến của GV về nhận thức, thái độ, tinh thần của SV trong giao
tiếp, những KKTL mà SV thường gặp và nguyên nhân của nó; những biện pháp để
giúp SV hạn chế, khắc phục những KKTL đó (phụ lục 2).
* Xử lý kết quả điều tra:
- Đánh giá thực trạng KKTL ở SV trong giao tiếp chúng tôi dùng câu hỏi số
8 trong phiếu điều tra (phụ lục 2). Kết quả thu được chúng tôi sử dụng toán thống
23
kê để tổng hợp theo tần số xuất hiện của KKTL trên tổng số khách thể nghiên cứu.
Căn cứ vào kết quả thống kê, chúng tôi đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết.
- Để tìm hiểu nguyên nhân gây ra những KKTL, chúng tôi sử dụng câu hỏi
số 13 trong phiếu điều tra (phụ lục 2). Ở đây chúng tôi tập hợp được 14 nguyên
nhân chủ quan và 11 nguyên nhân khách quan, yêu cầu SV đánh dấu cộng vào ô
phù hợp với bản thân ở 3 mức độ: "ảnh hưởng nhiều”; "ảnh hưởng ít"và "không ảnh
hưởng”.
- Kết quả thu được xử lý bằng cách chấm điểm:
+ Ảnh hưởng nhiều: 3 điểm
+ Ảnh hưởng ít: 2 điểm
+ Không ảnh hưởng: 1 điểm
- Để tìm hiểu SV đã sử dụng biện pháp tác động nào nhằm giảm bớt KKTL
trong giao tiếp chúng tôi sử dụng câu hỏi số 14 (phụ lục 2), chúng tôi tập hợp được
9 cách khắc phục và thể hiện ở 3 mức "thường xuyên”; "đôi khi"và "không bao
giờ”.
- Kết quả xử lý bằng cách chầm điểm:
+ Mức độ "thường xuyên”: 3 điểm
+ Mức độ "đôi khi”: 2 điểm
quả cao”.
Vậy hầu hết SV chưa hiểu đúng và đầy đủ về KKTL trong giao tiếp, tuy
nhiên các em cũng đã nhận thức được những KKTL mà các em gặp phải trong giao
tiếp, đổng thời đánh giá được mức độ KKTL của bản thân.
3.1.2. Thực trạng KKTL của SV trong giao tiếp
25