Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của tòa án nhân dân tinh đắk lắk (tt) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN XUÂN HÒA

TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: LUẬT HIẾN PHÁP- LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60 38 01 02

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP- LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮKLẮK – NĂM 2016


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học:Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hà

Phó trưởng khoa Lý luận cơ sở Học viện Hành chính Quốc gia

Phản biện 1 : Phó Giáo sư. Tiến sỹ. Lê Thị Hương
Phản biện 2: Tiến sỹ. Đỗ Văn Dương

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính
Quốc gia

ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi không giống nhau về giáo dục pháp luật nói
chung, giáo dục pháp luật thông qua xét xử của tòa án, hay tại một địa bàn nói riêng. Có thể kể tới một số công
trình tiêu biểu theo các nhóm sau:
Những công trình nghiên cứu lý luận chung về giáo dục pháp luật
- Nguyễn Đình Lộc (1987), Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật ở Việt Nam, Luận án Phó tiến
sĩ Luật học (bảo vệ ở Liên Xô cũ). Đây là một trong số ít công trình nghiên cứu đầu tiên về giáo dục ý thức pháp
luật, trong đó, tác giả phân tích những vấn đề lý luận về ý thức pháp luật, như khái niệm, đặc điểm, cấu trúc của
ý thức pháp luật; khảo sát tình hình giáo dục pháp luật ở Việt Nam, chỉ ra những điểm tích cực, hạn chế của công
tác này và đề xuất những giải pháp cho công tác giáo dục pháp luật tại Việt Nam.
- Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội. Đây là cuốn sách chuyên khảo đề cập một cách hệ thống các vấn đề về giáo dục pháp luật trên phương
diện lý luận: chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức giáo dục pháp luật... và nêu lên các biện pháp nâng cao hiệu
quả công tác giáo dục pháp luật.

1


Những công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật gắn với một đối tượng cụ thể và ở một địa bàn
nhất định
Chủ đề giáo dục pháp luật cho từng đối tượng cụ thể và tại từng địa bàn cụ thể cũng được triển khai
nghiên cứu tương đối đa dạng, phong phú.
- Trần Công Lý (2009), Giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay, Luận án
Tiến sĩ Quản lý hành chính công, Hà Nội. Luận án này được hoàn thành tại Học viện Hành chính (Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), trong đó tác giả luận bàn về giáo dục ý thức pháp luật chứ không
phải giáo dục pháp luật. Mặc dù cũng bàn đến các vấn đề về chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình
thức giáo dục ý thức pháp luật gắn với đối tượng cán bộ, công chức; song về thực chất chúng đều dựa trên nền
của giáo dục pháp luật.
- Nguyễn Quốc Sửu (2011), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều

động tranh tụng tại phiên tòa với sự tham gia của Kiểm sát viên giữ quyền công tố, Thẩm phán và Luật sư. Tác
giả cho rằng, bản thân quá trình hoạt động tư pháp đã mang tính chất giáo dục pháp luật. Vấn đề đặt ra là cần có
giải pháp cụ thể để phát huy hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp.
Điều đó cũng có nghĩa là, ngay tại phiên tòa, hoạt động tranh tụng, thẩm vấn công khai, xét xử công khai
bị cáo tại phiên tòa đã có tác dụng giáo dục pháp luật đối với bị cáo, giúp bị cáo ít nhiều nhận ra tội lỗi của mình
và tác động đến nhận thức, ý thức pháp luật của những người tham dự phiên tòa. Công trình này có giá trị tham
khảo quý báu đối với tác giả không chỉ về mặt lý luận, mà còn gợi mở những biện pháp thực tiễn nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án.
- Nguyễn Thị Tĩnh (2013), Giáo dục pháp luật trong hoạt động thu thập chứng cứ tại Tòa án, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp, số 4/2013. Trong bài viết này, tác giả khẳng định rằng, hoạt động thu thập chứng cứ tại
Tòa án hàm chứa nhiều khía cạnh của chức năng giáo dục pháp luật cho đông đảo quần chúng nhân dân. Chẳng
hạn, việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, trưng cầu giám định... là những hoạt động chuyên môn
nghiệp vụ nhằm bổ sung các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết một vụ kiện. Nhìn từ góc độ giáo dục pháp
luật, đây là một trong những hoạt động truyền thụ kiến thức pháp lý. Bài viết chỉ nhìn từ góc độ dân sự và không đề
cập đến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử.
Từ sự tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây, có thể khẳng định rằng, đã có những nội dung nghiên
cứu ở mức độ hạn chế về giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư pháp của tòa án, tuy nhiên còn thiếu vắng
những nghiên cứu có hệ thống và chuyên biệt về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét
xử của tòa án; hơn nữa, đánh giá công tác tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của
Tòa án tỉnh Đắk Lắk thì lại càng chưa có công trình nào đề cập tới. Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề nêu
trên làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là từ sự phân tích cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện giáo dục pháp
luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua
hoạt động xét xử của Tòa án tại Đắk Lắk, chỉ ra những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế của công tác này để
trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động
xét xử của Tòa án.
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đó, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

liệu tham khảo quan trọng của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp
so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa... để nghiên cứu các vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động xét xử của Tòa án; sử dụng phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu có sẵn để thu thập các số
liệu thực tế từ các hoạt động của ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk phục vụ cho việc đánh giá thực trạng công tác tổ
chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án và luận chứng tính khả thi của các giải
pháp mà luận văn đề xuất.
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ khái niệm, mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình
thức tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án; chỉ ra được vai trò, đặc trưng
của công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án.
- Đánh giá được thực trạng công tác tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử
của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đề xuất được các quan điểm và giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện giáo
dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk.

4


7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện các vấn đề lý
luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án; qua đó, luận
văn cung cấp, bổ sung thêm các căn cứ lý luận và thực tiễn, góp phần làm phong phú và hoàn thiện thêm lý luận
về giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng.
Với những kết quả đạt được, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc học tập,
nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; được ngành
Tòa án tỉnh Đắk Lắk sử dụng làm luận cứ khoa học, tài liệu tham khảo phục vụ việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều
hành công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án.
8. Kết cấu của luận văn

1.1.2. Đặc trưng của giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
Thứ nhất, hoạt động giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án về bản chất là một hình
thức giáo dục pháp luật, song lại hàm chứa đầy đủ các thành tố của hoạt động giáo dục pháp luật. “Đó là dạng
hoạt động được thực hiện thông qua sự tương tác giữa chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận giáo dục
pháp luật” [33, tr. 125]; là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch, tuân theo những nội
dung giáo dục pháp luật cụ thể được chủ thể xây dựng dành riêng cho đối tượng, dựa trên các phương pháp giáo
dục và hình thức giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của hoạt động xét xử.
Thứ hai, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử có tính tính đa chủ thể và đa đối tượng.Chủ thể
thực hiện công tác giáo dục pháp luật đồng thời là chủ thể tiến hành hoạt động tố tụng tại phiên tòa. Các chủ thể
giáo dục pháp luật trong một phiên toà trước tiên là những người tiến hành hoạt động xét xử (Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thư ký phiên toà...) và những người tham gia tố tụng khác (Kiểm sát viên, Luật sư...). Các chủ
thể này đều có một nhiệm vụ chung là góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án làm cơ sở để
ban hành được bản án, quyết định nghiêm minh, đúng người, đúng tội, lỗi, đúng pháp luật, thông qua đó mà đạt
được những mục đích giáo dục pháp luật đã đề ra.
Thứ ba, nội dung giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử rất đa dạng và được thực hiện ở hầu
hết các thủ tục tố tụng tại phiên toà. Nội dung giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử rất đa dạng, như
những quy pham pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản
pháp luật khác; Bộ luật Dân sự, Lao động, pháp luật hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
thi hành; Bộ luật Tố tụng Dân sự,, Hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành có liên
quan...
Nội dung giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử được thể hiện tại hầu hết các giai đoạn thuộc
thủ tục tố tụng tại phiên tòa, bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn bắt đầu phiên toà, giai đoạn xét hỏi,
tranh luận tại phiên toà, giai đoạn nghị án và công bố bản án, quyết định của Toà án và sau khi tuyên án. Ở tất cả
các giai đoạn đó đều cần phải kết hợp và lồng ghép các nội dung giáo dục pháp luật phù hợp nhằm đạt hiệu quả
cao của công tác giáo dục pháp luật.
Thứ tư, bên cạnh các phương pháp giáo dục khác, phương pháp giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động xét xử chủ yếu là phương pháp kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế, giữa diễn giải pháp luật và phân
tích thực tiễn thông qua người thật, việc thật.
Thứ năm, hiệu quả của hoạt động xét xử tại phiên tòa đồng thời phản ánh hiệu quả công tác giáo dục
pháp luật tại phiên tòa. Hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử có thể được đánh

sự tích cực theo các yêu cầu của pháp luật.
1.1.4. Vai trò của giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
Công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò rất quan trọng đối với cả
những người tham dự, theo dõi phiên tòa và đặc biệt là đối với đương sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan.
Đối với những người tham dự, theo dõi phiên tòa
Thứ nhất, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử tại phiên toà giúp cho những người tham dự
hoặc theo dõi phiên toà hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn về những quy định pháp luật được áp dụng vào việc giải
quyết vụ án
Thứ hai, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử góp phần củng cố, nâng cao ý thức tôn trọng,
chấp hành pháp luật, tự giác và chủ động thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp cho nhân dân.
Đối với bị cáo (trong phiên tòa xét xử): Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử giúp cho bị cáo
nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.Giáo
dục pháp luật có vai trò cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho bị cáo; giúp chuẩn
bị tâm lý, tư tưởng, kiến thức pháp luật để bị cáo yên tâm học tập, cải tạo trong quá trình chấp hành án phạt tù tại
trại giam.
Đối với đương sự trong vụ án dân sự (gồm dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình):
Khi tham gia phiên tòa, các đương sự được phổ biến, giải thích về Quyền và nghĩa vụ của đương sự
được quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với sự trợ giúp của bên hỗ trợ pháp lý, người đại diện
theo ủy quyền, sẽ giúp các đương sự hiểu rõ hơn quy định pháp luật, từ đó nâng cao ý thức pháp luật cho bản
thân.

7


1.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN
1.2.1. Khái niệm về tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
Để các vụ án được xét xử một cách khách quan toàn diện, triệt để thể hiện sự nghiêm minh của pháp
luật hướng tới mục đích giáo dục ý thức pháp luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật đến các đối tượng là những

phòng, chống tham nhũng, ma túy và các tệ nạn xã hội... mà chủ thể giáo dục pháp luật có trách nhiệm truyền
đạt, chuyển tải cho các đối tượng, giúp họ có được những thông tin, kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật;
trên cơ sở đó, làm hình thành ý thức pháp luật, tạo dựng cho đối tượng niềm tin đối với pháp luật, biết sống và
làm việc theo pháp luật; góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.

8


Nhìn trên phương diện các văn bản quy phạm pháp luật, nội dung giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động xét xử của Tòa án bao gồm:
- Những quy pham pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp và các
văn bản pháp luật khác;
- Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành có liên quan;
- Bộ luật tố tụng và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành có liên quan;
- Luật thi hành án và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành có liên quan (chủ yếu cung
cấp thông tin pháp luật cho bị cáo nhằm chuẩn bị cho quá trình chấp hành án phạt tù trong trại giam).
Nhìn trên phương diện mục đích, ý nghĩa của giáo dục pháp luật, nội dung giáo dục pháp luật thông qua
hoạt động xét xử của Tòa án trước tiên là hướng đến giải thích, cung cấp cho các đối tượng của hoạt động xét xử
những kiến thức pháp luật cụ thể liên quan trực tiếp đến nội dung hoạt động tố tụng, đến cách thức mà đối tượng
có thể hành động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cũng như thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật.
Đồng thời, nội dung giáo dục pháp luật còn bồi dưỡng nhận thức, tình cảm về sự công bằng và nghiêm minh của
pháp luật trong hoạt động xét xử; định hướng hành vi để công dân tự giác tuân thủ, chấp hành những quyết định
của cơ quan tiến hành xét xử, sử dụng đúng đắn quyền, nghĩa vụ trong các tình huống pháp luật cụ thể liên quan
đến hoạt động tố tụng; nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm pháp lý của cá nhân; tự kiểm tra, giám sát hành vi
của mình cũng như của người khác.
1.2.3.2. Phương pháp giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
Phương pháp giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án là tổ hợp những cách thức tác
động được chủ thể sử dụng nhằm truyền đạt, chuyển hóa nội dung giáo dục pháp luật thành kiến thức, hiểu biết
pháp luật của đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật; qua đó, hiện thực hóa mục đích, mục tiêu giáo dục pháp
luật cho đối tượng.

thông;Hình thức phát tài liệu giáo dục pháp luật ngay tại phiên tòa
1.3. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
1.3.1. Chính sách, pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật
Hoạt động xét xử của tòa án được coi là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật (khoản 5 Điều 11
luật phổ biên giáo dục pháp luật). Do vậy, hoạt động này cần được tổ chức phù hợp với chính sách, pháp luật về
phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 3 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã quy định về chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục
pháp luật. Theo đó, phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà
nước giữ vai trò nòng cốt; nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; thực
hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có đóng góp tích
cực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
1.3.2. Ý thức pháp luật và khả năng tiếp nhận pháp luật của người dân

Xét cho cùng, người dân nói chung là chủ thể cần được phổ biến, giáo dục pháp luật. Được
thông tin về pháp luật là quyền của công dân mà Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện. Điều 2
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã quy định: “1. Công dân có quyền được thông tin về pháp luật và
có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; 2. Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân
thực hiện quyền được thông tin về pháp luật.”. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau mà ý thức pháp
luật và khả năng tiếp nhận pháp luật của người dân qua công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là không
tương đồng, nên công tác tổ chức giáo dục pháp luật của ngành tòa án cũng phải được xây dựng cho
phù hợp với khả năng tiếp nhận của người dân.
1.3.3. Yếu tố nguồn lực của chủ thể tổ chức giáo dục pháp luật
Tổ chức giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của tòa án xác định Tòa án là chủ thể chủ đạo, từ
khâu lên kế hoạch đến khâu điều phối thực hiện. Tùy từng loại phiên tòa được tổ chức như thế nào mà khả năng
phố biến, giáo dục pháp luật và sự chuẩn bị các điều kiện vật chất, con người là không giống nhau. Thông
thường, những phiên xét xử tại tòa án có ít người tham dự hơn khi xét xử lưu động. Đây là những vấn đề cần
được chú ý trong công tác tổ chức xét xử của ngành tòa án, nhất là khi đề cao mục đích tuyên truyền, giáo dục
pháp luật cho đông đảo người dân.


xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định
2.1.4. Tình hình văn hóa – xã hội
Về giáo dục - đào tạo: toàn tỉnh có 987 trường, 16.613 lớp với 448.642 học sinh. Tỷ lệ huyện đạt chuẩn
phổ cập THCS đạt 100%. Năm học 2014 – 2015, toàn tỉnh có 25 trường đạt chuẩn Quốc gia, nâng tổng số
trường đạt chuẩn Quốc gia lên 300/987 trường, đạt tỷ lệ 30,79%, tăng 3,76% so với năm học trước. Kỳ thi THPT
quốc gia năm 2015 đã được tổ chức tốt với tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp đạt 85,01%.[ 49]
- Về y tế Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 75,5%. 100% trạm y tế xã có bác sỹ, trung bình có 6,6
bác sỹ và 22,8 giường bệnh/ 1 vạn dân [49].

- Công tác giải quyết việc làm, dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề cho lao động nông thôn ngày
càng được chú trọng; trong 5 năm 2011-2015 đã giải quyết việc làm cho 13 vạn lao động. Năm 2015

11


ước tính tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn 2,94 %, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn giảm còn 11%.
[ 49]
- Công tác giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội được các cấp, các ngành, các địa
phương tích cực triển khai thực hiện và tiếp tục có kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn
7,5% (giảm 14,29%% so với năm 2010). Trong đó tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn
14,65% giảm 24,3%. Các nhu cầu chính đáng hợp pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được giải
quyết đúng chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước; Đồng bào các tôn giáo tham gia
tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn [49].
2.2. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA NGÀNH TÒA ÁN TỈNH ĐẮK LẮK TRONG NHỮNG NĂM QUA (2012 - 2016)
2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1. Những kết quả đạt được
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố
tụng, xét xử phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp
huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Tổng số biên chế của ngành tòa án nhân

trình kiểm tra, theo dõi hoạt động của các đơn vị cấp huyện khi có vi phạm đã kịp thời có văn bản yêu cầu chấn
chỉnh như công văn số 36/TA ngày 26/6/2015 về cung cấp thông tin cho Sở Tư pháp; công văn số 197/TA ngày
17/6/2015 về thực hiện quy chế phối hợp liên ngành. Tòa án tỉnh ĐakLăk đã phối hợp với các ngành Công an,
Viện kiểm sát xây dựng nhiều văn bản, quy chế phối hợp liên ngành như: Văn bản số 665 ngày 21/8/2012 của
liên ngành CA- VKS- TA tỉnh về phối hợp giải quyết tin báo tố giác tội phạm và áp dụng biện pháp tạm giam;
Hướng dẫn số 689 ngày 27/8/2012 của liên ngành CA- VKS- TA tỉnh về phối hợp giải quyết khiếu nại tố cáo
trong tố tụng hình sự. Quy chế số 02 ngày 22/7/2013 của liên ngành VKS- TA tỉnh về phối hợp tổ chức phiên
tòa hình sự để rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp; Văn bản số 01 ngày 24/1/2013 của liên ngành
VKS- TA tỉnh về hướng dẫn giải quyết mốt số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Quy chế
số 01/ 2015 của của liên ngành VKS- TA tỉnh về phối hợp tổ chức phiên tòa dân sự để rút kinh nghiệm .
b) Trong công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa
án nhân dân huyện
Thứ nhất Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quan tâm chăm lo, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ tòa án vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, có phương pháp và kỹ năng tuyên truyền, giáo dục pháp
luật tại các phiên tòa. Riêng đối với công tác giáo dục pháp luật, từ năm 2012 đến cuối năm 2015, Tòa án nhân
dân tỉnh đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao mở được 5 lớp tập huấn nghiệp vụ phổ biến pháp luật tại phiên
tòa, thu hút trên 200 Thẩm phán, Thư ký phiên tòa của Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện tham
dự. Hầu hết Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh đã được tham dự các lớp bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ xét xử
và kỹ năng tuyên truyền pháp luật tại phiên tòa do Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Trường Cán bộ Tòa án
mở, đạt yêu cầu cao về chất lượng [44]. Nhờ đó, đa phần cán bộ, công chức ngành Tòa án tỉnh đã có được những
kỹ năng cần thiết về chuyên môn, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, sẵn sàng đáp ứng tốt nhiệm vụ giáo
dục pháp luật tại phiên tòa.
Thứ hai, hình thức giáo dục pháp luật chủ yếu, phù hợp với giáo dục pháp luật thông qua phiên tòa xét
xử, được ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk tập trung khai thác, sử dụng là tuyên truyền miệng trong phiên tòa xét xử
tại trụ sở Tòa án.
Trong xét xử, chất lượng phiên tòa ngày càng được cải thiện theo tinh thần cải cách tư pháp, số lượng
phiên tòa được tổ chức ngày càng lớn, số lượng bản án có nội dung không rõ ràng gây khó khăn cho thi hành
án, số lượng án bị hủy, bị sửa đã giảm rõ rệt, việc công khai bản án được thực hiện nghiêm túc....đã nâng cao
hiệu quả giáo dục pháp luật cho người dân.
Thứ ba, Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cũng rất chú

Tòa án nhân dân) trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ cũng như phối hợp giáo dục pháp luật tại phiên tòa xét
xử cũng còn nhiều hạn chế. Năm 2015, trong số 97 vụ án Tòa án đã trả cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung có
05 vụ trả không đúng quy định (chưa đạt chỉ tiêu). Tòa án nhân dân tỉnh đã có yêu cầu Tòa án nhân dân cấp
huyện khắc phục vi phạm trong công tác phối hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung; giải trình, kiểm điểm về việc trả
hồ sơ không đúng quy định trước lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh [43]. Tình trạng đó không khỏi khiến dư luận xã
hội băn khoăn, nghi ngờ năng lực của các cơ quan tố tụng, ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục pháp luật.
- Nội dung giáo dục pháp luật tại phiên tòa có thể do nhiều chủ thể thực hiện nên không loại trừ có sự
mâu thuẫn trong việc đánh giá tình tiết, chứng cứ hay sự viện dẫn các điều luật có liên quan (trong lời buộc tội
và gỡ tội, trong lập luận của bên nguyên và bên bị...) do trình độ tri thức pháp luật, quan điểm tiếp cận, lăng kính
chủ quan của mỗi bên tại phiên tòa. Sự mâu thuẫn đó nếu xảy ra giữa đại diện các cơ quan tham gia tố tụng co
thể gây khó khăn, hoang mang cho người được giáo dục là người không có chuyên môn về pháp luật, làm giảm
hiệu quả giáo dục pháp luật.
- Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ xét xử, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật tại phiên tòa của một bộ
phận cán bộ, công chức ngành Tòa án, nhất là những người đang công tác ở cấp huyện, cũng còn hạn chế, khiến
cho những người tham dự, theo dõi phiên tòa không hiểu được nội dung giáo dục pháp luật, không “tâm phục,
khẩu phục”, làm giảm chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật.
Năm 2015, vẫn còn một số bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan. Tòa án hai cấp bị hủy theo trình tự phúc
thẩm và thủ tục giám đốc thẩm 54 vụ do lỗi chủ quan, chiếm tỷ lệ 0,58%; sửa do lỗi chủ quan 153 vụ, chiếm tỷ
lệ 1,65%. Các bản án, quyết định bị hủy chủ yếu là do vi phạm thủ tục tố tụng; điều tra, thu thập chứng cứ không
đầy đủ, việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án chưa chính

14


xác (một số sai sót mặc dù đã được lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa chuyên trách, phòng Giám đốc kiểm tra
thuộc Tòa án nhân dân tỉnh nhắc nhở, rút kinh nghiệm tại các kỳ giao ban quý Tòa án nhân dân hai cấp nhưng
một số Thẩm phán vẫn mắc phải). Cụ thể:
+ Trong công tác giải quyết án dân sự, một số trường hợp Thẩm phán xác định thiếu người tham gia tố
tụng hoặc xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng; xem xét tại chỗ không cụ thể, biên bản không không
ghi hết toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp dù giá trị sử dụng không đáng kể; áp dụng không đúng pháp luật, đánh

Thứ nhất, công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án không thể tách rời vai trò
lãnh đạo của Đảng bộ, các cấp ủy Đảng từ Tòa án nhân dân tối cao đến Tòa án nhân dân cấp huyện.

15


Thứ hai, công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án phải luôn nhận được sự
quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp lãnh đạo ngành Tòa án.giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử
đạt được hiệu quả cao.
Thứ ba, công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử đòi hỏi phải củng cố, xây dựng được
một đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án đủ về số lượng và có các kỹ năng nghiệp vụ giáo dục pháp luật cơ
bản.
Thứ tư,công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử đòi hỏi phải bám sát nhu cầu tiếp nhận
tri thức, hiểu biết pháp luật của từng nhóm đối tượng tại phiên tòa
Thứ năm, công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án đòi hỏi phải có sự phối
hợp chặt chẽ giữa Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng và chính quyền địa phương.
Thứ sáu, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử phải sáng tạo, linh
hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng tiếp nhận.
Thứ bảy, Tòa án nhân dân các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát công tác giáo dục pháp luật thông
qua hoạt động xét xử.
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬCỦA TÒA ÁN
3.1. CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC
HIỆN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
3.1.1. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Việc quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
chính là cơ sở để xây dựng các giải pháp khả thi, phù hợp nhằm bảo đảm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật
cho các đối tượng xã hội; đồng thời, vận dụng các quan điểm, đường lối đó vào công tác giáo dục pháp luật

phải bảo đảm đáp ứng quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của bị cáo và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; tránh tình trạng áp đặt, duy ý chí.
- Nguyên tắc nhân đạo Bộ luật hình sự đã đưa ra các nguyên tắc xử lý mang tính nhân đạo. Điều 3 Luật
này quy định: “3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục...” [2]. Việc Tòa án áp dụng hình
phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, luật pháp quy định bắt buộc người bị kết án phải chấp hành án trong trại giam
không nhằm hạ nhục danh dự, nhân phẩm hay gây đau đớn về thể xác của họ; mà là cách thức giáo dục, cải tạo
để giúp họ trở về với con đường lương thiện, trở thành công dân có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Điều đó nói lên tinh thần nhân đạo, nhân văn trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta đối
với người bị kết án.
Việc pháp luật quy định giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử tự nó đã chứng tỏ tính chất nhân
đạo, nhân văn của pháp luật, rằng giáo dục pháp luật là để trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật cho các đối
tượng tham dự, theo dõi phiên tòa, kể cả bị cáo (giúp họ nhận ra sai lầm). Bởi vậy, trong công tác giáo dục pháp
luật thông qua hoạt động xét xử hình sự phải tuân thủ nguyên tắc “bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng
nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án” [22].
- Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, truyền đạt trung thành, chính xác văn bản pháp luật Việc giáo dục
pháp luật thông qua hoạt động xét xử phải đảm bảo tính chính xác, các chủ thể giáo dục pháp luật không được
suy diễn sai lệch nội dung của các quy phạm pháp luật; sự giải thích pháp luật phải đảm bảo chặt chẽ về mối liên
hệ giữa các điều luật trong một văn bản pháp luật, giữa các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật với nhau
và các quy phạm pháp luật phải được đặt trong bối cảnh ban hành, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội. Mọi sự tùy
tiện, cảm tính, chủ quan, duy ý chí của các chủ thể trong công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử
đều có thể dẫn đến hệ quả phản tác dụng của công tác này.
3.1.4. Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo của TAND cấp trên
Chức năng chính của Toà án là tổ chức, thực hiện hoạt động xét xử, trong đó có xét xử. Mọi nhiệm vụ
khác của Toà án đều nhằm thực hiện tốt nhất chức năng xét xử theo luật định, bao gồm cả nhiệm vụ giáo dục
pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2014):“1. Tòa án

17


Thứ nhất, Tòa án nhân dân cấp trên tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt sâu sắc tới Đảng ủy, Ban lãnh
đạo Tòa án nhân dân cấp dưới, tới đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án về ý nghĩa, tầm quan trọng của công
tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử, phải coi đó là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của ngành
Tòa án trong giai đoạn hiện nay;
Thứ hai, Tòa án nhân dân cấp trên thường xuyên hoặc định kỳ hàng quý gửi văn bản đôn đốc, nhắc nhở
Tòa án nhân dân cấp dưới chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung, dự kiến cụ thể thời gian tổ chức
giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử, trong đó chú trọng tăng cường công tác xét xử lưu động có lồng
ghép nội dung giáo dục pháp luật. Các kế hoạch, chương trình giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử nói
chung, xét xử nói riêng phải được gửi cho Tòa án nhân dân cấp trên để tạo cơ sở thuận lợi cho việc kiểm tra,
giám sát thực hiện.

18


Thứ ba, định kỳ hoặc đột xuất tổ chức các đoàn công tác của Tòa án nhân dân cấp trên đi khảo sát, kiểm
tra, đánh giá việc thực hiện công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cấp
dưới.
Thứ tư, Tòa án nhân dân cấp trên, nếu hội đủ năng lực, điều kiện, có thể tổ chức các cuộc thăm dò dư
luận xã hội để thu thập thông tin phản hồi của cán bộ, công chức và nhân dân về hiệu quả thực thi pháp luật, nhu
cầu thông tin giáo dục pháp luật; từ đó, điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức, biện pháp giáo dục pháp
luật phù hợp với yêu cầu của thực tiễn hoạt động xét xử.
Thứ năm, do việc đổi mới, đa dạng hóa nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luât thông qua
hoạt động xét xử trong quá trình thực hiện khó tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập; bởi vậy, sau khoảng 2 3 năm triển khai thực hiện, Tòa án nhân dân các cấp cần tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo nhằm tổng kết, đánh
giá, rút kinh nghiệm về những mặt được và chưa được trong công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét
xử; trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm ngày càng hoàn thiện chương trình, nội
dung, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, nhân dân.
3.2.1.2. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động xét xử cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án và Hội thẩm nhân dân.
+ Tập huấn chuyên đề pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án và Hội thẩm nhân dân có
chức năng, nhiệm vụ và trực tiếp làm công tác giáo dục pháp luật tại phiên tòa hướng tới cung cấp, trang bị cho

Tỉnh Đắk Lắk đã triển khai Đề án “Tăng cường công tác PBGDPL trên Đài Truyền hình giai đoạn 2013 - 2016”
Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh chủ trì, thực hiện theo Kế hoạch số 6745/KH-UBND ngày 27/9/2013 của
UBND tỉnh. Tỉnh cần đưa nội dung tuyên truyền về phiên tòa xét xử ở tỉnh vào thành nội dung cơ bản của thực
hiện Đề án. Theo đó, về mặt tổ chức thực hiện, các sở, ngành, tổ chức, đơn vị ở tỉnh và địa phương, các cơ quan
Báo, Đài của tỉnh cần thực hiện thường xuyên đẩy mạnh đưa tin các phiên tòa trên các phương tiện thông tin đại
chúng, như: Tăng cường xây dựng và thực hiện các chuyên mục tuyên truyền, PBGDPL mang tính chuyên ngành của
các cơ quan, đơn vị, địa phương trên Báo Dak Lak, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh các huyện,
thị xã, thành phố.
Tòa án nhân dân tỉnh và các huyện cần lập đề án xin Hội đồng nhân dân hỗ trợ kinh phí để lắp đặt hệ
thống truyền thanh trực tiếp giữa Tòa án với Đài truyền hình tỉnh, đài thanh huyện để truyền trực tiếp phiên tòa
xét xử các vụ án trên mạng lưới truyền thanh của địa phương, nhất là trên địa bàn mỗi huyện. Tại các huyện, cần
bố trí những loa có công suất lớn để phục vụ cho việc phát thanh trực tiếp các phiên xử lưu động. Mỗi phiên tòa
được đưa lên mạng lưới truyền thanh cơ sở thì không chỉ những người tham dự phiên tòa được biết mà là cả
huyện và các vùng lân cận đều được nghe thông tin về vụ án đang được xét xử. Người dân dù đang lao động
ở ngoài đồng ruộng hay ở nhà đều có thể nghe và theo dõi được toàn bộ diễn biến phiên tòa.
3.2.2.2. Tăng cường xét xử lưu động
Thực tiễn ở Đắk Lắk cho thấy, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công tác xét xử các
phiên tòa lưu động nhận được sự quan tâm đông đảo của người dân, đã có tác dụng tích cực góp phần nâng cao
nhận thức pháp luật trong cộng đồng dân cư. Đây là công tác cần được Đảng, Nhà nước quan tâm hơn nữa trong
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Thời gian tới, ngoài các vụ án hình sự nghiêm trọng, loại tội phạm xảy ra nhiều, tòa án ở tỉnh Đắk Lắk
cần tổ chức nhiều hơn nữa các phiên tòa xét xử lưu động các vụ án tranh chấp dân sự, nhất là tranh chấp đất đai,
chia thừa kế, án hôn nhân và gia đình. Đặc biệt là các vụ án xin ly hôn mà nguyên nhân từ bạo lực gia đình như:
đánh đập, ngược đãi, hắt hủi…..Tại các phiên tòa xét xử được truyền thanh trực tiếp hoặc các phiên tòa xét xử
lưu động, Hội đồng xét xử cần lồng ghép để phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi người dân, nhất là Hiến pháp
năm 2013, Luật giao thông đường bộ, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng
dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự,… Tòa án cần phối hợp với các cơ quan ban ngành thực hiện tốt
và duy trì thường xuyên công tác xét xử lưu động, truyền thanh trực tiếp các vụ án đế phổ biến tuyên truyền giáo
dục pháp luật cho người dân trên địa bàn huyện.
Để phiên tòa xét xử lưu động diễn ra được thuận lợi thì cần lựa chọn được những người đã từng tham gia

án có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác giáo dụng pháp luật. Các vụ,
việc được Tòa án thụ lý giải quyết nghiêm minh, khách quan, thấu tình, đạt lý sẽ đem lại hiệu quả giáo dục pháp
luật cao. Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp pháp luật hiện hành quy định còn chưa cụ thể, khó hiểu,
dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật của mỗi ngành, của mỗi người tiến hành tố tụng có sự khác nhau
dẫn đến việc ra quyết định, bản án của Tòa án có vụ, việc chưa chuẩn xác phải kháng nghị, hủy đi hủy lại nhiều
lần hoặc bị cải sửa nghiêm trọng làm cho nhân dân mất niềm tin vào công lý và dẫn đến chất lượng công tác
giáo dục thông qua hoạt động xét xử của Tòa án hạn chế. Do vậy Tòa án cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan
tiến hành tố tụng xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp liên ngành phù hợp với các quy định của pháp
luật, như: quy chế phối hợp liên ngành trong việc giải quyết các vụ án hình sự; Quy chế phối hợp liên ngành
trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự; Quy chế phối hợp liên ngành trong việc thực hiện các phiên tòa rút
kinh nghiệm, phiên tòa xét xử lưu động. Công tác phối hợp liên ngành không phải là làm mất đi sự độc lập của
Tòa án trong qúa trình xét xử vụ án mà nhằm mục đích đảm bảo cho việc xử lý các vụ việc nhanh chóng, khách
quan, toàn diện có căn cứ đúng pháp luật đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện giáo dục
pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án.
Để việc tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử đạt hiệu quả cao không thể
thiếu sự phối hợp, giám sát của chính quyền địa phương đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Để những vụ án
đưa đi xét xử lưu động đạt hiệu quả cao thì vai rò của chính quyền địa phương trong việc thông báo, tuyên
truyền thời gian địa điểm mở phiên tòa, bố trí lực lượng tại chỗ bảo vệ phiên tòa, chuẩn bị địa điểm, phương tiện

21


cho phiên tòa được diễn ra thuận lợi là hết sức quan trọng. Để đánh giá hiệu quả của việc giáo dục pháp luật
thông qua phiên tòa thì phải xem xét ở nhiều khía cạnh, nếu chỉ xét ở khía cạnh số lượng người đến tham dự và
trật tự tại phiên tòa thì một phiên Tòa xét xử lưu động thu hút đông người tham dự và trật tự lắng nghe những
người tiến hành tố tụng tại phiên tòa, xét về mặt số lượng như vậy đã thành công và thành công này có sự đóng
góp quan trọng của chính quyền địa phương. Do vậy Tòa án phải tăng cường phối hợp với chính quyền địa
phương, xây dựng quy chế phối hợp với chính quyền địa phương trong việc đưa các vụ án đi xét xử lưu động.
Hàng năm tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân Tòa án báo cáo kết quả công tác của ngành và đề xuất, đề nghị
Hội đồng nhân dân đưa việc hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với hoạt động xét xử lưu động của Tòa án


22


thức pháp luật cho cán bộ, công chức và nhân dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong hoạt động xét xử án của ngành Toà án tỉnh vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu trong tình hình mới: vẫn còn tình trạng án bị hủy, cải sửa do áp dụng không đúng pháp luật và vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tình hình đó ít nhiều gây ảnh hưởng đến uy tín của ngành Tòa án, tác động
đến niềm tin của nhân dân vào tính công bằng, công lý của Toà án. Công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động xét xử vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, làm giảm chất lượng, hiệu quả của công tác này.
Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
đòi hỏi phải dựa trên các quan điểm có tính chất chỉ đạo, như: quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng
về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định pháp luật của Nhà
nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong công tác giáo dục pháp luật thông
qua hoạt động xét xử...Để bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này trong những năm tới cần thực
hiện các nhóm giải pháp sau đây:
Nhóm giải pháp chung: Một là, tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra của
các cơ quan Tòa án cấp trên đối với công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án
cấp dưới. Hai là, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động xét xử cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án. Ba là,đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử.
Nhóm giải pháp riêng cho tỉnh Đắk Lắk:. Một là, đẩy mạnh truyền thông, truyền thanh, truyền hình về
phiên tòa. Hai là, tăng cường xét xử lưu động. Ba là, Tuyển chọn, đào tạo đội ngũ Thẩm phán, thư ký và Hội
Thẩm nhân dân là người đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tuyên truyền
giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Bốn là Tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa Tòa án với
các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa Tòa án với chính quyền địa phương.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status