Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện tân phú, tỉnh đồng nai - Pdf 41

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn với hơn 70% dân số sống
bằng nghề nông. Mặc dù nền nông nghiệp Việt Nam có vai trò vị trí chiến lược
trong việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân
và là một ngành sản xuất chính nhưng thu nhập của người nông dân từ lĩnh vực này
lại không đáng kể.
Việt Nam vẫn chưa có một nền nông nghiệp sản xuất lớn theo đúng nghĩa, vẫn
duy trì nền sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, chủ yếu dựa vào sức lao động,
không sản xuất theo kế hoạch mà chủ yếu lại theo tập quán, do đó, sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào vấn đề thời tiết, vị trí địa lý, đặc điểm về
địa hình... mà Việt Nam lại là một trong những nước chịu nhiều ảnh hưởng và hậu
quả do thiên tai gây ra, là một trong năm tâm bão của khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương. Vì vậy, tất yếu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam phải chịu những rủi ro
không chỉ về thiên tai, dịch bệnh mà bên cạnh đó là những rủi ro từ nền kinh tế vĩ
mô, về chính trị... Đây cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến nông nghiệp Việt
Nam là một thị trường tiềm năng cho Bảo hiểm nông nghiệp.
Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm nông nghiệp nói riêng đều là những lá chắn
cho nền kinh tế, làm giảm thiểu rủi ro có thể sẽ xảy ra đối với những người mua bảo
hiểm. Và bảo hiểm nông nghiệp ra đời là một nhu cầu cấp thiết đối với nền nông
nghiệp Việt Nam nói chung và người nông dân nói riêng, là cứu cánh làm giảm bớt
những rủi ro do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Tuy nhiên trên thực tế vấn đề Bảo hiểm
Nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa thực sự được triển khai có hiệu quả, thị trường
bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa phát triển và còn gặp rất nhiều khó khăn.
Huyện Tân Phú nằm ở phía Bắc của tỉnh Đồng Nai, có truyền thống chăn nuôi
gia súc, đặc biệt là chăn nuôi heo trong nhiều năm nay. Tuy nhiên trên thực tế,chăn
nuôi heo của huyện gặp rất nhiều rủi ro, ngoài những yếu tố bên trong thì chăn nuôi
heo còn chịu nhiều tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác như thiên tai, dịch
bệnh, thị trường. Hạn chế được những rủi ro trong chăn nuôi sẽ giúp các hộ tăng kết


3

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị
trường BHNN trong chăn nuôi heo trên địa bàn nghiên cứu, Luận văn đề xuất các giải
pháp phát triển thị trường này tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp và
thị trường bảo hiểm nông nghiệp;
- Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo
trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
- Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong
chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp
trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Do thị trường BHNN là loại thị trường đặc biệt, thông tin không đối xứng,
người sản xuất (bên cầu) biết nhiều thông tin hơn doanh nghiệp bảo hiểm (bên cung)
về: Rủi ro, phương pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro, mức độ thiệt hại do rủi ro. Hiện
nay, cầu đang là nút thắt lớn trong thị trường BHNN. Do vậy, đối tượng tập trung
nghiên cứu của đề tài là cầu về thị trường BHNN trong chăn nuôi heo của các hộ chăn
nuôi trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Các đối tượng khảo sát: Các cán bộ quản lý cấp huyện, cấp xã ở địa bàn
chọn điểm khảo sát; Các hộ chăn nuôi heo ở địa bàn chọn điểm khảo sát; Các doanh
nghiệp trong hệ thống cung ứng dịch vụ BHNN trên địa bàn khảo sát.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian:



5

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NÔNG NGHỆP
1.1. Cơ sở lý luận về BHNN và thị trường BHNN
1.1.1. Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm
Cho đến nay thì vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường
phái khác nhau, những tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi
ro. Những định nghĩa này đưa ra rất đa dạng, phong phú nhưng có thể tóm lại làm
hai trường phái lớn đó là phái truyền thống và phái hiện đại.
Theo trường phái truyền thống: Rủi ro là điều không may mắn, không lường
trước được về khả năng xảy ra, về thời gian và không gian xảy ra, cũng như mức độ
nghiêm trọng và hậu quả của nó [19]. Như vậy theo trường phái này “rủi ro là
những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó
khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”.
Theo trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa
mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro co thể mang đến những tổn thất
mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội.
Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa,
hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho
tương lai [19].
1.1.1.2. Các loại hình rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Trong SXNN, các hộ nông dân thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
khác nhau. Rủi ro trong SXNN ở nước ta có thể chia thành 4 nhóm lớn: (1) Rủi ro
thiên tai, (2) rủi ro dịch bệnh, (3) rủi ro thị trường và (4) rủi ro khác. Cụ thể:
a. Rủi ro thiên tai

ngành chăn nuôi có các loại dịch bệnh lan truyền rất nhanh như bệnh dịch cúm gia
cầm H5N1, dịch lở mồm long móng ở trâu, bò, heo, dịch heo tai xanh...thiệt hại rất
lớn.
Dịch bệnh là yếu tố rủi ro thường trực trong SXNN. Có những loại bệnh
thông thường nhưng có những bệnh nguy hiểm, lan truyềnrất nhanh và rất khó kiểm


7

soát. Cũng như thiên tai, không năm nào ở nước ta không xảy ra các đợt dịch bệnh
đối với cây trồng, vật nuôi. Khi dịch bệnh xảyra, mặc dù Nhà nước đã có nhiều biện
pháp hỗ trợ người dân khắc phục rủi ro nhưng những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước
cũng mới giúp người dân khắc phục được một phần thiệt hại [17].
c. Rủi ro thị trường
* Rủi ro giá cả: Thị trường nông sản là thị trường cạnh tranh hoàn hảo,
người sản xuất là người chấp nhận giá. Rủi ro về giá cả đối với SXNN rất khó kiểm
soát như rủi ro giá cả nguyên liệu đầu vào, rủi ro giá cả đầu ra. Các nguyên nhân
dẫn tới rủi ro giá cả là: Cung vượt cầu trên thị trường, biến động của tỷ giá hối đoái,
chất lượng sản phẩm, các rào cản thương mại và sự yếu kém về quản lý thị trường
vật tư, thị trường nông sản, hạn chế về cơ chế quản lý chính sách Nhà nước (yếu
kém trong việc quản lý hàng giả, hàng nhái, hàng chất lượng thấp, hàng nhập lậu).
Một thực tế ở Việt Nam đó là chất lượng nông sản không cao nên thường
không có nhiều lợi thế cạnh tranh giá trên thị trường quốc tế. Cùng với nó là việc
chi phí sản xuất hàng nông sản của Việt Nam thường cao, chu kỳ sản xuất kéo dài,
làm cho người nông dân lâm vào khó khăn. Trong thị trường nội địa thì người dân
SXNN hầu hết không định giá bán được mà lại do trung gian, thương lái ép giá. Vì
vậy, lợi nhuận SXNN của người nông dân rất thấp, bị rơi nhiều vào tay các trung
gian, thương lái [20].
* Rủi ro do lạm phát: Rủi ro do lạm phát là rủi ro rất khó dự báo và rất khó
kiểm soát bởi lạm phát do nhiều nguyên nhân gây ra như giá cả đầu vào trên thị

Không những vậy, do sự yếu kém của các cơ quan chức năng về quản lý thị
trường nên các loại vật tư sản xuất kém chất lượng hoặc hàng giả vẫn được bày
bántại các đại lý, các cửa hàng bán lẻ.
* Rủi ro do hạn mức tín dụng và trì hoãn thanh toán:Phần lớn nông dân
hiện nay đều thiếu vốn để đầu tư thâm canh hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Tuy
nhiên, họ không vay được đủ vốn do hạn mức tín dụng đối với từngloại hộ và thế là
họ không đủ điều kiện về vốn để đầu tư theo đúng quy trình. Bên cạnh đó, sự trì
hoãn thanh toán của các doanh nghiệp thu mua sản phẩm của nông dân, làm cho
người nông dân bị động trong việc đầu tưtái sản xuất. Điển hình ở Đồng bằng sông
Cửu Long, trong hợp đồng bán cáTra nguyên liệu giữa nông dân với doanh nghiệp
chế biến ghi rất rõ doanh nghiệp sẽ thanh toán cho người nuôi cá trong vòng 10-


9

15 ngày kể từ khi bàn giao sản phẩm nhưng thực tế phải vài tháng sau mới thanh
toán làm cho gánh nặng lãi suất ngân hàng của người nuôi cá nặng thêm [19].
1.1.2. Sự cần thiết của BHNN và phát triển thị trường bảo BHNN
Hàng năm SXNN ở nước ta phải hứng chịu hàng loạt các loại rủi ro, đặc biệt là
thiên tai, dịch bệnh tác động nhiều mặt đến đời sống và kế hoạch sản xuất của người
dân, nhanh chóng hủy hoại nguồn thu nhập hiện tại và phá hủy tài sản của các hộ
gia đình. Trước tình cảnh như vậy, nhiều hộ gia đình bị đẩy vào vòng xoáy của
nghèo đói. Những hộ trước đây sống trên mức nghèo đói thì chỉ sau một thiên tai,
dịch bệnh lớn có thể bị dìm xuống dưới mức nghèo đói.
Rủi ro

Hình 1.1: Tài sản của hộ nông dân sau rủi ro
(Nguồn: Global AgsRick,2009)
Ngân sách Nhà nước và các nguồn tài chính khác đã phải chi hàng nghìn tỷ
đồng để hỗ trợ. Tuy nhiên đây mới chỉ mang tính chất khôi phục cuộc sống tối thiểu

nhiệm với xã hội.
1.1.3. Lý luận chung về bảo hiểm và bảo hiểm nông nghiệp
1.1.3.1. Bảo hiểm
a. Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người
hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng
loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ


11

chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không
may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra [23].
* Khái niệm kinh doanh bảo hiểm: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được BH,
trên cơ sở bên mua BH đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền BH cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện BH [23].
* Kinh doanh tái bảo hiểm: Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của DNBH
nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH nhận một khoản phí BH của DNBH khác để
cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm [23].
b. Các hình thức bảo hiểm
- Bảo hiểm tương hỗ: Là biện pháp chia sẻ rủi ro bằng việc liên kết
giữa các thành viên trong cộng đồng đóng góp một khoản tài chính nhất định để xây
dựng quỹ khắc phục rủi ro và chi trả cho các thành viên khi xảy ra rủi ro theo một tỷ
lệ đã được ước định giữa các thành viên trong nhóm.
- Bảo hiểm thương mại: Là hoạt động mà ở đó các DNBH chấp nhận rủi ro
trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để DNBH
bồi thường khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên của số ít trên cơ sở quy
tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài
chính của những vụ tổn thất [23].

số chuẩn mà không phụ thuộc vào thiệt hại thực tế.
Ưu điểm của BH chỉ số là dễ dàng tính phí và bồi thường thiệt hại, giảm
thiểu rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch, giảm chi phí đánh giá thiệt hại. Tuy
nhiên BH chỉ số cũng có một số hạn chế: (1) Phạm vi BH bị hạn chế (2) Có những
đối tượng không bị thiệt hại vẫn được nhận đền bù; (3) Khó khăn trong việc xây
dựng cơ sở dữ liệu về các yếu tố gây rủi ro; (4); Khó khăn về cơ sở dữ liệu để xây
dựng phí BH và mức phí bồi thường [17,19].
c. Đối tượng và nội dung bảo hiểm nông nghiệp
BHNN là loại hình BH thương mại nhằm bù đắp những thiệt hại xảy ra với đối
tượng BH là những vật nuôi, cây trồng và sản phẩm nông nghiệp do rủi ro được BH
gây ra.Căn cứ vào đối tượng BH, BHNN được chia thành:
* BHNN trong trồng trọt (bao gồm cây trồng hoặc sản phẩm thu hoạch từ
trồng trọt):Đối tượng BH có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh


13

trưởng và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại
tùy theo mục đích trồng trọt. Vì thế có thể chia ra:Đối với cây hàng năm, đối tượng
BH là sản lượng thu hoạch.Đối với cây lâu năm, đối tượng BH là giá trị của các loại
cây trồng đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây.Đối với vườn ươm, đối
tượng BH là giá trị cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng
nơi khác [19].
* BHNN trong chăn nuôi (bao gồm vật nuôi hoặc sản phẩm thu hoạch từ
chăn nuôi): Đối tượng các sản phẩm chăn nuôi là các loại vật nuôi. Đối với vật nuôi
là tài sản cố định thường được BH đến từng con, còn đối với vật nuôi là tài sản lưu
động có thể BH cả đàn. Vật nuôi là tài sản lưu động là những vật nuôi được nuôi
dưỡng trong thời gian ngắn, quá trình thu sản phẩm gắn liền với quá trình giết mổ
hoặc chuyển chúng sang làm chức năng tài sản cố định. Thời hạn BH của loại này là
từ khi con giống tách mẹ nuôi độc lập đến khi vật nuôi xuất chuồng.Vật nuôi là tài

BHNN cũng tuân theo các quy luật chung của thị trường như quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh. Song, thị trường BHNN có những đặc điểm rất khác biệt với
các thị trường BH phi nhân thọ khác:
- Đối tượng của BHNN là vật nuôi và cây trồng, là những cơ thể sống được bố
trí trên địa bàn rộng lớn. Nó không chỉ chịu tác động của điều kiện tự nhiên mà còn
chịu tác động của các quy luật sinh học trong quá trình sinh trưởng và phát triển nên
rất khó quản lý rủi ro. Để tham gia thị trường BHNN, DNBH phải có đội ngũ nhân
lực đông đảo và am hiểu nhiều loại rủi ro trong nông nghiệp.
- SXNN là ngành đa rủi ro, đôi khi có những rủi ro thảm họa như thiên tai
nghiêm trọng, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng và có khả năng lan truyền. Khi đó,
thiệt hại đối với SXNN là rất lớn. Chính vì vậy, các doanh nghiệp không thiết tha
tham gia thị trường BHNN.
- Chủ thể SXNN tuy khá đa dạng nhưng phổ biến vẫn là các hộ nông dân với
qui mô sản xuất nhỏ, sản xuất đa canh, tiềm lực đầu tư có hạn nên khó có thể tham
gia vào thị trường đối với tất cả các loại sản phẩm.
- Việc xác định thiệt hại trong BHNN là phức tạp do sự hao phí lao động
sống và lao động quá khứ cho vật nuôi, cây trồng không đồng nhất với thời gian và
kế quả thu được.


15

- Khó kiểm soát được tình trạng rủi ro đạo đức (trục lợi BH) do SXNN được
bố trí trên địa bàn rộng lớn. Việc kiểm soát, giám định thiệt hại khi xảy ra rủi ro
gặp rất nhiều khó khăn [18,19].
1.1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm nông nghiệp
a. Các nhân tố bên ngoài
* Khung pháp lý và chính sách của Nhà nước đối với BHNN và thị trường
BHNN:
Đây là nhân tố thể hiện sự điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước đối với BHNN.

b. Các nhân tố thuộc về nội tại doanh nghiệp bảo hiểm (bên cung)
DNBH có quyết định tham gia thị trường BHNN hay không phụ thuộc vào
nhiều nhân tố. Trong đó, các nhân tố chính cụ thể sau:
* Tiềm lực tài chính và chiến lược kinh doanh, quản lý rủi ro của DNBH:
Do rủi ro trong SXNN lớn và bất thường, vì là người cung cấp hàng hóa cho
thị trường BHNN, DNBH khó có thể tồn tại được nếu không đủ năng lực kể cả về
mặt tài chính, nhân lực hay kỹ thuật nghiệp vụ. Một chiến lược quản lý rủi ro phù
hợp sẽ giúp cho các DNBH giảm thiểu được chi phí bồi thường khi xảy ra sự kiện
rủi ro, đảm bảo được lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó,các doanh nghiệp
sẽ tự tin hơn khi tham gia cung ứng dịch vụ BH cho các sản phẩm nông nghiệp
[19].
* Lợi nhuận kỳ vọng:
Cũng như các doanh nghiệp khác, mục tiêu của DNBH là tìm kiếm lợi nhuận.
Lợi nhuận kỳ vọng từ nghiệp vụ BH này không cao nên khó thu hút họ tham gia thị
trường, trừ khi Nhà nước có những chính sách ưu tiên hoặc chiến lược của họ là tham
gia thị trường BHNN để tạo thương hiệu [19].
c. Các yếu tố thuộc về người sản xuất (bên cầu)
Cầu là lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng
mua ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận) trong một phạm vi không gian
và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi.
Cũng giống như các loại hàng hóa khác, cầu về BHNN của người SXNN cũng
tuân thủ theo quy luật cầu. Cầu thị trường BHNN phụ thuộc rất nhiều yếu tố, cho nên
sự thay đổi của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cầu BHNN. Để nghiên


17

cứu mối quan hệ giữa cầu BHNN và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, người ta sử dụng
hàm cầu, có dạng tổng quát:
AD(x,t) =f(Px; I, Py; T, N, E…).

mức độ thiệt hại không ảnh hưởng lớn đến đời sống thì mức độ sẵn sàng của người
sản xuất trong việc tham gia thị trường BHNN thấp. Ngược lại, các sản phẩm sản
xuất với quy mô lớn thường chiếmvị thế trọng yếu trong cơ cấu thu nhập của
người sản xuất (chủ yếu là sản phẩm hàng hóa) thì mức độ sẵn sàng tham
gia thị trường BHNN của người sản xuất cao hơn [18,19].
* Lợi ích kỳ vọng:
Đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sự quyết định của các chủ thể
SXNN tham gia thị trường BHNN. Các quy định, các thỏa thuận về mức bồi
thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện rủi ro đảm bảo đượclợi ích mong muốn, đảm bảo
sự bình đẳng giữa DNBH với người mua BH có tác dụng khuyến khích người sản
xuất tham gia thị trường BHNN [19].
1.2. Cơ sở thực tiễn về BHNN và thị trường BHNN
1.2.1. Thực tiễn bảo hiểm nông nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới
a. Bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ
BHNN ở Mỹ là BH đa hiểm họa thông qua chương trình BH cây trồng liên
bang - một chương trình liên kết giữa Chính phủ liên bang và các công ty BH. Tổng
chi phí cho BH cây trồng ở Mỹ lên tới 4 tỷ đô la mỗi năm cho hơn 100 loại cây trồng,
trong đó có 4 loại chính (ngô, đậu tương, lúa mì, bông) chiếm tới 79%.
BHNN ở Mỹ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ phía Chính phủ. Chính
phủ Mỹ cung cấp miễn phí hợp đồng BH năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện
tích cây trồng. Theo đó, phần tổn thất vượt quá năng suất bình quân của 4 năm
trước sẽ được bồi thường bằng 60% giá trị thị trường của tổn thất. Nông dân ở Mỹ
có thể mua thêm trách nhiệm cao với mức 38% từ Chính phủ. Tổng mức hỗ trợ phí
bồi thường của Chính phủ cho cây trồng toàn Liên bang lên tới 59%, còn phần phí
cho quản lý khoảng 22%, đồng thời Chính phủ nhận tái BH cho các công ty BH.
Bên cạnh phương thức BH truyền thống, Mỹ là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện
BHNN theo chỉ số. Đây được coi là một phương thức bổ sung BH cho những rủi ro
lớn và có tính tương quan trong SXNN.



khốc của các thảm họa tự nhiên tại Nhật. BHNN được thực hiện bởi một chương


20

trình của Chính phủ và Nhật bản đã rất thành công với hình thức BHNN này. Hệ
thống BHNN của Nhật gồm 3 cấp:
- Cấp địa phương: Tất cả các địa phương đều có một Hội BHNN (AMRA),
mà thực chất có thể coi là các Hội BH tương hỗ của những người nông dân. Đây là
mô hình BH bắt buộc. Bất cứ nông dân nào gieo trồng hoặc chăn nuôi vượt quá quy
mô quy định đều bắt buộc tham gia AMRA và AMRA có nghĩa vụ phải công nhận
tư cách thành viên của họ. AMRA có thể giữ lại phần trách nhiệm tối thiểu là 10%,
phần còn lại có thể tái BH với các Liên hiệp Hội BHNN khu vực.
- Cấp vùng: Bao gồm liên hiệp các hội BHNN khu vực có thành viên là tất cả
các Hội BHNN trong khu vực. Ngoài việc thực hiện tái BH cho các Hội, Liên hiệp
còn hướng dẫn các hội về kiểm soát dịch bệnh.
- Cấp trung ương: Cơ quan tái BH nông nghiệp trung ương thực hiện nhận tái
BH cho các Liên hiệp. Nếu khoản đền bù của Liên hiệp vượt quá mức nào đó theo
quy định, phần vượt trội sẽ được bù đắp từ tài khoản đặc biệt quốc gia. Nếu tài
khoản đặc biệt quốc gia không đủ, ngân sách nhà nước sẽ trợ cấp. Tuy nhiên, chính
phủ Nhật bản đã phải hỗ trợ rất nhiều cho hệ thống BHNN này, lên tới 50% phí BH.
Tổng chi phí hỗ trợ BHNN của Nhật bản gấp đôi của Mỹ [18,19].
d. Bảo hiểm nông nghiệp ở Philippines
Chương trình BHNN của Philippines được sự giúp đỡ của Ngân hàng ruộng
đất Philippines bằng những biện pháp bảo vệ SXNN theo những tính toán rủi ro
thời tiết bất lợi và rủi ro thiên tai khác. Năm 1976 Ngân hàng ruộng đất Philippines
đã đề nghị thành lập uỷ ban phát triển chương trình BHNN của Philippines. Tổng
công ty BHNN Philippines là một công ty Nhà nước và được thành lập không nhằm
mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giúp đỡ nông dân được thành lập sau đó (năm 1989).
Phí BH được chia sẻ giữa Chính Phủ, nông dân và các tổ chức tín dụng. Đối với

doanh thu phí BH trong năm 2009 đạt tới gần 2 tỷ USD với khoảng 127 triệu hộ
mua BH. Trung Quốc đã trở thành nước có doanh thu phí BH đứng thứ 2 trên thế
giới sau Mỹ.
Tuy nhiên, hiện nay BHNN của Trung Quốc vẫn gặp nhiều khó khăn về huy
động nguồn tài chính, hệ thống văn bản pháp luật về BHNN chưa hoàn chỉnh, nhận
thức của người dân về BHNN chưa đầy đủ [16].
g. Bảo hiểm nông nghiệp ở Thái Lan


22

Chương trình BHNN của Thái Lan được Chính phủ cung cấp cho nông dân
vào năm 1978 nhưng đã thất bại vào năm 1981 vì không có sự tham gia của người
dân. Nguyên nhân của sự thất bại này là chưa có nhận thức đúng đắn của người dân
về BHNN, phí BHNN quá cao và cũng chưa có một khung pháp lý rõ ràng cho việc
thực thi BHNN. Sau thất bại đó, Thái Lan đã đầu tư một cách thỏa đáng và có
những chiến lược đúng đắn, quỹ hỗ trợ nông nghiệp ra đời năm 1998 cùng với
nhiều các biện pháp hiệu quả được đưa ra để chống lại các rủi ro cho nông dân. Nếu
chính sách này ổn định lâu dài, các nông dân Thái Lan sẽ có một tương lai đầy hứa
hẹn. Hiện tại Thái Lan đã gặt hái được nhiều thành công trongchươngtrìnhBHNN
[19, 27].
h. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Qua kinh nghiệm thực tế đối với hoạt động BHNN ở các nước trên, có thể rút
ra một số nhận xét và những bài học cho Việt Nam nói chung và huyện Tân Phú,
tỉnh Đồng Nai nói riêng khi phát triển thị trường BHNN là:
Thứ nhất, rủi ro trong SXNN rất lớn, thu nhập và nhận thức của người nông
dân là hạn chế, điều này dẫn đến khó có nhà BH tư nhân nào có đủ tiềm lực tài
chính để nhận BH (mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước) do việc đảm bảo hiệu quả
kinh doanh cho những nhà BH là khó khăn. Vì vậy,việc triển khai BHNN để thành
công được không dễ dàng.

thành công BHNN từ việc có chính sách hỗ trợ về mặt tài chính đến tổ chức thực
hiện. Để thị trường BHNN phát triển Nhà nước cần đảm nhiệm các khâu: (1) Xây
dựng môi trường pháp lý cho hoạt động BHNN; (2) Xây dựng hệ thống thông tin và
số liệu; (3) Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và phát triển; (4) Phát triển thị
trường tái BH.
Thứ sáu, cả BH truyền thống và BH chỉ số đều có những ưu điểm và hạn chế
riêng. Ở Mỹ và Canada đã thể triển khai cả phương thức BH theo chỉ số như một sự bổ
sung lựa chọn cho người nông dân, phù hợp với những rủi ro có tính tương quan làm.
Do vậy, BHNN ở Việt Nam có thể triển khai cả hai hình thức này.
1.2.2. Thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam
BHNN ở nước ta được triển khai từ năm 1982 nhưng dịch vụ này phát triển rất
chậm. Trước thực trạng như vậy, nhận thức được tầm quan trọng của BHNN trong
việc góp phần ổn định và thúc đẩy SXNN, ngày 01/03/2011 Chính phủ ban hành


24

Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013
tại 20 tỉnh thành với các chính sách khuyến khích chưa từng có trước đây. Như vậy,
sự hình thành và phát triển của thị trường BHNN ở Việt Nam có thể chia thành 2 giai
đoạn: (1) Trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg và (2)
Sau khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg.
1.2.2.1. Giai đoạn trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg
Đây là giai đoạn thị trường BHNN ở Việt Nam bắt đầu được hình thành kể
từ năm 1982 khi Bảo Việt triển khai thí điểm BH cây lúa tại 2 huyện Nam Ninh và
Vụ Bản của tỉnh Nam Định với toàn bộ diện tích trồng lúa của 2 huyện trên. Phí BH
Bảo Việt thu được năm 1982 là 556 nghìn đồng, chi bồi thường là 464 nghìn đồng,
tỷ lệ tổn thất lên tới 83,45%. Năm 1983 phí BH thu được là 790 nghìn đồng, bồi
thường tổn thất năm 1983 là 300 nghìn đồng, tỷ lệ tổn thất giảm còn 37,97%. Năm
1983 do người dân được mùa, tổn thất SXNN thấp nên phần lớn người nông dân

tham gia BH ít, phí BH cao, kỹ thuật canh tác nuôi trồng của người dân còn lạc hậu
nên doanh thu thấp, bồi thường cao, công ty liên tục lỗ lớn. Tỷ lệ bồi thường trên
doanh thu năm 2005 lên tới 4.426,67%. Tỷ lệ tổn thất cả giai đoạn 2004-2008 trên
220%. Những năm sau đó (2009, 2010), Groupama không còn chú trọng vào
BHNN mà đa dạng hóa sang các nghiệp vụ BH khác [18,19].
Bảng 1.1: Doanh thu và bồi thường hoạt động BHNN Việt Nam (2006-2010)
ĐVT: Tỷ đồng
TT
1

Chỉ tiêu

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Doanh thu BHNN

0,465

0,734


0,018

0,08

0,31

0

0

0

0

0

0,34

Bồi thường BHNN

0,754

0,145

0,203

0,3454

0,41


Bồi thường/Doanh thu (%)

162,15

19,75

24,46

20,71

24,12

27,76

Tr đó: - Công ty Bảo Việt

20,00

13,43

24,42

20,61

22,84

22,78

- Công ty Groupama VN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status