Ôn thi đại học môn văn –phần 20
Gần đây, trong các đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, ở câu
5 điểm, đề bài thường ra kiểu bài so sánh văn học (đề thi
tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2007-2008, 2008-2009).
Đây là một kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa thành một bài học
riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó
đã ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng
như quá trình định hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên.
Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, bài viết này xin đưa ra
một số gợi ý để cùng các em ôn tập, phục vụ cho mùa thi 2009-
2010.
1. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp
nghĩa khác nhau. Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu
từ để tạo hình ảnh cho câu văn”(1) . Thứ hai, nó được xem như
một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận như: phân tích,
bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11.
Thứ ba, nó được xem như “một phương pháp, một cách thức
trình bày khi viết bài nghị luận”(2), tức là như một kiểu bài nghị
luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ;
nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ở sách giáo
khoa Ngữ văn 12. Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài
nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập.
Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu
cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết.
2. Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh
trên nhiều bình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái
tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… Quá trình
so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả,
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
THÂN BÀI:
1. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều
thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
2. Làm rõ đối tượng thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác
lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên
cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận
dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác
lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)
4. Lý giải sự khác biệt: thực hiện thao tác này cần dựa vào các
bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại;
phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…(
bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác
lập luận phân tích)
KẾT BÀI:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
Bây giờ thử kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án
câu III.a - Đề thi tuyển sinh đại học – cao đẳng năm 2009, khối C
như sau:
(bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ
yếu là thao tác lập luận phân tích)
Nhân vật người vợ nhặt
- Giới thiệu chung: Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng
người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác
phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập
giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về sau.
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống
mãnh liệt.
+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý
tứ.
+ Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền
hậu, đúng mực, biết lo toan.
2. Làm rõ đối tượng thứ 2
(bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ
yếu là thao tác lập luận phân tích)
Nhân vật người đàn bà chài
- Giới thiệu chung: Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với
việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc
người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch
tính, trong tình trạng bạo lực gia đình
4. Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các
bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại;
phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…(
bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác
lập luận phân tích)
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình
phát triển, biến đổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong
khi đó người đàn bà chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện
thực nhức nhối đang tồn tại (cảm hứng thế sự-đời tư trong
khuynh hướng nhận thức lại)
+ Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với
quan niệm con người đa dạng, phức tạp (Chiếc thuyền ngoài xa)
đã tạo ra sự khác biệt này
(có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề
thi)
KẾT BÀI
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
(Học sinh dựa vào gợi ý bên để viết kết bài. Có nhiều cách kết bài
khác nhau, hướng dẫn bên chỉ có tính chất tham khảo)
4. Như chúng tôi đã trình bày, kiểu bài so sánh văn học có yêu
cầu so sánh khá phong phú, đa dạng khó có thể tìm ra một dàn
bài khái quát thỏa mãn tất cả các dạng đề bài. Trong yêu cầu của
từng đề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học sinh cần linh hoạt,
sáng tạo. Vấn đề cốt tủy của mọi bài nghị luận là làm thế nào để
vừa “trúng” vừa “hay”. Nguyên tắc trình bày một bài nghị luận so
sánh văn học cũng không đi ra ngoài mục đích đó vậy.