Hướng dẫn làm bài so sánh văn học - Pdf 41

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI SO SÁNH VĂN HỌC
Sưu tầm – tổng hợp

Thứ nhất, so sánh văn học là "một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu
văn". Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận như : phân tích, bác
bỏ, bình luận đã được đưa vào chương trình giáo khoa ngữ văn lớp 11. Thứ
ba, nó được xem như "một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết
bài nghị luận, tức là như một kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận
về một đoạn trích, tác phẩm thơ ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm
văn xuôi… ở sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12. Tuy nhiên, so sánh văn học
như một kiểu bài nghị luận văn học chưa được cụ thể bằng một bài học độc
lập. Vì vậy, việc xác lập nội hàm khái niệm như kiểu bài, mục đích, yêu
cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết.
Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiều
bình diện : đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết
nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật, phong cách nghệ thuật… Quá trình so
sánh có thể chỉ diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không
cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác
nhau của một nền văn học. Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu
học sinh chỉ ra được chỗ giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả,
từ đó thấy được những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả,
từng tác phẩm ; thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm ; sự đa dạng
muôn màu của phong cách nhà văn. Không dừng lại ở đó, kiểu bài này còn
góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhân của sự khác nhau giữa các
hiện tượng văn học – một năng lực rất cần thiết góp phần tránh khuynh
hướng "bình tán", khuôn sáo trong các bài văn của học sinh hiện nay. Lẽ
hiển nhiên, đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông, các yêu cầu về
năng lực lí giải cần phải hợp lí, vừa sức. Nghĩa là các tiêu chí so sánh cần
có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải sự giống nhau, khác nhau cũng
1 | Page


nghị luận.
- Tư tưởng, phong cách của nhà văn.
- Đặc trưng thi pháp của thời kì văn học
Bước này cần vận dụng nhiều thao tác lập luận phân tích nhưng chủ
yếu là thao tác lập luận phân tích.
KẾT BÀI
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Nêu những cảm nghĩ của bản thân
Như đã trình bày, kiểu bài nghị luận so sánh văn học có yêu cầu khá
phong phú, đa dạng khó có thể tìm ra một dàn ý khái quát thỏa mãn tất cả
các dạng đề bài. Trong yêu cầu từng đề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học
sinh cần linh hoạt, sáng tạo. Vấn đề cốt lõi của mọi bài nghị luận là làm thế
nào để vừa "trúng" vừa "hay". Nguyên tắc trình bày một bài nghị luận so
sánh văn học cũng không đi ra ngoài mục đích đó. Sau đây là một số dạng
đề so sánh thường gặp.
So sánh về phong cách sáng tác của một nhà văn ở hai giai đoạn khác
nhau Mục đích của kiểu bài này là giúp học sinh nhận rõ được sự thống
nhất và thay đổi trong phong cách nghệ thuật của một nhà văn suốt quá
trình sáng tác. Kiểu bài này được cụ thể hóa bằng một hệ thống dàn ý chi
tiết sau :
a/ Yêu cầu về kĩ năng :
Sử dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích bình luận.
b/ Yêu cầu về kiến thức :
- Cần chỉ ra sự thống nhất trong phong cách của nhà văn trong cả quá trình
3 | Page


sáng tác.
- Chỉ ra những thay đổi đáng kể trong phong cách nghệ thuật ở giai đoạn
sáng tác sau đó.

+ Trước cách mạng tháng Tám 1945.
- Thể loại truyện ngắn, có yếu tố của tùy bút (cảm xúc của cái tôi qua
thái độ, tình cảm của nhà văn). Có sự dung hòa giữa lãng mạn và hiện
thực.
- Có sự đối lập trong nghệ thuật giữa cái cao thượng với cái tầm thường,
giữa cổ và kim, nhân vật là những kẻ sĩ tài hoa bất đắc chí, những con
người trong quá khứ "Vang bóng một thời".
+ Sau cách mạng :
- Thể loại tùy bút có yếu tố truyện ngắn (Xây dựng nhân vật, cốt truyện,
tình tiết…)
- Cảm hứng thiên về thiên nhiên tráng lệ
- Nhân vật khác trước : là những con người của hiện tại, những con
người của đời thường trên mặt trận chống quân thù và trong cuộc sống lao
động sản xuất.
* Luận điểm 3: Lí giải nguyên nhân
- Hoàn cảnh sống : Trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng đã
có sự thay đổi.
5 | Page


- Tư tưởng : " tìm cái đẹp" (Nguyễn Đăng Mạnh) nên sau cách mạng
tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân đã hòa nhập nhanh chóng với cuộc kháng
chiến, săn tìm được nhiều cái đẹp trong đời sống chiến đấu và lao động sản
xuất…
- Đặc trưng thi pháp :Văn học sau 1945 thiên về khuynh hướng sử thi
và cảm hứng lãng mạn, ông đã tìm đến với thể loại tùy bút để thỏa mãn với
năng lực sáng tạo nghệ thuật của mình.
* Luận điểm 4: Đánh giá : Khẳng dịnh sự đóng góp to lớn của Nguyễn
Tuân cho nền văn học nước nhà.
KẾT LUẬN

trích.
* Luận điểm 2: Nét chung :
- Cả hai đoạn trích đều đã thể hiện được một cái "Tôi" : Tài hoa –
Độc đáo – Uyên bác.
- Cách tiếp cận cảnh vật : Nghiêng về góc độ văn hóa thẩm mỹ, cảnh
sắc tráng lệ, dữ dội, đập mạnh vào giác quan (Người lái đò sông Đà).
- Miêu tả con người : Là những con người có khí phách, tài hoa :
+ Ngục quan : Tuy không có tài sáng tạo cái đẹp nhưng lại có tài cảm
thụ và thưởng thức cái đẹp…(dẫn chứng)
+ Ông lái đò : Chèo đò trên dòng nước hung bạo thuần thục, khéo léo
đến tài hoa…
7 | Page


- Ngôn ngữ : Sử dụng ngôn ngữ và cách quan sát, miêu tả, dựng cảnh
bằng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật và khoa học khác nhau. (Dẫn
chứng).
* Luận điểm 3: Nét riêng :
- Đoạn trích trong truyện ngắn Chữ người tử tù :
+ Thể loại : truyện ngắn có pha chất tùy bút (Cảm xúc của cái "tôi"
qua thái độ của nhà văn với nhân vật) (Dẫn chứng)
+ Có sự đối lập : Sự đấu tranh tư tưởng của Ngục quan, một con
người đại diện cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân phong kiến lại
ngưỡng mộ và tôn thờ vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một tử tù. Đối lập giữa
cái thiện, cái đẹp với cái ác, cái xấu ; giữa cái cao cả và cái tầm thường…
+ Ngôn ngữ : Dùng từ Hán Việt, tạo không khí cổ kính, trang nghiêm.
- Đoạn trích trong tùy bút Người lái đò sông Đà.
+ Thể loại : Tùy bút có yếu tố của truyện ngắn (Cốt truyện, tình
huống, nhân vật…).
+ Nhân vật : Là con người trong lao động sản xuất.

11 | Page


So sánh phong cách nghệ thuật của 2 nhà thơ .
Đối với kiểu bài này yêu cầu học sinh thực hiện đầy đủ các bước như dàn ý
khái quát.

VÍ DỤ :
Từ hai tác phẩm : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông và Tương tư , hãy

Anh/chị hãy làm sáng tỏ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ
thuật của Nguyễn Bính và Xuân Quỳnh qua hai đoạn thơ trên.
Yêu cầu cơ bản :
MỞ BÀI : Cần nêu được cảm hứng bao trùm cả hai đoạn trích : Cả hai
đoạn trích đều làm nổi bật được một đặc điểm trong bản chất của tình yêu,
đó là sự thủy chung trong tình yêu được biểu hiện qua nỗi nhớ.
THÂN BÀI :
* Luận điểm 1: Giới thiệu về tác giả (tư tưởng và phong cách của hai
nhà thơ), hoàn cảnh sáng tác của hai tác phẩm và vị trí của đoạn trích.
* Luận điểm 2: Khái quát về sự giống nhau
- Đề tài : Đều viết về tình yêu đôi lứa, một đề tài quen thuộc trong thơ
ca.
- Nghệ thuật : Đều sử dụng chất liệu dân gian (sử dụng các hình tượng
nghệ thuật truyền thống) và biện pháp tu từ ẩn dụ.
* Luận điểm 3: Khái quát về sự khác nhau :
- Phân tích đoạn thơ (1)
+ Thể hiện được bản chất của sự tương tư : một tình yêu đơn phương,
có sự nhớ nhung và trách móc.
12 | Page


KẾT LUẬN :
- Nêu khái quát những điểm giống nhau và khác nhau.
- Nêu cảm xúc của người viết.

So sánh về đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết
nghệ thuật :
Đối với kiểu bài này yêu cầu học sinh thực hiện đầy đủ các bước như dàn ý
khái quát.
Ví dụ : Cảm nhận của anh/chị về hình tượng bóng tối và ánh sáng trong
hai truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch lam và "Chữ người tử tù" của
Nguyễn Tuân.
Yêu cầu như sau.
MỞ BÀI :
Giới thiệu khái quát về hai đối tượng so sánh (cảm nhận).
THÂN BÀI :
* Luận điểm 1: Làm rõ đối tượng thứ nhất.
- Giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác truyện ngắn Hai đứa trẻ, cần
lưu ý rằng những truyện của Thạch Lam thường lấy cảm hứng từ những kí
ức trong cuộc đời nhà văn để sáng tạo nên cốt truyện.
- Phân tích hình tượng ánh sáng : Có hai loại ánh sáng trong truyện đó là
ánh sáng gần (ngọn đèn, bếp lửa, con đom đóm) loại ánh sáng này yếu ớt,
lù mù gợi cuộc sống leo tét, uể oải, nó tồn tại dai dẳng, gợi lên cuộc sống
lạc hậu, tù đọng, không biết đến ngày mai. Ánh sáng xa (Ánh đèn điện của
14 | Page


bờ hồ, Hà Nội rực sáng, ánh sáng của đoàn tàu, ánh sáng của dải Ngân Hà)
đó là ánh sáng rực rỡ, ánh sáng của những ước mơ, hi vọng, nó chỉ thoáng
qua. (Dẫn chứng)
- Hình tượng bóng tối : Bóng tối có sự lan tỏa theo không gian, mỗi lúc

đọng bế tắc, quẩn quanh nơi phố huyện vừa được sử dụng như một phông
nền chính làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm.
* Luận điểm 4: Lí giải về sự khác biệt.
- Nguyễn Tuân : Cảm hứng thẩm mỹ bắt nguồn từ cái đẹp lớn lao, cao
cả, bi hùng hoặc mô tả những con người có nhân cách lớn… nên dựa trên
thủ pháp nghệ thuật đối lập gay gắt, ánh sáng và bóng tối cũng được sử
dụng nhằm miêu tả những tương phản mạnh mẽ, những chuyển biến bất
ngờ, đột ngột. Đó vừa là một thủ pháp trong xây dựng tình huống truyện,
vừa là sự dẫn dắt đi đến kết thúc của sự chiến thắng giữa chân lí, cái đẹp
với cái xấu, cái ác.
- Thạch Lam : Chú ý đến cái bình dị, nhỏ nhoi trong cuộc sống nên ánh
sáng và bóng tối trong tác phẩm của ông không có sự chuyển biến dữ dội,
bất ngờ.
KẾT BÀI :
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có thể nêu cảm nghĩ của bản thân.

SO SÁNH NHÂN VẬT-TÁC PHẨM
MỞ BÀI:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
THÂN BÀI:
16 | Page


1. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác
lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
2. Làm rõ đối tượng thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận
nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình

+ Sinh ra trong cùng một gia đình có truyền thống cách mạng, có mối thù
sâu sắc với giặc Mĩ
+ Là những người giàu tình yêu thương.
+ Là những con người dũng cảm, kiên cường.
- Khác nhau:
+ Việt tính cách còn trẻ con, vô tư, hồn nhiên. Vì Việt là em trai nên được
má nuông chiều, chị nhường nhịn
+ Chiến giống má ở cả ngoại hình và phẩm chất đảm đang tháo vát, “người
lớn”. Chiến là chị gái, phải lo toan việc nhà đặc biệt là từ khi ba má mất.
- Đánh giá về nghệ thuật xây dựng hai nhân vật:
- Ý nghĩa:
+ Ca ngợi thế hệ trẻ của miền Nam thời chống Mĩ
+ Trong gia đình Chiến và Việt là những khúc sông sau chảy xa nhất. Khắc
18 | Page


họa 2 nhân vật Chiến và Việt tác giả muốn khẳng định mỗi gia đình mà
biết kết hợp giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, truyền thống gia
đình với truyền thống dân tộc thì sẽ tạo nên được sức mạnh to lớn của con
người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
* Kết bài:
- Mỗi nhân vật đã để lại ấn tượng riêng trong lòng độc giả
- Tài năng của Nguyễn Thi trong việc khắc họa tính cách nhân vật

b. Đề bài: Vẻ đẹp của người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” _ Kim Lân và người
đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu?
- Giống nhau:
+ Đều xấu về ngoại hình, không tên, và là nạn nhân của hoàn cảnh
+ Đều có những phẩm chất tốt đẹp
- Khác nhau:

- Giới thiệu chung: Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ
nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Nhân vật này
được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban
đầu và về sau.
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt.
+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ.
20 | Page


+ Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền hậu,
đúng mực, biết lo toan.
2. Làm rõ đối tượng thứ 2
(bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao
tác lập luận phân tích)
Nhân vật người đàn bà chài
- Giới thiệu chung: Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể
hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sắc nét, theo lối
tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất.
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha,
độ lượng, giàu đức hi sinh.
+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh
phúc, can đảm, cứng cỏi.
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc
lẽ đời.
3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình
diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều
thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích, so sánh)
So sánh nét tương đồng, khác biệt

cũng không đi ra ngoài mục đích đó vậy. Bởi vậy với dạng đề này, bạn có
thể tham khảo các cấu trúc bài khác nhau và thỏa sức sáng tạo cho riêng
mình.

22 | Page


LƯU Ý :
Các dạng cụ thể của kiểu bài
Từ thực tế các đề thi đại học trong những năm vừa qua, chúng tôi nhận
thấy có những dạng và cấp bậc so sánh sau:
- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm: Đề khối D 2010- So sánh chi tiết
ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành
của Thị Nở dành cho Chí Phèo.
So sánh hai đoạn thơ (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang
Dũng và Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên- Đề khối C 2008.
- So sánh hai đoạn văn (khắc họa vẻ đẹp hai dòng sông) trong hai bài kí:
Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của
Hoàng Phủ Ngọc Tường- Đề khối C 2010.
- So sánh hai nhân vật (vẻ đẹp khuất lấp) của: người vợ nhặt trong Vợ nhặt
của Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu
3. Quy trình và cách thức thực hiện kiểu bài so sánh
a. Quy trình
Quy trình thực hiện kiểu bài so sánh có thể phân lập theo các bước sau. Đề
bao giờ cũng đưa ra các đối tượng để so sánh: hai đoạn thơ, hai đoạn văn,
hai nhân vật, hai chi tiết…
23 | Page





b. Cách thức
Cách trình bày kiểu bài so sánh thông thường có hai cách là nối tiếp và
song song.
Thứ nhất, nối tiếp là lần lượt phân tích từng đối tượng sau đó chỉ ra cái
giống và khác nhau. Cách này dễ làm nhưng khó hay, nhiều khi trùng lặp ý
và sắc thái so sánh bị chìm. Tuy nhiên, vì yêu cầu cho đại trà nên đáp án
đại học những năm qua thường gợi ý theo cách này.
Thứ hai là song song tức là song hành so sánh trên mọi bình diện của hai
đối tượng. Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lô
gic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề.

Qua đề thi nhiều năm ta có thể đánh giá và phân loại các dạng so sánh như
sau :
Đó là: So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học; so sánh hai đoạn
thơ; so sánh hai đoạn văn; so sánh hai nhân vật;
So sánh cách kết thúc hai tác phẩm; so sánh phong cách tác giả; so sánh,
đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm.

Cách làm bài dạng đề so sánh văn học
Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn
đề, song đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết,
hai đoạn thơ, hai đoạnh văn, hay hai nhân vật .... phương pháp làm bài văn
25 | Page



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status