Văn hóa giao tiếp của sinh viên trường đại học Văn hóa Hà Nội - Pdf 41

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài.
Văn hóa giao tiếp của người Việt đã được hình thành trong 4000 năm dựng
nước và giữu nước. Cái đẹp trong văn hóa giao tiếp được ông cha ta lưu giữ,
truyền từ đời này sang đời khác. Ngày nay, mặc dù xã hội đã có nhiều thay đổi
nhưng văn hóa giao tiếp vẫn có tầm qua trọng đặc biệt.Nó tạo nên một mối quan
hệ có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cư, trong tình bạn, trong tinh
yêu, trong gia đình, trong nhà trường, trong kinh doanh, đàm phán – thương
lượng khi co những bất đồng có thể dẫn đến xung đột.
Trong cuộc sống, trong giao tiếp hàng ngày con người luôn phải ứng
phó với biết bao tình huống, có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp. Xã hội
càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người càng cao. Ứng xử
một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ
nghệ thuật, ngày nay còn được coi như bí quyết thành công trong cuộc sống,
trong công việc và học tập. Và trong đó, văn hóa ứng xử của sinh viên đã
đang là vấn đề còn nhiều bất cập. Văn hóa ứng xử của sinh viên ngày càng có
nhiều thay đổi và xuất hiện những yếu tố ứng xử mới.Xã hội ngày càng phát
triển thì các khuôn mẫu, chuẩn mực cũng dần mai một và biến đổi theo cơ chế
mới của thời kỳ đất nước hội nhập. Mỗi sinh viên có cách ứng xử riêng của
mình, sinh viên - độ tuổi đẹp nhất, tràn đầy nhựa sống với bao nhiêu hoài bão,
niềm đam mê muốn theo đuổi, suy nghĩ hành động nghiêng nhiều theo cái tôi cá
nhân thể hiện lối sống của chính bản thân. Nó thể hiện tầm nhìn, trình độ nhận
thức, trình độ hiểu biết, trình độ học vấn, đạo đức, nếp sống, suy nghĩ, hành vi
của mỗi sinh viên. Văn hóa ứng xử là một môi trường rất quan trọng để rèn

sẽ chẳng bao giờ được xã hội và mọi người đánh giá cao.
Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhở bé của mình trong sự
nghiệp phát triển của cộng đồng giới trẻ nhằm mang lại sự đóng góp tích cực
cho đất nước. Trong môn học này, nhóm chúng em chọn đề tài nghiên cứu:
“Văn hóa giao tiếp của sinh viên trường đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay”
với việc tìm hiểu thực trạng của vấn đề cùng với mong muốn làm rõ phần nào
vai trò của văn hóa giao tiếp trong đời sống của mọi thế hệ trẻ nói chung và sinh
3


viên trường đại học Văn hóa Hà Nội nói riêng. Đồng thời thông qua việc tìm
hiểu, đánh giá khách quan về thực trạng của văn hóa giao tiếp trong môi trường
đại học, chúng em muốn đưa ra một số giải pháp cải thiện, nhằm phát huy hơn
nữa yếu tố văn hóa giao tiếp trong sự phát triển của xã hội.
2.

Tính cấp thiết của đề tài
Thế hệ trẻ là lực lượng trụ cột, lực lượng kế thừa, xây dựng xã hội. Giao
tiếp có văn hóa trong giới trẻ thể hiện nhận thức và ý thức của các bạn về đạo
đức, văn hóa và truyền thống thể hiện đạo đức lối sống và văn hóa của những
thế hệ tiếp theo. Giao tiếp thể hiện thiếu văn hóa, thiếu đạo đức và ngược lại.
Những thế hệ làm chủ tương lai, vận mệnh đất nước có những khiếm khuyết về
văn hóa, đạo đức thì sẽ tác động thế nào đến các mục tiêu xây dựng, phát triển
khác, đó là điều không cần nói chắc ai cũng nhận biết được. Vì vậy, công tác
giáo dục, đạo đức lối sống, mà trước mắt là giáo dục cho sinh viên kiến thức và
sự nhận thức đúng đắn về văn hóa giao tiếp là dựa trên nền tảng văn hóa, đạo
đức truyền thống tốt đẹp là yêu cầu vô cùng cấp thiết hiện nay.
Đã có những sách và tài liệu tìm hiểu viết về văn hóa ứng xử như :
Nguyễn Thanh Tuấn (2008) – “Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay”, Lê Thị
Bừng (1997) – “Tâm lý học ứng xử”,…

các khái niệm về văn hóa ứng xử.
Phương pháp phân tích tổng hợp: áp dụng trong phân tích làm rõ
các biểu hiện văn hóa ứng xử của sinh viên Đại Học Văn Hóa Hà Nội hiện
nay.
Phương pháp thống kê so sánh, thu thập thông tin: đề tài sử dụng các số
liệu thống kê để hệ thống hóa, khái quát hóa để đưa ra được những biểu hiện
văn hóa ứng xử của sinh viên.
Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu: là phương pháp trên
cơ sở nghiên cứu thực tế phát bảng hỏi sinh viên Đại Học Văn Hóa Hà Nội
để nắm bắt được những biểu hiện văn hóa ứng xử của sinh viên, là cơ sở để xây
dựng và nghiên cứu đề tài.
Phương pháp phỏng vấn, quan sát

5.

Ý nghĩa nghiên cứu
Đề tài vừa mang tinh khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên
cứu các vấn đề liên quan đến văn hóa giao tiếp.Cụ thể là vấn đề văn hóa giao
tiếp của sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội, để mỗi bạn sinh viên nhận ra
bản thân đang mắc lỗi ở đâu trong văn hóa giao tiếp và ý nghĩa của văn hóa giao
tiếp trong học tậpcũng như trong cuộc sống nhằm mang lại những mối quan hệ
tốt đẹp, đạt hiệu qua cao.

5


CHƯƠNG 1
Tầm quan trọng của văn hóa giao tiếp với sinh viên trường Đại học Văn
hóa Hà Nội.
1.1.

Thái độ giao tiếp: vừa thích giao tiếp vừa rụt rè.
6


Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc vào nhau và rất coi trọng mối
quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng.Đó là nguyên nhân dẫn đến người
Việt trọng giao tiếp, đây cũng được xem là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá con
người. (Thích giao tiếp thăm viếng nhau không phải do nhu cầu công việc mà là
để thắt chặt thêm mối quan hệ, với khách thì rất tôn trọng, hiếu khách, luôn dành
những thứ tốt nhất).
Nhưng khi đến khu vực ngoài cộng đồng, khi tiếp xúc toàn người lạ, tính
ngự trị nổi lên thì người Việt lại trở nên rụt rè, nhút nhát, ngại giao tiếp.Hai tính
cách trái ngược nhau tồn tại trong một bản chất nhưng không hề mâu thuẫn
nhau, đó cũng là sự thể hiện tính linh hoạt trong giao tiếp của người Việt Nam.
Quan hệ giao tiếp: lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử.
Nguồn gốc văn hoá nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người việt
tới chỗ lấy tình cảm, lấy sự yêu ghét làm nguyên tắc ứng xử.Trong cuộc sống
người việt có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cần cân nhắc giữa cái
lý cái tình thì tình vẫn được đặt cao hơn lí.
Đối tượng giao tiếp:ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá.
Người Việt Nam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình độ
học vấn…của đối tượng giao tiếp.Đặc tính này cũng là một sản phẩm nữa của
tính cộng đồng làng xã sinh ra. Do tính cộng đồng người Việt thấy mình tự có
trách nhiệm quan tâm tới người khác, nhưng muốn quan tâm hay thể hiện sự
quan tâm đúng mực thì phải biết rõ hoàn cảnh. Ngoài ra do các mối quan hệ xã
hội, người ta cần tìm hiểu để có cách xưng hô cho thoả đáng. Biết tính cách, biết
người để lựa chọn đối tượng giao tiếp cho phù hợp.
Chủ thể giao tiếp:trọng danh dự
Danh dự được người Việt gắn với năng lực giao tiếp: lời nói ra để lại dấu
vết, tạo thành tiếng tăm, được lưu truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng.

hóa quá (cảm ơn khi có khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được
khen),...
1.1.3.

Biểu hiện của văn hóa giao tiếp

8


Trong ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp thể hiện trong lời ăn tiếng nói hàng ngày
của mỗi người. Khi gặp phải một tình huống hay một vẫn đề cần giải quyết ngôn
ngữ nói ra biểu hiện con người đó có văn hóa hay không
Cha ông ta thường nói: “ Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Chú ý ngôn ngữ nói trong khi giao tiếp, tránh nói tục, chửi thề hay những
lời nói thiếu văn hóa. Tùy từng trường hợp mà ngôn ngữ cũng khác nhau
Trong hành động, văn hóa giao tiếp được thể hiện trong cách ứng xử với
người khác, hành động của bản thân với đối phương – người được giao tiếp.
1.2.

Vai trò và ý nghĩa của văn hóa giao tiếp đối với sinh viên hện nay
Đối với sinh viên, văn hóa giao tiếp có một vai trò rất quan trọng.Nó thể
hiện đạo đức, văn hóa của một con người.Văn hóa giao tiếp là một chuẩn mức
đánh giá phẩm chất của một người đối với người khác. Một sinh viên có học lực
giỏi nhưng trong giao tiếp hay trong ứng xử hàng ngày với mọi người không có
văn hóa thì người đó có giởi đến mấy cũng không được công nhận.
Văn hóa giao tiếp có ý nghĩa xây dựng nên một nếp sống đạo đức, văn
minh cho sinh viên trong trường học cũng như ngoài xã hội.

1.3.

cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm người.Văn hóa giao tiếp mang trong mình những
giá trị văn hóa, đạo đức và thẩm mĩ phù hợp với bản sắc của một dân tộc, là sự
kết tinh giữa cái truyền thống và cái hiện đại.
Đối với sinh viên hiện nay, đặc biệt là các sinh viên ngành khoa học xã hội,
kỹ năng giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình học tập và làm
việc sau này. Tuy nhiên, thực tế hiện nay chỉ ra rằng, có một bộ phận không nhỏ
sinh viên còn e ngại trong giao tiếp, ngại thể hiện bản thân trước đám đông,
thậm chí ngại tham gia phát biết xây dựng bài và nêu quan điểm cá nhân trong
các giờ học. Điều này dần tạo ra một thói quen không tốt, làm hạn chế khả năng
giao tiếp của bản thân, và xa hơn, có thể làm giảm khả năng tiếp cận thông tin,
giảm hiệu quả công việc.
Nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta không ngần ngại nói rằng do nhận thức
vấn đề chưa đúng, do chưa được mọi người quan tâm đúng mức nên ý thức xây
dựng môi trường văn hóa giao tiếp, đạo đức học đường, văn hóa học đường
10


chưa cao. Sinh viên thiếu hàng loạt những phẩm chất làm người, thiếu cảm xúc,
thờ ơ lạnh nhạt trước nỗi bất hạnh của người khác, thiếu dũng khí đấu tranh
trước mọi bất công, nhìn đời bằng con mắt vụ lợi. Trong nhà trường tại sao lại
xảy ra nào là những chuyện bạo lực, chuyện gian dối trong thi cử, chuyện bằng
thật, học giả, và vô vàn những hành vi, ngôn ngữ của sinh viên ngày nay vô
cùng thiếu văn hóa… Vì đâu lại như vậy ?Có lẽ một bộ phận sinh viên hiện nay
coi đó là xu thế là phù hợp thời đại.Nếu không thì sẽ không bắt được nhịp điệu
với các bạn xung quanh.Các bạn sinh viên a dua nhau để cùng thực hiện những
hành động, lời nói đó. Sinh viên ngày nay dường như không thưc sự hiểu được
vai trò của văn hóa giao tiếp
Có thể nói: Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm
chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách
lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng người đối

thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thể hiện sự sa sút về nhân cách: Để ca
12


ngợi cái đẹp thì “đẹp dã man” hoặc “đẹp kinh khủng long”; đi ăn quà hoặc khen
một bạn gái thì bình luận “trông con đó hơi bị ngon”; để khen một người nhiều
tiền thì “bữa nay thầu giầu nhỉ, mới lĩnh lương có khác”; đi xe máy luồn lách
trên phố thì: “Mày thấy tao xà lách tởm không?”, có khi sử dụng Tây-ta lẫn lộn
“thanh kiu anh”, “so-ri anh, em pho-ghét mất” (xin lỗi anh, em quên mất), cho
die luôn (chết). Hoặc chát với bạn bè: Ví dụ: “Tôi đang đọc comment đây”; “anh
ơi cho em nàm queng”, “Teo mí đi lèm dzìa” (Tao mới đi làm về); “Pí po” là
“bye bye”;… và vô số những từ ngữ stin: iu (yêu), dìa (về), rùi (rồi), đâu gòi
(đâu rồi), chìu (chiều), dị (vậy), ù (ừ), mừ (mà), bít (biết), bùn (buồn), hic hic
(thể hiện trạng thái buồn), ha ha (thể hiện trạng thái vui)
Những câu nói cực ngắn, những câu nói mang đầy tính gợi hình cũng được
tận dụng mọi lúc mọi nơi. Sự cẩu thả trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, sự thiếu
tinh tế trong lựa chon ngôn từ, sự sáng tạo ra nhiều từ ngữ mới chẳng những
không làm phong phú thêm vốn từ của cá nhân mà đôi khi còn làm nghèo nàn
thêm vốn ngôn ngữ của chính người sử dụng và sự trong sáng của tiếng Việt
đồng thời cũng như tạo nên một không khí mang tính chất “chợ búa” ngay tại
môi trường giáo dục Đại học. )... Đó là một vài ví dụ trong vô vàn chuyện về sử
dụng ngôn ngữ hiện nay. Kiểu nói như thế đang phá hoại sự trong sáng của tiếng
Việt. Có thể nói chưa bao giờ, tiếng Việt bị suy thoái như ngày nay.
Thói quen được hình thành từ những hành động thường ngày mà ta không
chú ý đến.Thói quen tốt là cả một tài sản vô cùng quý giá. Thói quen xấu là một
trở lực trên con đường dẫn đến thành công. Hơn nữa, thói quen sử dụng ngôn
ngữ đó hoàn toàn không phù hợp với một môi trường giáo dục như trường Đại
học.
Trong giao tiếp giữa sinh viên với giáo viên ngày nay cũng có nhiều thay
đổi.Nếu như trước đây, giáo viên là nhân vật trung tâm trong các buổi học, từng

viên ở mọi cấp độ, mọi nơi, mọi lúc. Bước vào khu giảng đường, điều đầu tiên
đập vào mắt là những câu từ tục tĩu, khiếm nhã được ghi đầy trên vách tường
ngoài hành lang hay trong lớp, đặc biệt là chỗ các em ngồi học, trên những chiếc
bàn dày đặc câu chữ, tài liệu các môn học để khi kiểm tra dễ “quay cóp”, hay
những số điện thoại, rồi những câu nói khiếm nhã đối với bạn bè hay những câu
tán tỉnh nhau, chửi bới nhau… Đến căng tin, hàng quán hay các phòng ký túc
xá, đâu đâu cũng nghe thấy những câu nói tục của giới sinh viên.Một số học
sinh cũng nói năng vô lễ với thầy-cô giáo.Hiện tượng nói năng, phát ngôn bừa
bãi của một số sinh viên đã trở thành “bệnh” khó chữa.Có thể nói những cách
nói năng này đang làm tiếng Việt của chúng ta trở nên méo mó, “đáng thương”
hơn bao giờ hết.
Sẽ không có một quy tắc nào có thể áp dụng cho mọi người, mọi cơ quan
phát ngôn, cũng không có một người thầy nào có thể theo suốt cuộc đời học trò
để rèn dũa. Môi trường sống, sự giáo dục của cha mẹ, của quá trình nhận thức...
chính là yếu tố cốt lõi tạo nên một nền tảng ngôn ngữ vững chắc cho mỗi người.

Biểu đồ 2.3: “Bạn thấy sinh viên nói tục, chửi thề là chuyện?”
15


Thông qua biểu đồ cùng với số liệu đã cho chúng ta biết thực trạng văn hóa
giao tiếp của sinh viên, giới trẻ hiện nay,đó là về vấn đề nói tục,chửi thề.Dường
như giới trẻ hiện nay đã cảm thấy quá quen thuộc đối với chuyện đó nên đa số
mọi người lựa chọn đáp án thấy chuyện đó bình thường (28%) và rất phổ biến
(35%). Qua đó thể hiện những hạn chế trong ứng xử cũng như giao tiếp của giới
trẻ hiện nay,cũng là một trong những báo động đối với những bậc cha mẹ trong
việc giáo dục và nuôi dạy
2.2.2: Văn hóa giao tiếp thể hiện trong hành động
Đánh giá một cách khách quan, cho đến nay đa số sinh viên Việt Nam vẫn
giữ được nét đẹp truyền thống trong ứng xử với giảng viên, các giá trị, chuẩn

thậm chí, có sinh viên mắc lỗi còn cãi lại khi giảng viên phê bình; cách xưng hô
với giảng viên cộc lốc, thờ ơ, thiếu chủ ngữ diễn ra khá phổ biến. Nếu khả năng
quan sát của giảng viên không tốt thì sinh viên tranh thủ nói chuyện riêng, chơi
game, vào mạng xã hội, v.v.. Những việc tối thiểu như giặt rẻ lau, lau bàn ghế
cho giảng viên, lau bảng đã được học sinh phổ thông làm rất tốt thì khi học lên
đại học, nhiều sinh viên đã đánh mất “bản năng” vốn có này. Đặc biệt đối với
những lớp tín chỉ, do quy mô lớp lớn, lại được tập hợp từ nhiều lớp khác nhau
nên dẫn đến hiện tượng “cha chung không ai khóc”, các sinh viên cứ ngồi chờ
nhau, cá biệt, có những lớp, giảng viên phải chỉ định đích danh sinh viên mới
thực hiện những hoạt động tối thiểu đó.
Khi gặp giảng viên, một số sinh viên “quên” chào, họ triệt để phương châm
“học cô nào chào cô đấy”, đơn giản hơn “học giờ nào chào giờ đấy”, tệ hơn nữa,
khi đi cầu thang bộ, cầu thang máy, có sinh viên “quyết tâm” không nhường
đường cho giảng viên; khi lên xe bus, sinh viên ỷ vào sức mạnh để giành bằng
được ghế ngồi, khi phát hiện giảng viên không có ghế ngồi, không ít sinh viên
“tản lờ” một cách hồn nhiên.
Trong một khảo sát với sinh viên các khoa: Văn Hóa Học, Viết Văn – Báo
chí, Di sản, Quản lí văn hóa nghệ thuât, Nghệ thuật đại chúng,…:

17


Biểu đồ 2.4: “Bạn đang ngồi nói chuyện trên ghế đá, giảng viên đi ngang
qua chỗ bạn ngồi, bạn sẽ? ”
Thông qua bảng hỏi ta có thể thấy đa số sinh viên đều chọn cách đứng lên
và chào thầy cô (42%),qua đó thể hiện được sự kính trọng cũng như sự lễ phép
của sinh viên đối với giảng viên của mình. Đồng thời, việc đứng lên chào thầy
cô cũng để lại cho giảng viên những ấn tượng tốt về sinh viên của mình, giúp
cho mối quan hệ giữa sinh viên và giảng viên không còn đơn thuần là cô trò xa
cách mà trở nên thân thiết hơn.Bên cạnh đó, cũng có những sinh viên chọn cách

buổi họp, mít tinh người lên phát biểu ý kiến cứ phát biểu còn sinh viên cứ nói
chuyện rào rào, khi diễn giải phát biểu xong cũng không vỗ tay tán thưởng. Xem
biểu diễn văn nghệ khi kết thúc tiết mục cũng chỉ vỗ tay lẹt đẹt để cổ vũ. Trong
buổi lễ tổng kết, đến chương trình khen thưởng, nhìn lại chỉ còn một nửa sinh
viên trong hội trường.
Ứng xử của sinh viên trong các cuộc thi cũng còn tồn tại những hạn sạn
không đáng có.Trong các cuộc thi hoa khôi ở các trường đại học, nhiều sinh
viên trả lời rất ngây ngô, thiếu tinh tế.Điều đó bộc lộ sự thiếu hụt về tri thức văn
hóa nền tảng của sinh viên. Trong một cuộc thi về “Tài sắc nữ sinh báo chí”, khi
Ban giám khảo hỏi về lợi thế của sắc đẹp trong công việc của nữ phóng viên,
một sinh viên đã nói thẳng rằng “phóng viên báo phát thanh – truyền hình mới
cần phải đẹp, còn phóng viên báo viết không thể hiện cái đẹp của mình nên
không cần phải đẹp”.
19


Để trở thành người lao động có trình độ chuyên môn nhất định, có khả
năng ứng xử trong công việc nói riêng và trong cuộc sống nói chung, mỗi sinh
viên không chỉ bồi dưỡng cho mình về kiến thức chuyên môn mà cả về khả năng
giao tiếp, ứng xử. Có thể nói văn hóa ứng xử góp phần không nhỏ trong sự
thành đạt của mỗi người.
2.3 Đánh giá thực trạng giao tiếp của sinh viện Đại Học Văn Hóa Hà Nội
2.3.1 Nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của sinh viên Đại Học Văn Hóa Hà
Nội
Đánh giá một cách khách quan, cho đến nay đa số sinh viên Việt Nam vẫn
giữ được nét đẹp truyền thống trong ứng xử với giảng viên, các giá trị, chuẩn
mực như “tôn sư trọng đạo”, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” vẫn được lưu truyền và
phát huy. Cùng với đó, sinh viên Đại Học Văn Hóa Hà Nội hiện nay năng động
và sáng tạo hơn, họ chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức, tích cực trong
các hoạt động phong trào. Điều đó cho thấy, vị trí, vai trò của sinh viên hiện nay

sinh viên coi thường người truyền thụ tri thức khoa học, thiếu tôn trọng, lễ phép
trong giáo tiếp với giảng viên. Đầu giờ, khi giảng viên vào lớp có không ít sinh
viên miễn cưỡng đứng lên chào; khi trả lời câu hỏi của giảng viên có sinh viên
còn ngồi tại chỗ để trả lời; không ít sinh viên khi đi học muộn tự tiện vào lớp,
không xin phép giảng viên; thậm chí, có sinh viên mắc lỗi còn cãi lại khi giảng
viên phê bình; cách xưng hô với giảng viên cộc lốc, thờ ơ, thiếu chủ ngữ diễn ra
khá phổ biến. Nếu khả năng quan sát của giảng viên không tốt thì sinh viên
tranh thủ nói chuyện riêng, chơi game, vào mạng xã hội. Bên cạnh đó, một số
sinh viên còn sử dụng những từ ngữ thiếu tôn trọng để nói về các thầy cô như
“ông”, “bà”, thậm chí, dùng cả những lời lẽ xúc phạm đến nhân cách giảng viên.
Cùng với đó, sinh viên cũng sử dụng triệt để sức mạnh của khoa học và công
nghệ trên các trang mạng xã hội để lan truyền các thông tin về đề thi, phổ biến
các “kỹ thuật quay cóp”, nói xấu, chê bai thầy cô, bạn bè.
Vấn đề giao tiếp giữa các bạn với nhau cung còn nhiều mặt tiêu cực. Giữa
các bạn chung lớp khi giao tiếp với nhau vẫn sử dụng những từ ngữ thô tục để
gọi nhau, ns chuyện với nhau lớn tếng như chửi bới nhau như .v.v

21


2.4 Nguyên nhân
2.4.1. Nguyên nhân chủ quan
Ngày này, bên cạnh những yêu điểm của sinh viên như năng động, thích
ứng nhanh.. thì có vẻ một số bạn thiếu kĩ năng được xem là cực kì quan trọng,
đó là văn hóa giao tiếp và ướng sủ có văn hóa. Sinh viện thiếu bản lĩnh thiếu kĩ
năng sống thiếu ý thức trong lời nói, cử chỉ hành động, chưa nhận thức được tầm
quan trọng của văn hóa giao tiếp chuẩn mực. Ngoài ra , khi là sinh viên các bạn
chủ yếu sống xa gia đình thiếu sự kèm cặp, định hướng của bố mẹ. Cuộc sống
xa nhà giúp các bạn sớm tự lập, những điều này ảnh hưởng không nhỏ đến văn
hóa giao tiếp của các bạn. Cuộc sống tự do là cơ hội để các bạn thể hiện mình,


23


CHƯƠNG 3:
Một số giải pháp cải thiện trong văn hóa giao tiếp cho sinh viên trường Đại
học Văn Hóa Hà Nội
3.1 Về phía nhà trường
Nhà trường nên có nhiều các buổi giao lưu giữa các khoa, các lớp với nhau,
tổ chức các hoạt động để học hỏi kinh nghiệm, tạo điều kiện cho sinh viên bày
tỏ ý kiến của bản thân trước mọi người, tổ chức nhiều chương trình tư vấn, liên
kết các trường để tổ chức các buổi giao lưu. Đồng thời mở ra các lớp về kỹ năng
giao tiếp đồng thời nâng cao hiệu quả của các câu lạc bộ để khuyến khích sinh
viên tham gia
Không chỉ nhà trưưòng mà lớp cũng phải có những hoạt động giúp đỡ các
thành viên trong lớp có khả năng giao tiếp như: Tổ chức giao lưu với khóa trên,
tổ chức đi cắm trại, picnic để nâng cao tinh thần đoàn kết giữa các thành viên
với nhau từ đó tang cao khả năng giao tiếp của mỗi sinh viên
3.2. Về phía gia đình
Tạo điều kiện, khích lệ cho thành viên trong gia đình gắn kết hơn qua các
hoạt động cùng nhau như dã ngoại, cắm trại, du lịch cùng nhau,… Như vậy làm
tang thêm tình cảm gắn kết trong gia đình đồng thời nâng cao khả năng giao tiếp
của mỗi thành viên trong gia đình.
3.3. Về phía cá nhân
Để hạn chế những khó khăn trong giao tiếp cũng như nâng cao khả năng
giao tiếp của bản thân sinh viên cần có những thay đổi như: tự tin hơn trong giao
tiếp với mọi người, tập thói quen nói chuyện và giao tiếp trước đám đông, chủ
động hơn trong việc phát biểu ý kiến và tạo lập mối quan hệ với mọi người, lắng
nghe và nói chuyện với người khác để tăng thêm kỹ năng giao tiếp.
Đồng thời, bản thân sinh viên nên tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status