ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC BÙI THỊ THU HẰNG
NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP
VỚI GIÁO VIÊN CỦA HỌC SINH KHIẾM THÍNH
TRƯỜNG TRUNG HỌC TƯ THỤC KINH TẾ - DU
LỊCH HOA SỮA
Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học
Mã số: 60.31.80 Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS. Phạm Thành Nghị
1.2.3. Giao tiếp sƣ phạm 28
1.2.3.1. Một số quan niệm về giao tiếp sƣ phạm 28
1.2.3.2. Các giai đoạn của giao tiếp sƣ phạm 30
1.2.3.3. Vai trò của giao tiếp sƣ phạm 31
1.2.4. Khó khăn tâm lý trong giao tiếp 32
1.2.4.1. Khái niệm khó khăn tâm lý 32
1.2.4.2. Bản chất của khó khăn tâm lý trong giao tiếp 33
1.2.4.3. Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong giao tiếp 37
1.2.4.4. Phân loại khó khăn tâm lý trong giao tiếp 37
1.2.4.5. Nguyên nhân của khó khăn tâm lý trong giao tiếp 40
1.2.4.6. Ảnh hƣởng của khó khăn tâm lý trong giao tiếp đến hiệu quả
của quá trình giao tiếp
43
1.3. Trẻ khiếm thính 44
1.3.1. Khái niệm 44
1.3.2. Những ảnh hƣởng tâm sinh lý trong sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ khiếm thính
46
1.3.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ - giao tiếp của trẻ khiếm thính 49
CHƢƠNG 2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 53
2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 53
2.1.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu 54
2.1.2.1. Phân bố học sinh khiếm thính trong mẫu điều tra Trƣờng Trung học
Tƣ thục Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa
54
2.1.2.2. Phân bố học sinh thƣờng trong mẫu điều tra Trƣờng Trung học
Tƣ thục Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa
55
2.4.2. Các biện pháp nhằm khắc phục khó khăn tâm lý trong giao tiếp
với giáo viên của học sinh khiếm thính 98
2.4.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 101
2.4.4. Kiểm định nhận thức của giáo viên về tính cần thiết và khả thi
của các biện pháp 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng
2
Tuy nhiên, không phải bao giờ quá trình giao tiếp cũng diễn ra một cách
suôn sẻ, thuận chiều giữa các chủ thể mà trong mối quan hệ đó thường xuyên
xảy ra những khó khăn tâm lý nhất định làm cản trở quá trình giao tiếp. Vì vậy,
để nâng cao hiệu quả của quá trình giao tiếp chúng ta cần tìm cách khắc phục
những khó khăn đó.
Trong trường học luôn tồn tại mối quan hệ thầy và trò - đây là mối quan
hệ giữa thế hệ trước và thế hệ sau; Thế hệ trước truyền đạt những kinh nghiệm
mọi mặt cho thế hệ sau bước vào cuộc sống, vào hoạt động sống và hoạt động
nghề nghiệp.
Giao tiếp sư phạm là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng đào tạo chung của nhà trường. Thực tế cho thấy trong các nhà trường
mối quan hệ này không phải bao giờ cũng diễn ra thuận lợi, đặc biệt ở những
học sinh khuyết tật và khuyết tật các cơ quan nhận và phát thông tin thì những
mối quan hệ giao tiếp này có phần khó khăn hơn nhiều.
Trường Trung học Tư thục Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa là nơi đào tạo nghề
cho các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt như: Con liệt sỹ, con
thương binh, con các gia đình khó khăn, trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật (trong đó có
trẻ khiếm thính). Do học sinh khiếm thính khó có thể nghe và nói được vì vậy
trong giao tiếp với bạn, với thầy cô giáo các em còn gặp rất nhiều khó khăn.
Đây là yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến mối quan hệ, đến kết quả học tập, rèn
luyện và làm việc của các em.
Việc tìm hiểu những khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của
học sinh khiếm thính, tìm ra nguyên nhân và thử nghiệm các biện pháp hạn chế
những khó khăn tâm lý là việc làm cần thiết và cấp bách giúp trẻ khiếm thính
vượt qua khó khăn tâm lý trong giao tiếp.
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng
4
3. Thử nghiệm biện pháp tác động nhằm hạn chế khó khăn tâm lý trong
giao tiếp với giáo viên của học sinh khiếm thính.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng 3 bảng hỏi cho giáo viên, học sinh khiếm thính và học sinh
thường.
6.2.2. Phương pháp quan sát
Dự một số giờ học văn hóa và học nghề (gồm cả học lý thuyết và thực
hành), quan sát việc giao tiếp của giáo viên với học sinh trong các giờ dạy, giờ
ra chơi để thấy được khó khăn tâm lý của học sinh trong giao tiếp với giáo viên.
Quan sát giao tiếp của học sinh khiếm thính với các cán bộ quản lí, cán bộ
tâm lý, nhân viên y tế trong các giờ sinh hoạt cá nhân như: Giờ ăn, giờ học bài
tại nội trú, giờ vui chơi, giờ sinh hoạt ngoại khoá…. Do học sinh khiếm thính
chủ yếu sống ở nội trú trong trường dưới sự quản lí của tổ Quản lí nội trú sau
giờ các em lên lớp, vì vậy việc quan sát cũng sẽ cung cấp rất nhiều thông tin cần
thiết cho đề tài nghiên cứu.
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Với học sinh: Trao đổi với một số học sinh khiếm thính, học sinh bình
thường để thấy được ý kiến chủ quan và khách quan của các em về những khó
khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên.
Với giáo viên: Trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy, cán bộ quản lí,
cán bộ tâm lý để tham khảo ý kiến nhận xét của họ về những khó khăn tâm lý
trong giao tiếp của học sinh khiếm thính. Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng
6
CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KHÓ KHĂN
TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP
1.1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khó khăn tâm lý trong giao tiếp là vấn đề còn khá nhiều mới mẻ trong
tâm lý học giao tiếp, vì vậy nó còn ít được nghiên cứu trong tâm lý học.
1.1.1. Trên thế giới
Đối với con người, giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu được, là
điều kiện quyết định để biến con người sinh học thành con người xã hội, từ cá
nhân trở thành nhân cách.
Giao tiếp với tư cách là một vấn đề khoa học, là một vấn đề mới trong
khoa học nói chung và trong tâm lý học nói riêng.
Từ thời cổ Hy Lạp có hai tác giả là Socrate (407 - 399TCN) và Platon
(428 - 347 TCN) đã nói đến đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối
quan hệ giữa con người với con người.
Vào thế kỷ XIX có một số nhà triết học như: L.Phơbach, C.Mac đã đề
cập đến vấn đề giao tiếp. L.Phơbach (1804 - 1872) nhấn mạnh: Bản chất con
người chỉ thể hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người, trong sự
thống nhất dựa trên tính hiện thực giữa tôi và bạn. Còn C.Mác (1818 - 1883) đã
có tư tưởng về nhu cầu xã hội giữa con người và con người trong hoạt động xã
hội và trên cùng xã hội con người phải thật sự giao tiếp với người khác.
Nhưng đến thế kỷ XX vấn đề giao tiếp mới được nhiều nhà Triết học,
Tâm lý học, Xã hội học quan tâm nghiên cứu như: G.C.Mit (1863 - 1931) - nhà
triết học, tâm lý học Mĩ; Mactinbubơ (1878 - 1965)- đại diện của triết học hiện
sinh và triết học Nhật Bản; Cacgiacphe (1883 - 1969)- nhà triết học và tâm lý
học Đức; Gienmarsen (1869 - 1963) và J.P.Sactơ (1905 - 1981) hai nhà hiện
sinh Pháp cùng Munie (1905 - 1950) đại diện cho triết học cá nhân.
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng 8
E.V.Sucanôva (1985); “Thế giới giao tiếp” của Kagan (1988) Có thể nói, ở
Liên Xô giao tiếp đã trở thành ngành khoa học độc lập - Tâm lý học giao tiếp.
Ở phương Tây, có một số tác giả cũng nghiên cứu về vấn đề này như:
Năm 1956 có 3 tác giả người Mĩ là Johnson, L.Grison, M.Schalckamp đã viết
cuốn “Giao tiếp”. Nội dung của cuốn sách đề cập đến các vấn đề: Mối quan hệ
của kỹ năng giao tiếp với sự tiến bộ trong trường đại học của sinh viên, cách
biểu lộ tình cảm, phát triển kỹ năng bình luận,
Năm 1960, tác giả Bavelas (Pháp) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm
về cấu trúc giao tiếp, đồng thời đưa ra các khái niệm “khoảng cách” được xác
định như một số những mắt xích giao tiếp cần thiết để đưa thông điệp tới được
người khác (đối tượng) bằng con đường ngắn nhất từ quan hệ chiếm hữu.
Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của giao tiếp, nhà tâm lý học
(Pháp) Bateson đã phân biệt hai hệ thống giao tiếp chủ yếu là giao tiếp đối xứng
và giao tiếp bổ sung. Theo ông, mọi giao tiếp đều biểu hiện ra ở một trong
những phương thức ấy, nó có tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay
sự tương hỗ, nó có tính bổ sung khi biểu hiện sự khác nhau.
Một số tác giả như Stecxen (Pháp), M.Acgin (Anh), E.E Acgyt,
Toddthorne, Doris Wents (Mĩ) cũng có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau
về giao tiếp.
Như vậy, các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô và
các nước phương Tây đều chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lí luận
chung về giao tiếp (phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp, cấu
trúc của giao tiếp, mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp, giữa cá nhân và
giao tiếp, các qui luật giao tiếp ), đồng thời cũng có những nghiên cứu thực
nghiệm về vấn đề này. Nhưng trong khi tập trung nghiên cứu lí luận giao tiếp,
các nhà khoa học cũng ít quan tâm nghiên cứu các khó khăn trong giao tiếp. Có
quá trình tương tác của mọi ứng xử, điều đó cho phép rút ra một “lôgic” giao
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng 10
tiếp. Bên cạnh đó họ cũng đề cập đến các chướng ngại gây ra sự rối loạn giao
tiếp. Tuy nhiên, bản chất của chướng ngại là gì, tên gọi của nó ra sao? thì
trường phái này chưa đề cập đến.
Cho đến năm 1987, E.V.Sucanova viết cuốn: “Những khó khăn của giao
tiếp liên nhân cách” [38] trong đó tác giả đề cập đến các vấn đề:
- Vị trí của hiện tượng khó khăn giao tiếp trong cấu trúc của các vấn đề
tâm lý xã hội.
- Những đặc điểm của việc nhận thức các nguyên nhân gây ra khó khăn
trong giao tiếp công việc.
- Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố khó khăn đến quá
trình giao tiếp công việc.
Song song với việc nghiên cứu vấn đề lí luận chung, các nhà tâm lý học
đã đi vào nghiên cứu hoạt động giao tiếp theo tính chất và đặc trưng nghề
nghiệp, trong đó giao tiếp của người thầy giáo đã thực sự trở thành đối tượng
quan tâm đặc biệt của nhiều nhà tâm lý học sư phạm. Đó là các tác giả:
Petropxki chủ biên cuốn sách “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”;
N.D.Lêvitov tác giả cuốn “Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm”;
Ph.N.Gônôbônin tác giả cuốn “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên”;
V.A.Kruchetxki tác giả cuốn “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm”; A.T.
Curbanova và P.N.Rakhmatulina tác giả cuốn “ Những cơ sở của giao tiếp sư
phạm”, A.A.Lêonchiev tác giả cuốn “Giao tiếp sư phạm” Trong các công
trình trên đều bàn tới giao tiếp sư phạm trong cấu trúc năng lực của người thầy
giáo.
Tác giả V.A.Cancanic nghiên cứu về giao tiếp sư phạm của giáo viên đã
nêu ra một số trở ngại trong giao tiếp của sinh viên sư phạm [6], đó là:
sư phạm” (1985); Tác giả Bùi Văn Huệ với bài viết “Bàn về phạm trù giao tiếp”
(1981) Những năm gần đây, một số cuốn sách về giao tiếp sư phạm ra đời
như: “Giao tiếp sư phạm” của tác giả Ngô Công Hoàn (1987), “Luyện giao tiếp
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng 12
sư phạm” của hai tác giả Nguyễn Thạc - Hoàng Anh (1991); “Một số vấn đề
tâm lý học về giao tiếp sư phạm” của Ngô Công Hoàn (1992); “Vấn đề giao
tiếp” của Nguyễn Văn Lê (1998), “Giao tiếp ứng xử tuổi trăng tròn” của tác giả
Lê Thị Bừng (2001)
Tác giả Nguyễn Văn Lê [19;59-61], dưới góc độ thông tin đã bàn đến khó
khăn tâm lý trong giao tiếp như:
- Sự quá chênh lệch giữa người phát và người thu
- Khả năng xây dựng và trình bày bản thông điệp của người phát thông
tin. Tác giả cũng đưa ra các yếu tố tâm lý gây khó khăn trong giao tiếp như:
Những chấn thương tình cảm, những sự khác nhau về chính kiến, những xung
đột, những định kiến…
Tác giả Lê Hương đã đi vào phân tích những khó khăn tâm lý trong công
tác quản lý xí nghiệp của các nhà quản lí, chủ yếu thể hiện ở hai mặt: Nhu cầu
và hoạt động. Tác giả còn đưa ra những số liệu thực tế để chứng minh cho
những khó khăn tâm lý đó[15].
Tác giả Huyền Phan viết bài “Những trở ngại tâm lý khi giao tiếp” [26] .
Bài viết đã cho thấy, nhiều khi giao tiếp không đạt mục đích vì bị các trở ngại
tâm lý ngăn cản. Vì vậy, muốn giao tiếp đạt mục đích phải vượt qua các trở ngại
tâm lý, đó là:
- Bức tường thành kiến do có ác cảm với một người nào đó, do cái nhìn
thiên lệch đã tạo ra ấn tượng không tốt đẹp khi giao tiếp.
- Bức tường ác cảm nảy sinh khi có định kiến với đối tượng do có thông
tin sai lệch về đối tượng.
Tác giả Mạnh Toàn đã trích ra ý kiến của bác sỹ người Mỹ Rabbi Kahler
về 5 nguyên nhân cản trở những cuộc tiếp xúc giữa người và người, đó là:
- Kiêu ngạo
- Hay lo
- Mặc cảm
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng 14
- Nhút nhát
- Luôn cảm thấy có lỗi
Ở đây tác giả chỉ nêu và giải thích qua 5 nguyên nhân mà không bàn đến
lí luận cũng như không nghiên cứu thực nghiệm về khó khăn tâm lý trong giao
tiếp.
Đến năm 1997, Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đi sâu nghiên cứu các
trở ngại tâm lý (Khái niệm, bản chất, biểu hiện, nguyên nhân, phân loại và ảnh
hưởng). Tác giả tiến hành khảo sát những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của
sinh viên sư phạm với học sinh khi thực tập tốt nghiệp đồng thời thử nghiệm
biện pháp tác động nhằm hạn chế những khó khăn. Một số bài viết của tác giả
trên Tạp chí Giáo dục cũng xoay quanh vấn đề này.
Ngoài ra trên một số tạp chí rải rác có một số bài viết bàn về một số khó
khăn của học sinh, sinh viên miền núi, dân tộc trong các hoạt động khác nhau.
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn với đề tài: “Những khó khăn của học sinh
miềm núi khi học các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” phân tích những khó
khăn của học sinh miền núi khi học các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam đã
chỉ ra những khó khăn:
- Hoàn cảnh giao tiếp của học sinh miền núi bị hạn chế
- Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn yếu và thiếu
- Năng lực cảm thụ một câu thơ, một đoạn thơ của các em còn hạn chế
Tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân: Do tầm văn hoá, do vốn sống, vốn hiểu
năng sử dụng các thao tác trí tuệ.
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy :
Những vấn đề lí luận về khó khăn trong giao tiếp tuy đã được nghiên cứu nhưng
còn quá ít, hơn nữa việc nghiên cứu thực tiễn chưa nhiều, đặc biệt việc nghiên
cứu trên trẻ khuyết tật hầu như còn ít được chú ý.
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng 16
Trong chuyên ngành giáo dục trẻ khuyết tật - một chuyên ngành còn hết
sức mới mẻ, các công trình nghiên cứu cụ thể về giao tiếp và khó khăn tâm lý
trong giao tiếp còn quá ít.
Bản thân tác giả luận văn này đã từng là một cán bộ quản lí học sinh của
Trường Trung học Tư thục Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa (trong đó có học sinh
khiếm thính), khi giao tiếp với các em tôi thấy các em rất rụt rè, khó khăn trong
biểu đạt ý nghĩ của mình, ngại tiếp xúc với giáo viên Nhằm giúp các em hạn
chế được những khó khăn tâm lý trong giao tiếp nói riêng, trong học tập và làm
việc nói chung là việc làm có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.
1.2. Một số vấn đề lí luận về giao tiếp và khó khăn tâm lí trong giao tiếp
1.2.1.Giao tiếp
1.2.1.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp cũng như hoạt động, ý thức, nhân cách không chỉ là đối tượng
nghiên cứu của tâm lý học mà nó được nhiều ngành khoa học nghiên cứu như:
văn hoá, xã hội học Trong lĩnh vực khoa học tâm lý, giao tiếp được coi là một
trong những phạm trù trung tâm. Tư tưởng về giao tiếp được đề cập từ thời kì
cổ đại, qua thời kì phục hưng và đến giữa thế kỉ XX thì hình thành nên một
chuyên ngành - Tâm lý học giao tiếp. Quá trình phát triển của Tâm lý học là quá
trình phát triển các quan niệm mới, với các nội hàm khác nhau về giao tiếp, sự
xuất hiện các tư tưởng ngày một gia tăng và mỗi giai đoạn, tư tưởng đều có một
cơ sở khoa học hạt nhân hợp lí. Để có một cách hiểu giao tiếp làm cơ sở lí luận
học động vật N.TimBecghen, KNorik coi giao tiếp ở động vật là sự trao đổi
các tín hiệu.
Cách giải thích theo hướng mở rộng khả năng giao tiếp như trên đã phản
ánh cách hiểu chưa đầy đủ, chưa đúng bản chất xã hội của giao tiếp người, đồng
thời không thấy được sự khác biệt về chất trong giao tiếp ở người với thông báo
ở động vật.
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hằng 18
- Hướng thứ ba: Các nhà tâm lý học theo hướng này không thu hẹp giao
tiếp chỉ là quá trình trao đổi thông tin mà xem giao tiếp là quá trình hiện thực
hoá các mối quan hệ xã hội giữa người với người trong đó bao gồm nhiều quá
trình diễn ra như: trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.
Các nhà tâm lý học theo hướng này cũng không đồng nhất khái niệm giao tiếp
với sự tiếp xúc giữa động vật với nhau. Bởi vì về bản chất hai hiện tượng này
khác hẳn nhau. Giao tiếp là hiện tượng chỉ có ở con người.
G.M.Andreeva: Giao tiếp có ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau, đó là mặt
thông tin, mặt tri giác của con người đối với con người, mặt tác động qua lại
giữa con người với nhau.
V.N.Panpherov: Giao tiếp là sự tác động qua lại của con người, nội dung
của nó là nhận thức lẫn nhau và trao đổi thông tin nhờ sự giúp đỡ của các
phương tiện khác nhau, mục đích là xây dựng mối quan hệ qua lại trong quá
trình hoạt động chung. Bản chất và mục đích của giao tiếp là hướng đến sự tái
tạo, sự “sản xuất” ra các mối quan hệ giữa con người và con người.
K.K.Platôlôv: Giao tiếp là mối liên hệ có ý thức của con người với con
người trong cộng đồng loài người.
Ia.I.Kôlôminxki: Giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng giữa con
người với con người, trong đó những quan hệ liên nhân cách được thực hiện,
bộc lộ và hình thành.
Nếu như những quan niệm trước đây về giao tiếp cho rằng giao tiếp chính
là sự đối thoại, phải sự dụng ngôn ngữ, phải diễn đạt bằng lời nói để từ đó tri
giác lẫn nhau thì trong quan niệm hiện đại, hoạt động giao tiếp có thể sử dụng
nhiều kiểu/kênh diễn đạt khác nhau. Không chỉ là ngôn ngữ nói mà còn là
những ngôn ngữ phi lời nói, không chỉ là từ ngữ mà còn là những cử chỉ, những
sự thể hiện bằng cơ thể, nét mặt Dù với kênh diễn đạt nào cũng phải đạt được
mục tiêu truyền đạt thông tin và sự phản hồi phù hợp.
Thậm chí, trái với những suy nghĩ thông thường mà ta vẫn nghĩ về vai trò
của ngôn ngữ trong giao tiếp, không phải là ngôn ngữ lời nói xuất hiện nhiều
trong giao tiếp mà chính là ngôn ngữ cơ thể và sắc điệu lời nói. Đó chính là do
khả năng biểu đạt của ngôn ngữ cơ thể và sắc điệu lời nói rất lớn. Những người
không hiểu ngôn ngữ lời nói của nhau hay như trẻ nhỏ chưa thể sử dụng từ ngữ
có thể dùng sự biểu hiện của nét mặt, của cơ thể (chẳng hạn: lắc đầu, xua tay )
để thể hiện suy nghĩ với người khác.
Hiện nay các tác giả đều có xu hướng thống nhất dùng thuật ngữ “giao
tiếp” để chỉ hoạt động hiện thực hoá mối quan hệ người - người. Trong Từ điển
tiếng Việt, thuật ngữ “giao lưu”, “giao tiếp” cũng có nội hàm khác nhau, “giao
lưu” nghĩa rộng hơn “giao tiếp”. “Giao lưu” có nghĩa là sự tiếp xúc, trao đổi qua
lại hai dòng, hai luồng khác nhau (giao lưu văn hoá, giao lưu hàng hoá ) còn
“giao tiếp” có nghĩa là trao đổi, tiếp xúc với nhau, ngôn ngữ là công cụ của giao
tiếp. Như vậy, dùng thuật ngữ “giao tiếp” chính xác hơn.
Trong ba hướng nêu trên, chúng ta thấy hướng thứ ba phản ánh đầy đủ
và chính xác hơn mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với con người
trong xã hội. Từ các quan niệm khác nhau của các tác giả cho chúng ta thấy
khái niệm giao tiếp có các dấu hiệu cơ bản sau: