Trường : ĐH SÀI GÒN
Khoa: SPKHTN
Lớp: DSI 1081
Tổ: 3
Bài thuyết trình
GIẢI PHẪU HỌC
Phần trình bày
HỆ CƠ
I. ĐẠI CƯƠNG
Hệ thống cơ được cấu tạo chủ yếu bởi mô cơ, có đặc tính đặc trưng là co rút. Các tế
bào mô cơ (sợi cơ) co rút được là nhờ các vi sợi cơ (gồm 2 thành phần là actin và myosin)
trượt lên nhau.
Có 3 loại cơ chính là cơ vân, cơ trơn và cơ tim. Cơ vân hoạt động theo ý muốn do
thần kinh động vật chi phối, thường là các cơ bám xương và bám da, chiếm tới 2/5 trọng
lượng cơ thể. Cơ trơn hoạt động không theo ý muốn do thần kinh tự chủ chi phối, là cơ của
các tạng, tuyến và mạch máu. Cơ tim là cơ hoạt động theo chu kỳ và tạo thành tim.
II. SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CƠ
1. Các cơ ở thân:
Các cơ ở thân phát triển từ các hoàn tiết tức là các đoạn ở lưng của trung bì phôi nằm
hai bên dây nguyên sống ( chorda) và ống thần kinh. Các nguyên cơ ( phần bên sau của các
hoàn tiết) sẽ phát triển thành các cơ vân. Khi phát triển, các cơ sẽ chia ra phần lưng và
phần bụng.
• Phần lưng gồm các cơ cạnh sống do các ngành sau của thần kinh gai sống chi phối.
• Phần bụng gồm các cơ ở trước bên của thân và do các ngành trước thần kinh gai
sống vận động.
Các nguyên cơ lúc đầu được ngăn cách với nhau bởi các vách tổ chức liên kết, về sau
mất dần đi, chỉ còn lại một vài di tích như các cơ gian sườn, các trẽ gân trung gian của cơ
thẳng bụng. Sự phân đốt này còn rõ ở các động vật bậc thấp.
- 1 -
2. Các cơ ở tứ chi :
Các cơ ở tứ chi phát triển từ các cơ ở phía trước của thân do đó cũng được vận động
- 2 -
+ Có dạng hình thoi dài, có thể có phân nhánh ở hai đầu.
+ Các tế bào cơ trơn liên kết với nhau bằng các liên kết khe.
+ Nhân tế bào cơ trơn nằm giữa tế bào và chỉ có một nhân duy nhất.
+ Trong bào tương các bào quan thường tập trung ở hai đầu của nhân.
So với cơ xương, sợi cơ trơn có kích thước nhỏ hơn nhiều. Chúng có đường kính
khoảng 2 đến 5 micromet và chiều dài từ 20 đến 50 micromet. Tuy nhiên nhiều nguyên lý
trong cơ trơn cũng giống như ở cơ vân, trong đó quan trọng nhất là lực hấp dẫn giữa sợi
actin và sợi myosin để gây co cơ là như nhau ở cả hai loại cơ. Cơ trơn không có vân như
cơ vân và cơ tim. Các tế bào cơ trơn hợp lại thành bó, các bó hợp lại thành lớp. Giữa các
bó và lớp, có khi giữa các sợi cơ có chứa mô liên kết, mạch máu và thần kinh. Cơ trơn
giống cơ tim do hoạt động co duỗi không theo ý muốn. Cấu trúc phân tử: tế bào cơ trơn
cũng có nhiều sợi actin và myosin nhưng không tạo thành sarcomer. Cơ trơn được điều
khiển bởi hệ thần kinh thực vật thuộc hệ giao cảm và phó giao cảm.
Quá trình co giãn của các cơ trơn bao quanh các cơ quan rỗng có thể điều chỉnh các
luồng chảy bên trong các cơ quan rỗng bằng cách thay đổi đường kính của các cơ quan
rỗng đó. Quá trình co giãn của các cơ trơn được điều khiển bằng hệ thống thần kinh tự trị
(autonomic nervous system), các hócmôn (hormone), các paracrine và các tín hiệu hóa học
lân cận khác. Tuy nhiên, một vài cơ trơn co giãn ngay cả khi vẫn không có một tín hiêu nào
xuất hiện tại những vùng lân cận xung quanh nó.
Cơ trơn của các cơ quan khác nhau thường rất khác nhau. Nhưng để đơn giản hóa
có thể chia cơ trơn làm 2 loại chính:
• Cơ trơn nhiều đơn vị: gồm nhiều sợi cơ trơn riêng rẽ, mỗi sợi hoạt động hoàn toàn
độc lập, được điều khiển bởi một kết cuối của thần kinh đơn độc. Mặt ngoài của
sợi cơ được bao phủ bởi một lớp mỏng giống màng đáy, là hỗn hợp của sợi
collagen và glycoprotein, có tác dụng tách rời các sợi cơ. Hoạt động của cơ trơn
nhiều đơn vị được kiểm soát bởi những tín hiệu thần kinh. Những cơ trơn nhiều
đơn vị của cơ thể như: sợi cơ trơn của cơ mi, của giống mắt, các cơ dựng lông…
• Cơ trơn một đơn vị: có nghĩa là toàn bộ khối lượng hàng trăm đến hàng triệu sợi cơ
cùng co đồng thời như một đơn vị duy nhất. Các sợi cơ thường tập trung lại thành
• Gọi tên cơ dựa vào vị trí cơ : cơ ngực, cơ mông…
• Gọi tên cơ theo điểm bám : cơ ức giáp…
• Gọi tên cơ theo chức năng của cơ : cơ dạng, cơ khép…
- 4 -
• Gọi tên cơ theo hướng đi của thớ cơ : cơ thẳng, cơ chéo…
• Gọi tên cơ theo cấu tạo : cơ bán gân…
Ngoài ra có thể gọi tên cơ theo hình thể và chức năng, chức năng và kích thước…
IV. CẤU TẠO VÀ HÌNH DẠNG CỦA CƠ
- 5 -
Cơ vân, còn gọi là cơ bám xương, vận động và co duỗi theo sự điều khiển của ý
muốn.
Dưới kính hiển vi quang học cơ vân được cấu tạo từ những tế bào cơ hay sợi cơ có
chứa những vân màu sáng và tối xen kẽ nhau rất đều đặn .
Cơ vân thường bám vào xương, một số ít bám vào da như da đầu, da mặt, phần trên
của thực quản.
Rải rác một số nơi chỉ có vài sợi cơ vân riêng rẽ còn phần lớn các sợi cơ vân họp
lại với nhau thành bó liên kết với nhau bởi mô liên kết chính thức tạo thành bắp cơ .
Có thể xem cơ vân được cấu tạo từ lớn đến nhỏ theo trình tự như sau : bắp cơ, bó
cơ, sợi cơ và siêu sợi cơ .
1. Bắp cơ :
Mỗi bắp cơ được bọc bởi một màng được cấu tạo từ mô liên kết đặc gọi là màng
ngoài bắp cơ hay bao ngoài bắp cơ.
Mỗi bắp cơ có chứa nhiều bó cơ.
2. Bó cơ :
Mỗi bó cơ được bao bọc bởi một màng liên kết được gọi là màng quanh bó cơ hay
bao bó cơ.
Mỗi bó cơ được cấu tạo từ nhiều sợi cơ, còn gọi là tế bào cơ.
3. Sợi cơ (tế bào cơ vân) :
- 6 -
cơ có thể được cấp huyết bởi một đến nhiều nhánh từ nhiều nguốn khác nhau. Sự nối tiếp
giữa các nhánh trong cơ cũng thay đổi tùy loại cơ (nhiều ở cơ ngực to, cơ delta, trung bình
ở cơ may, cơ thẳng đùi và rất ít ở cơ thon, cơ tam đầu cẳng chân,…). Nói chung cũng
giống như đối với thần kinh, các mạch cấp huyết cho cơ và nối nhau trong cơ nhiều hay ít
phụ thuộc vào hoạt động của cơ phức tạp hay không.
Cơ chế sự co giãn cơ :
• Khi có hiện tượng co cơ các siêu sợi actin sẽ trượt vào các siêu sợi myosin, kéo
theo sự dịch chuyển của hai vạch Z vào nhau, do đó băng I và vạch H sẽ bị
ngắn lại trong khi băng A vẫn giữ nguyên kích thước. Sarcomer vì vậy sẽ ngắn
lại.
• Ngược lại, khi có hiện tượng duỗi cơ, các siêu sợi actin trượt ra ngoài sợi
myosin, do đó hai vạch Z sẽ dịch chuyển ra xa nhau làm cho băng I và vạch H
được kéo dài ra, sarcomer cũng được kéo dài ra trong khi băng A vẫn không
thay đổi kích thước.
• Khi có tín hiệu từ luồng xung động thần kinh truyền đến tế bào cơ sẽ gây ra
hiện tượng khử cực ở màng bào tương và hiện tượng kích thích điện học này sẽ
lan đi nhanh chóng đến tất cả các nếp của màng bào tương tại đĩa Z nhờ vào hệ
thống ống T và lưới nội bào trơn bao bọc xung quanh các siêu sợi cơ.
• Tại màng lưới nội cơ tương, hiện tượng khử cực làm thay đổi điện thế màng,
do đó khởi động các kênh phóng thích Ca
++
nhằm mở kênh này ra, do đó sẽ
gây ra sự vận chuyển một lượng lớn Ca
++
từ lòng lưới nội cơ tương ra dịch cơ
tương theo gradient nồng độ. Do xung động thần kinh truyền đi rất nhanh qua
hệ thống ống T và lưới nội cơ tương để đến từng sarcomer nên hầu hết các siêu
sợi cơ trong tế bào cơ đều co thắt cùng một lúc. Tuy nhiên sự gia tăng nồng độ
Ca trong dịch bào tương chỉ thoáng qua để rồi sau đó các ion này được bơm
một cách chủ động và nhanh chóng vào trong lưới nội cơ tương nhờ bơm Ca
và xương ở gần chỗ cơ bám vào xương . Một số túi ở gần bao khớp có thể thông với bao
hoạt dich của khớp.
VI. CÁC QUY LUẬT PHÂN BỐ CỦA CƠ
Sự sắp xếp cũng như cấu trúc của các cơ tuân theo một số quy luật sau đây:
1. Cơ sắp xếp từng cặp đối xứng qua trục giữa cơ thể.
2. Cơ giữ dấu vết của sự phân đốt như: cơ gian sườn, cơ thẳng bụng.
3. Cơ bám bằng hai đầu ở hai xương khác nhau theo con đường ngắn nhất và
thường được gọi là nguyên ủy và bám tận. Khi tì vào điểm nọ thì kéo ở điểm kia. Biết
được hai điểm bám đó, ta sẽ biết được động tác của cơ.
4. Các thớ cơ được sắp xếp thẳng góc với trục quay của khớp. Nếu trục quay của
khớp là trục ngang thì các thớ cơ sẽ nằm dọc sinh ra động tác gấp và duỗi. Nếu trục quay
của khớp là trước-sau thì cơ sẽ nằm thẳng góc hoặc chéo ở hai bên trục đó để thực hiện
động tác dạng và khép. Nếu trục quay của khớp là thẳng đứng thì cơ nằm ngang thẳng góc
với trục đó để thực hiện động tác xoay trong hay sấp và xoay ngoài hay ngửa. Do đó biết
được trục quay của khớp sẽ biết được cách sắp xếp các cơ ở quanh khớp đó và người thầy
thuốc có thể biết cách chỉnh hình một động tác cho khớp nhờ sắp xếp lại cơ khi có cơ khác
bị liệt.
VII. CHỨC NĂNG CỦA CƠ
Hệ cơ có một số chức năng chính sau đây :
• Một đặc tính cơ bản của hệ cơ là co rút. Khi co rút, cơ tạo nên mọi sự hoạt động
cho cơ như di chuyển.
• Hệ cơ giúp cho các cơ quan trong cơ thể hoạt động, như đối với hệ tiêu hóa hệ cơ
giúp cho sự nghiền nát thức ăn…
• Hệ cơ quyết định tới hình dáng bên ngoài của cơ thể con người và làm co các cơ
quan phát âm để phát ra tiếng nói.
Như vây hệ cơ có vai trò quan trọng đối với cơ thể. Vì vậy nghiên cứu hệ cơ là điều rất cần
thiết đối với các nhà TDTT.
- 10 -
VIII. CÁC VÙNG CƠ RIÊNG BIỆT
1. CÁC CƠ VÙNG ĐẦU – CỔ:
• Cơ ức – đòn – chũm: chức năng xoay và ngửa đầu.
- Nhóm dưới móng:
• Cơ ức – móng: chức năng hạ thấp xương móng.
• Cơ vai – móng: chạy từ bờ trên bả vai tới than xương móng ,chức năng hạ thấp
xương móng.
• Cơ ức – giáp: chức năng hạ thấp sụn giáp và thanh quản.
• Cơ giáp – móng: nối sụn giáp với xương móng ,chức năng kéo sụn giáp đến gần
xương móng.
- Nhóm trên móng:
• Cơ hai thân: có hai bụng , giữa hai bụng là gân trung gian. Chức năng hạ và kéo
hàm dưới ra sau, nâng cao xương móng.
• Cơ hàm – móng : ở giữa hàm dưới và xương móng, chạy từ đường hàm móng tới
bờ trước than xương móng. Chức năng khi co nâng xương móng, hạ thấp hàm
dưới.
• Cơ cằm – móng : ở dưới lưỡi, trên cơ hàm – móng, đi từ gai cằm tới mặt trước thân
xương móng. Chức năng vận động xương móng , hạ hàm dưới.
• Cơ trâm – móng : chạy từ mỏm trâm đến bên thân xương móng. Chức năng kéo
xương móng lên và ra sau.
1.2.2. Nhóm cơ sâu: Nhóm này chia thành 2 nhóm nhỏ: nhóm bên và nhóm giữa.
- Nhóm bên: gồm các cơ bậc thang trước, giữa và sau nằm ở hai phía bên cột sống. Chức
năng nâng các giẻ sườn I, II. Nếu co một phía và cố định giẻ sườn thì gập và xoay đoạn
sống cồ sang bên , co cả hai phía thì gập đấu về phía trước.
- Nhóm cơ giữa:
• Cơ cổ dài: nằm ở trước thân các đốt sống cổ và kéo dài đến ba đốt sống ngực trên.
• Cơ đầu dài: phủ phần trên cơ cổ dài.
• Các cơ thẳng đầu : là những cơ ngắn.
Chức năng : các cơ trên khi co làm đầu cúi về phía trước hoặc nghiêng.
- 13 -