Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện hậu lộc tỉnh thanh hóa năm 2015 - Pdf 41

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

HOÀNG SĨ QUÂN

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH THANH HÓA NĂM 2015

LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2016


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

HOÀNG SĨ QUÂN

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH THANH HÓA NĂM 2015

LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Phương Nhung

Thời gian thực hiện: 18/07/2016 đến 18/11/2016

HÀ NỘI 2016

1.1. Hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc (DMT) trong bệnh viện ...........3
1.1.1. Mô hình bệnh tật ........................................................................................................ 4
1.1.2. Phác đồ điều trị........................................................................................................... 5
1.1.3. Danh mục thuốc thiết yếu .......................................................................................... 5
1.1.4. Tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của Tổ chức y tế thế giới................................... 6
1.1.5. Danh mục thuốc thiết yếu ở Việt Nam .................................................................... 7
1.1.6. Danh mục thuốc được quỹ BHYT thanh toán tại cơ sở khám chữa bệnh. ............. 9
1.2. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc ...................................................12
1.2.1. Phương pháp phân tích ABC...................................................................................12
1.2.2. Phương pháp phân tích VEN...................................................................................13
1.2.3. Phương pháp tính chi phí sử dụng thuốc theo liều DDD ......................................13
1.3. Thực trạng cơ cấu danh mục thuốc tại một số bệnh viện...................................15
1.4. Vài nét về bệnh viện đa khoa Huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa ........................16
1.4.1. Vị trí, chức năng nhiệm vụ của bệnh viện ..............................................................16
1.4.2. Tổ chức bộ máy của BVĐK Hậu Lộc ....................................................................17
1.4.3 Khoa Dược BVĐK huyện Hậu Lộc.........................................................................19
1.4.5. Mô hình bệnh tật tại bệnh viện ĐK Huyện Hậu Lộc .............................................22
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................24
2.1. Đối tượng nghiên cứu: .......................................................................................24
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................24
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu..................................................................................................24
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ..................................................................................24
2.2.3. Phân tích và xử lý số liệu .........................................................................................24
2.2.4. Chỉ số/biến số nghiên cứu........................................................................................25
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................28


3.1. Khảo sát sơ bộ về tiêu thụ thuốc tại bệnh viện Đa khoa Hậu Lộc năm 2015 ....28
3.1.1. Khảo sát chung về sử dụng thuốc ...........................................................................28
3.1.2. Khảo sát về sử dụng thuốc theo đường dùng .........................................................29


ABC
ADR

Tiếng Việt

Adverse Drug Reaction

Phản ứng có hại của thuốc

BD

Biệt Dược

BHYT

Bảo hiểm y tế

BVĐK

Bệnh viện đa khoa

CKI

Chuyên khoa 1

CKII

Chuyên khoa 2


ĐH

Đại học

ĐV

Đơn vị

GTTT

Gía trị tiêu thụ

GĐ,HS,CV

Giảm đau, hạ sốt, chống viêm

HĐT&ĐT

Hội đồng thuốc và điều trị

ICD-10

Mã chương bệnh theo quốc tế

KCB

Khám chữa bệnh

KST, NK



TT-BYT

Thông tư bộ y tế

TW

Trung ương

TTT-DLS

Thông tin thuốc, dược lâm sàng

STT

Số thứ tự

VT-HC

Vật tư hóa chất

VNĐ

Việt nam đồng

XK

Xương Khớp

WHO


Bảng 3.7. Khảo sát chung về sử dụng thuốc theo lượng tiêu thụ và lượng

28

cấp phát…………………………………………………………
Bảng 3.8. Phân tích ABC các thuốc được sử dụng…………………………

29

Bảng 3.9. Khảo sát về sử dụng thuốc theo đường dùng…………………...

29

Bảng 3.10. Khái quát về tiêu thụ của các phân nhóm dược lý…………….

30

Bảng 3.11. 20 thuốc tiêu thụ nhiều nhất trong toàn viện…………………..

32

Bảng 3.12. Khảo sát về sử dụng thuốc nội trú theo đường dùng………….

33

Bảng 3.13. Khái quát về tiêu thụ nội trú của các phân nhóm dược lý……..

34


46

Bảng 3.22. Khảo sát sự tiêu thụ ngoại trú của một số thuốc không thiết yếu…

47


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của BVĐK Hậu Lộc……………………..

17

Hình 1.2 Mô hình tố chức khoa Dược BVĐK Hậu lộc…………………….

20


ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người là nguồn lực quí báu nhất của xã hội, quyết định sự phát triển
của đất nước. Trong đó, sức khỏe là vốn quí nhất của mỗi con người và của toàn xã
hội. Vì vậy quan tâm chăm sóc sức khỏe cho mọi người chính là quan tâm đầu tư
cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân của nước ta nêu rõ: Mọi công dân đều có
quyền được bảo vệ và tăng cường sức khỏe. Sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân là
trách nhiệm cao quý của Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp và toàn thể xã hội,
trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt[15].
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh,
là bộ mặt của ngành y tế, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia. Vì
vậy, để đảm bảo đáp ứng tốt hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân, thuốc đóng một vai trò rất quan trọng và là một trong những yếu tố chủ

- Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị nội trú, ngoại trú theo liều DDD tại
bệnh viện đa khoa huyện Hậu Lộc năm 2015.
Từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả và hướng tới sử dụng
thuốc hợp lý, an toàn và tiết kiệm.

2


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc (DMT) trong bệnh viện
Hoạt động lựa chọn thuốc là một quá trình mà trong đó các nhân viên y tế
của một tổ chức làm việc thông qua Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT), đánh
giá và lựa chọn từ rất nhiều các sản phẩm thuốc có sẵn những thuốc được coi là
hiệu quả nhất, an toàn nhất và chi phí hợp lý nhất, kết quả của quá trình lựa chọn
thuốc là một danh mục thuốc (DMT), Danh mục thuốc có chứa tất cả các loại thuốc
đã được phê duyệt cho mua sắm và sử dụng trong các cơ sở y tế nhất định.
Hiện nay có đến 70% dược phẩm trên thị trường thế giới là bắt chước hoặc
không thiết yếu, nhiều thuốc là biến thể nhỏ của một loại thuốc thử nghiệm và
không có lợi thế điều trị hơn các thuốc đó đã có sẵn, nhiều loại thuốc cho thấy độc
tính cao so với lợi ích điều trị của nó, nhiều sản phẩm mới có chỉ định điều trị
không liên quan đến các nhu cầu cơ bản của người dân, chúng gần như luôn luôn
đắt hơn các loại thuốc hiện có. Việc lựa chọn thuốc cho phép cán bộ và nhân viên y
tế có thể giải quyết vấn đề này, và một số vấn đề khác còn tồn tại trong hầu hết các
hệ thống dược phẩm.
Sự lựa chọn thuốc sử dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh
tật, phác đồ điều trị, Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY), Danh mục thuốc chủ yếu
(DMTCY), nguồn kinh phí của bệnh viện, DMT sử dụng kỳ trước... (Quy trình lựa
chọn thuốc và xây dựng DMT sử dụng trong bệnh viện) [3].
Căn cứ để lựa chọn thuốc đưa vào DMT bệnh viện:
* Mô hình bệnh tật

ra ở nước phát triển thấp và trung bình. Do ở các nước kém phát triển, chi phí
khám chữa bệnh do người dân tự trả, nên tiền chữa bệnh là vấn đề căng thẳng với
các gia đình đặc biệt là gia đình có thu nhập thấp.
Ở Việt Nam, có sự thay đổi rõ rệt về mô hình bệnh từ năm 1976 đến năm
2012, theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh(KCB) tại cơ sở y tế nhà
nước trong Niên giám thống kê năm 2012, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây
nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao, nếu tỷ trọng này năm 1976 chỉ là 42,65% thì
năm 1966 tăng lên 50,02%, năm 2006 là 62,4%, năm 2012 có xu hướng giảm còn
61,91%. Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số
đợt KCB đối với người mắc bệnh truyền nhiễm năm 1976 là 55,5%, năm 1996 là
37,63% và năm 2012 còn là 27,25%, tỷ trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn,
4


chấn thương, ngộ độc có xu hướng chững lại năm 1996 là 12,35%, năm 2006 là
12,66%, năm 2012 giảm xuống còn 10,84%[8]. Như vậy, gánh nặng bệnh tật
chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm.
1.1.2. Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị hay hướng dẫn điều trị chuẩn là văn bản có tính chất pháp
lý, nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu
trong điều trị học mỗi loại bệnh, một hướng dẫn thực hành điều trị có thể có một
hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau[9].
Ngay cả với một DMT lý tưởng thì việc sử dụng không đúng thuốc vẫn có
thể xảy ra, hướng dẫn điều trị chuẩn là một chiến lược hiệu quả đã được chứng minh
để đẩy mạnh việc kê đơn hợp lý, tối thiểu người kê đơn cần có các thông tin về đặc
điểm lâm sàng, tiêu chuẩn chẩn đoán, bệnh không dùng thuốc và bệnh cần điều trị
bằng thuốc.
Tại Việt Nam hiện nay đã ban hành nhiều phác đồ điều trị chuẩn như:
Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ [9], phác đồ điều trị sốt rét, phác đồ điều trị tiêu
chảy ở trẻ em.

sở khám chữa bệnh.
- Thuốc được chọn phải sẵn có ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng,
cũng như sự ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng
nhất định.
- Khi có 2 hoặc nhiều hơn 2 thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì
cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ
an toàn, giá cả và khả năng cung ứng.
Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần phải so sánh tổng chi phí cho toàn
bộ quá trình điều trị chứ không phải chỉ tính theo đơn vị của từng thuốc. Khi mà các
thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi lựa chọn cần phải tiến hành phân tích
hiệu quả - chi phí.
Trong một số trường hợp sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số các yếu tố
khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương
như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng.
Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất, những thuốc ở dạng đa
chất phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu
điều trị của một nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ an
6


toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
Thuốc ghi tên gốc hoặc tên chung quốc tế, tránh đề cập đến tên biệt dược
hoặc nhà sản xuất cụ thể.
Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) cần phải thống nhất một cách rõ
ràng tất cả các tiêu chí, dựa trên những tiêu chí có sẵn của tổ chức y tế thế giới để
chọn thuốc làm sao bảo đảm được quy trình lựa chọn khách quan và có cơ sở. Nếu
thiếu cơ sở bằng chứng thì các quyết định đưa ra rất có thể mang tính cá nhân hoặc
thiếu khách quan, và điều này cũng sẽ gây khó khăn khi thuyết phục các thầy thuốc
kê đơn thực hiện danh mục thuốc, các tiêu chí lựa chọn thuốc cũng như toàn bộ đề
xuất đưa thuốc vào danh mục thuốc phải được công khai, không phải tất cả các bằng

được xây dựng theo các nguyên tắc và các tiêu chí sau:
- Kế thừa Danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V, đồng thời tham
khảo Danh mục thuốc thiết yếu hiện hành của Tổ chức Y tế thế giới, các hướng dẫn
điều trị của Bộ Y tế Việt Nam và căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn thuốc cụ thể;
- Phù hợp với chính sách, pháp luật về dược, thực tế sử dụng và khả năng
bảo đảm cung ứng thuốc của Việt Nam;
- Danh mục thuốc thiết yếu tân dược được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm an
toàn cho người sử dụng, một số loại thuốc có thể bị loại bỏ khỏi danh mục nếu có
những tác dụng có hại nghiêm trọng được phát hiện;
- Các thuốc đưa vào Danh mục thuốc thiết yếu tân dược dưới tên chung
quốc tế, không đưa tên riêng chế phẩm.
- Bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng;
- Sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp với điều kiện bảo
quản, cung ứng và sử dụng;
- Phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của thầy
thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Giá cả hợp lý;
- Đa số là đơn chất, nếu là đa chất phải chứng minh được sự kết hợp đó có
lợi hơn khi dùng từng thành phần riêng rẽ về tác dụng và độ an toàn. Trường hợp
có hai hay nhiều thuốc tương tự nhau phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá đầy đủ về
hiệu lực, độ an toàn, chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng.
Thông tư cũng đưa ra Hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc thiết yếu tân
dược lần VI phù hợp với điều kiện, chính sách của Việt Nam
DM TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà
nước về: Đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và chữa bệnh cho
8


người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY. Cơ quan quản lý nhà
nước xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp số đăng ký lưu


ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y Tế[5]. Thông tư ban hành và hướng dẫn thực
hiện DMT tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ Bảo hiểm y tế gồm: 845 hoạt
chất, 1060 thuốc tân dược, 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu. DMT ban hành
kèm theo thông tư này là cơ sở để quỹ Bảo Hiểm Y Tế thanh toán chi phí thuốc sử
dụng cho người bệnh có thẻ Bảo Hiểm Y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[5].
- Các cơ sở khám chữa bệnh thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT khi
xây dựng DMT sử dụng tại đơn vị căn cứ vào DMT chủ yếu, phân hạng bệnh viện,
nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của quỹ BHYT, quá trình mua sắm theo quy
định của pháp luật về đấu thầu.
- Việc lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm, sử dụng cho người bệnh
theo nguyên tắc: Ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất
trong nước.
 Danh mục thuốc Bệnh viện
Căn cứ vào DMTTY, DMTCY và các quy định về sử dụng DMT do Bộ Y
tế ban hành, đồng thời căn cứ vào MHBT và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà
nước, thu một phần viện phí và BHYT) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh
viện lựa chọn, xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc: Ưu tiên lựa chọn thuốc
generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, thuốc của
các doanh nghiệp đạt được tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt.
Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những thuốc cần thiết thỏa mãn
nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện phù hợp
MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả
năng chi trả của người bệnh. Những loại thuốc này trong một phạm vi thời gian,
không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn có sẵn bất cứ lúc nào
với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý.
Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động
có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. DMT
bệnh viện được xây dựng hàng năm theo định kỳ và có thể bổ sung hoặc loại bỏ
thuốc trong DMT bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT bệnh viện.

nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí
tính theo đơn vị của từng thuốc.
- Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối
hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất
11


đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi
thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
- Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn
chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
- Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các
đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà
sản xuất, cung ứng.
 Quy trình lựa chọn một số thuốc mới vào DMT bệnh viện
Theo thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Trưởng Bộ Y
Tế[3], thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị
trong bệnh viện, với quy trình lựa chọn thuốc mới như sau:
- Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ một
dược phẩm ra khỏi danh mục, phải có bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thư ký của
hội đồng thuốc và điều trị.
- Thành viên HĐT&ĐT đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong
tài liệu và chuẩn bị một bản báo cáo bằng văn bản.
- Đưa ra những đề xuất cho danh mục.
- Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của HĐT&ĐT.
- Hội đồng thuốc và điều trị chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu bổ sung hoặc
loại bỏ dược phẩm trên.
- Phổ biến quyết định của hội đồng thuốc và điều trị đến tất cả các cá nhân
có liên quan.
Duy trì một DMT bệnh viện

với chỉ định chính của một thuốc nào đó. Định nghĩa này của trung tâm hợp tác
WHO về thống kê các loại tại Oslo( Na Uy) được sử dụng cho mọi thuốc và áp
dụng trên toàn thế giới [2].
Liều xác định trong ngày được dựa trên liều trung bình cho người lớn,
nhưng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với liều trẻ em. Đơn vị tính trong liều
khuyến cáo của một thuốc có thể là g, mg cho các thuốc dạng rắn và ml cho các
thuốc dạng lỏng hoặc dạng tiêm.
Cách tính DDD

13


Bảng 1.1. Cách tính DDD

STT

Các bước và cách tính

Ví dụ
Số lượng Methyldopa được sử dụng

Xác định tổng số thuốc được sử
dụng hoặc được mua trong 1 năm
1

theo đơn vị số lượng tối thiểu(
viên, viên nang, ống tiêm) và hàm
lượng (mg, g, UI)

và các phòng mạch lân cận cho một

thụ =7.750/1g = 7.750 DDD
Lượng tiêu thụ hàng năm của
methyldopa

4

Chia tổng lượng đã tính cho số

= 7.750 DDD/ 2.000.000 dân một năm

lượng bệnh nhân hoặc số dân

= 3.875 DDD cho 1.000.000 dân một
năm

Ưu điểm và hạn chế của phương pháp

14


Bảng 1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tính theo DDD
Ưu điểm

Hạn chế

- Giúp chuyển đổi, chuẩn hóa các số liệu về

- DDD là đơn vị đo lường mang tính ước

số liệu sản phẩm như hộp, viên, ống tiêm.

1.3. Thực trạng cơ cấu danh mục thuốc tại một số bệnh viện
Tại Bệnh viện đa khoa huyện Đông Sơn năm 2014 các thuốc sử dụng tại
bệnh viện nằm trong 12 nhóm thuốc của danh mục thuốc bệnh viện năm 2014.
Nhóm thuốc ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ
23,5%, nhóm thuốc hormon, nội tiết sử dụng nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 19,1%, nhóm
thuốc tiêu hóa sử dụng nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 13,8%, các nhóm thuốc chế phẩm y
học cổ truyền (YHCT) đứng thứ tư chiếm tỷ lệ 11,3%. Các nhóm thuốc còn lại
chiếm 32,3% [23].

15


Theo một nghiên cứu khác tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm
2014, khi phân tích danh mục thuốc sử dụng theo ABC, VEN, có 629 thuốc được sử
dụng trong bệnh viện. Tổng chi phí thuốc là 100.342.322.133 VNĐ trong đó có 131
loại thuốc (20,83%) được xếp hạng A nhưng chiếm đến 70,35% chi phí sử dụng,
136 loại thuốc(21,62%) thuộc nhóm B chiếm 20,1% chi phí sử dụng thuốc, còn lại
362 loại thuốc chiếm(57,55%) thuộc nhóm C chỉ chiếm 9,55% chi phí sử dụng
thuốc trong bệnh viện [25].
Tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Ninh Hòa năm 2012 các thuốc sử
dụng tại bệnh viện nằm trong 17 nhóm thuốc của DMT bệnh viện năm 2012. Nhóm
thuốc ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ 57,8%,
nhóm thuốc tim mạch sử dụng nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 12,4%, nhóm thuốc tiêu
hóa sử dụng nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 6,1%, các nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống
viêm đứng thứ tư chiếm 3,9%. Các nhóm thuốc còn lại chiếm 19,7%, nhóm thuốc
chẩn đoán có kinh phí sử dụng ít nhất chiếm tỷ lệ 0,2%[20].
1.4. Vài nét về bệnh viện đa khoa Huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa
1.4.1. Vị trí, chức năng nhiệm vụ của bệnh viện
Bệnh viện đa khoa(BVĐK) Hậu Lộc là bệnh viện hạng III, trực thuộc Sở Y Tế
Thanh Hóa với 190 giường bệnh, nhưng thực kê là 260 giường bệnh, là trung tâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status