Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
PHẦN I. MỞ ĐẦU.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng trong
công cuộc xây dựng đất nước phát triển.Với một quốc gia đi theo định hướng
xã hội chủ nghĩa như Việt Nam thì vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em là một tư
tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước trong suốt những thập niên qua. Trẻ
em nếu được đáp ứng các yếu tố đảm bảo cho sự phát triển toàn diện thì sẽ là
nguồn lực đảm bảo cho mỗi một quốc gia. Trẻ có đầy đủ các quyền cơ bản để
giúp các em phát triển bản thân một cách toàn diện nhất. Và các bên như gia
đình, nhà trường, xã hội phải tạo điều kiện cho các em được đảm bảo thực
hiện các quyền đó. Bác Hồ đã có những lời căn dặn trong thư gửi các em nhỏ
trong ngày khai trường như sau: “ ...non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp
được hay không?. dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu được hay không?. Đó chính là nhờ một phần ở
công học tập của các em”. Lời căn dặn của Bác cho chúng ta thấy rõ hơn vai
trò quan trọng của thế hệ trẻ em trong tương lai của đất nước, đồng thời ta
cũng nhận thấy được vai trò của việc học tập đến sự phát triển của trẻ em.
Trẻ em thường nhận được sự quan tâm của xã hội và đặc biệt là gia
đình của các em. Mỗi gia đình đều tạo mọi điều kiện để con, em mình được
tiếp cận các hoạt động, dịch vụ để đảm bảo cho các em có điều kiện phát triển
tốt nhất. Như các hoạt động vui chơi giải trí, dịch vụ học tập ở mọi hình thức,
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Trẻ khuyết tật cũng có nhu cầu như những trẻ
bình thường khác, những nhu cầu của các em không thua kém gì các bạn cùng
trang lứa. Các em cũng muốn được tham gia các hoạt động cùng các bạn,
được các bạn đối xử như những bạn khác.
Học tập là quyền, nghĩa vụ của tất cả mọi người và đặc biệt là thế hệ trẻ
em. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là luôn luôn tạo mọi điều kiện cho
chương trình nghiên cứu về trẻ khuyết tật trí tuệ như: Dạy kỹ năng sống cho
trẻ khuyết tật trí tuệ. Chương trình tập huấn Kỹ năng dạy trẻ khuyết tật học
hòa nhập trong các cơ sở giáo dục mầm non... Tuy nhiên các hoat động này
thường chú trọng đến nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp hoặc các hoạt
động giảng dạy đặc thù mà chưa có vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong các hoạt động trợ giúp cũng như chưa có nghiên cứu, ứng dụng hoạt
động dạy trẻ kỹ năng xã hội. Các nước trên thế giới hiện nay tại các trung
tâm, các cơ sở bảo trợ, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật đều có sự hiện diện của các
nhân viên công tác xã hội. Các nhân viên công tác xã hội đã và đang đóng góp
những vai trò quan trọng của mình trong hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật về
mọi mặt. Đặc biệt là về mặt năng lực học tập để các em có được điều kiện tốt,
đảm bảo khả năng học tập như các bạn. Tại Việt Nam có Làng Hữu Nghị Việt
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
2
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
Nam là nơi nuôi dạy các em nhỏ bị khuyết tật. Đối tượng chủ yếu là về trẻ bị
ảnh hưởng chất độc màu da cam. Các em nhỏ tại đây thường là trẻ bị khuyết
tật trí tuệ. Các hoạt động học tập cũng như sinh hoạt đều có sự chăm sóc của
các cán bộ trong Làng. Tại Làng Hữu Nghị Việt Nam chưa có mô hình trợ
giúp của công tác xã hội vào các hoạt động với trẻ khuyết tật, các hoạt động
dạy và hỗ trợ trẻ vẫn nghiêng về giáo dục đặc biệt.
Vì những lý do phân tích trên mà tôi đã lựa chọn đề tài “Vận dụng
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
não bộ khỏe mạnh, và tìm hiểu thêm về khuyết tật trí tuệ tác động chức năng
của não và tăng trưởng. Các nhóm nghiên cứu tin rằng chăm sóc phòng ngừa
có thể hạn chế ảnh hưởng của các rối loạn của người khuyết tật gây ra cho họ.
- Dự án “ Talk ” của điều tra viên chính Poul J Yoder, Ph.D.và nhà
nghiên cứu khác là tiến sĩ Stephen Camarata. Dự án được thực hiện vào tháng
9- 2010 tại Mỹ. Dự án nghiên cứu trẻ có hội chứng Down trong độ tuổi 5-12
tuổi cùng với cha mẹ của các trẻ. Dự án thực hiện điều trị hiện tại cho trẻ. Cha
mẹ trẻ sẽ đưa con mình đến trung tâm để đánh giá bảo mật Vanderbilt
Kennedy. Trẻ tham gia 2 buổi trị liệu một tuần trong 6 tháng tại các trường
học trong năm học hoặc tại Trung tâm Kennedy trong mùa hè. Trẻ tham gia
các kiểm tra thường xuyên của tiến độ bài phát triển.
- Nghiên cứu di truyền trong bệnh tự kỷ của hiệu trưởng Jonathan L.
Haines, Ph.D. Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 10- 2010. Trung tâm
Nghiên Cứu Di Truyền tại đại học Vandebitl đã tiến hành nghiên cứu di
truyền về rối loạn phổ tự kỷ của trẻ em.
- Nghiên cứu “ học tập trong trẻ sơ sinh bị hội chứng Down”, do điều
tra viên chính tiến sĩ Amy Needham và nhà nghiên cứu tiến sĩ Bob Hodapp.
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 9-2011. Nghiên cứu khảo sát trẻ có hội
chứng Down học như thế nào và làm thế nào những kinh nghiệm họ có trong
cuộc sống sẽ sớm đóng góp cho trẻ sơ sinh thực hiện đầy đủ tiềm năng nhận
thức của trẻ.
- 28-12 hàng năm của Hội nghị quốc tế về trẻ có nhu cầu đặc biệt và
gia đình của họ. Hội thỏa tập hợp các cá nhân từ khắp thế giới để tham gia
vào một bộ sưu tập cạnh tranh, phiên áp phích, các cuộc thảo luận bàn tròn,
hội thảo chuyên sâu. Cơ hội cho những người làm nghề chia sẻ niềm đam mê
và cống hiến cho can thiệp sớm và giáo dục đặc biệt.
- Ngân hàng thế giới đã thực hiện để đảm bảo các trẻ em khuyết tật
lươc hành động mang tên “ phá bỏ những rào cản”, đây là nền tảng cho vấn
đề hòa nhập trong đó nhấn mạnh đến việc xây dựng các mô hình và các
trương trình dịch vụ cho người khuyết tật nói chung, đặc biệt là các dịch vụ
về học tập cho trẻ khuyết tật.
2.2. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam
- Nguyễn Tuấn Vĩnh (2005). Tăng cường nội dung “Giáo dục hoà
nhập trẻ khuyết tật” trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non trình độ
đại học. Kỉ yếu hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo đại học và
sau đại học chuyên ngành giáo dục mầm non”. Vụ Giáo dục mầm non và
Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Tuấn Vĩnh (2008). Xu hướng giáo dục hoà nhập trẻ khuyết
tật mầm non và những yêu cầu đặt ra cho việc đào tào giáo viên mầm non. Kỉ
yếu hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non”.
Trường Đại học Quảng Bình.
- Nguyễn Tuấn Vĩnh, Lê Văn Huy (2009). Hệ thống tranh biểu tượng
hỗ trợ giao tiếp với trẻ chậm phát triển trí tuệ trong tổ chức hoạt động vệ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
5
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
sinh ở lớp mẫu giáo hoà nhập. Tạp chí Khoa học và Giáo dục. Trường Đại
học sư phạm, Đại học Huế. Số 01(09)/2009.
Mức độ khuyết tật trí tuệ của học sinh lớp giáo dục đặc biệt tại
trường Tiểu học Ngự Bình, thành phố Huế - Đề tài nghiên cứu khoa học công
nghệ cấp trường Đại học sư phạm Huế - 2010.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
6
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
Luận văn “ nghiên cứu một số vấn đề về phục hồi chức năng ngôn
ngữ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ” của tác giả Nguyễn Thị Giang.
- Đề tài “xây dựng một số bài tập về phát hiện sớm và can thiệp sớm
cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ.” Do thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Hiền là chủ nhiệm
đề tài, cùng với thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Trang và thạc sĩ Trần thu Giang
cùng tham gia nghiên cứu. Đề tài được nghiên cứu từ tháng 04/2007-04/2009.
Đề tài nghiên cứu về thực trạng trẻ khuyết tật ngôn ngữ tại Việt Nam, từ đó
đề ra các bài tập nhằm phát hiện sớm va có những can thiệp sớm nhằm giúp
trẻ có được cơ hội phát triển như các trẻ khác.
- Đề tài “ Giải pháp thực hiện chiến lược giáo dục trẻ khuyết tật giai
đoạn 2005-2010.” Do thạc sĩ Phạm Minh Mục là chủ nhiệm đề tài. Đề tài
được tiến hành trong từ năm 2004 đến 2005. Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở
trẻ có nhu cầu giáo dục đăc biệt” của tiến sĩ Phạm Minh Mục. tiến sĩ Vương
Hồng Tâm. Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa” năm 2012.
- Báo cáo về trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyêt tật tại Đà Nẵng
Kiến thức-thái độ-hành vi. Thực hiện bởi :Bà Alison Dexter – Giám đôc
Nghiên cứu. Bà Trần Liên Phương- Giám đốc Quản lý Khách hàng và
Chuyên viên Nghiên cứu Định tính. Ông Jean-Pierre Depasse – Giám đốc Bộ
phận Nghiên cứu Xã hội và Cộng đồng. Chị Lê Mai Khanh – Cán bộ Nghiên
cứu. Chị Đàm Thu Hằng – Cán bộ Nghiên cứu. Anh Matthew Erickson – Cán
bộ Nghiên cứu.
- Nghiên cứu định tính về trẻ khuyết tật tại An Giang và Đồng Nai,
kiến thức, thái độ, thực hành. Được thực hiện bởi công ty cổ phần Thị Trường
và xã hội, tiến sĩ, bác sĩ Trịnh Thắng và các cộng sự. Nghiên cứu được thực
hiện vào tháng 1/2011.
- Đề tài nghiên cứu Xây dựng họa đồ tâm lý của giáo vên dạy trẻ
khuyết tật trí tuệ, của tác giả Nguyễn Thị Thoa vào tháng 5/ 2010.
- Tài liệu “Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí
tuệ” của tác giả Trần Thị Lệ Thu do nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
phát hành, 2003.
- Báo cáo đề tài cấp bộ của Trần Trọng Thủy- Võ Thị Minh Chí
nghiên cứu về vấn đề “dạy học chính trị cho trẻ khó học” năm 1995.
- Đề tài cấp bộ trọng điểm “ ứng dụng tâm lý học đường vào các
trường phổ thông” của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Chí, năm 2009.
- Tài liệu Tâm lý học thần kinh của Võ Thị Minh Chí do nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội phát hành vào năm 2004.
- Quyết định phê duyệt đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn
2012-2020 của thủ tướng chính phủ. Với mục tiêu hỗ trợ người khuyết tật
phát triển toàn diện trong đó có trẻ khuyết tật.
Các đề tài nghiên cứu trước đó thường chỉ nêu lên thực trạng hoặc
những can thiệp trợ giúp các em khuyết tật theo dạng cung cấp các cơ sở vật
chất, dạy học hòa nhập mà chưa có đề cập sâu sắc đến vấn đề kỹ năng xã hội
khuyết tật trí tuệ từ 14 đến 16 tuổi.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình hình thực trạng kỹ năng xã hội của trẻ khuyết tật
tại Làng Hữu Nghị Việt Nam, và thực trạng công tác giảng dạy kỹ năng xã
hội cho trẻ khuyết tật. Từ đó xây dựng được những hoạt động nâng cao kỹ
năng xã hội cho trẻ khuyết tật trí tuệ thông qua các cách thức của Công tác xã
hội, đặc biệt là thông qua phương pháp Công tác xã hội nhóm.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về thực trạng trẻ khuyết tật va kỹ năng xã hội của trẻ
khuyết tật trí tuệ tại làng Hữu Nghị Việt Nam.
- Nghiên cứu về hoạt động hỗ trợ phát triển về kỹ năng xã hội cho trẻ
khuyết tật trí tuệ tại làng Hữu Nghị Việt Nam.
- Đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao
kỹ năng xã hội cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại làng Hữu Nghị Việt Nam.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
9
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
- Đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực học tập cho trẻ khuyết tật
tại làng Hữu Nghị Việt Nam.
- Sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm để nâng cao kỹ năng
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
- Trong quá trình thực hiện: Theo dõi các hoạt động diễn ra và cách
thức diễn ra như thế nào; Ghi chép đầy đủ và khách quan các thông tin (ghi
chép, máy quay, phim ảnh…)
- Sau khi sự kiện diễn ra: Người quan sát sử dụng các thông tin lưu lại
để hoàn tất quá trình quan sát đã chủ định từ trước. Xử lý thông tin để đưa ra
kết luận.
Các hình thức quan sát
- Quan sát khách quan: người quan sát không can thiệp vào quá trình
hoạt động của trẻ, không để trẻ biết đang bị quan sát; thông tin ghi chép khách
quan, trung thực.
- Quan sát bán chủ động: người quan sát chủ yếu vẫn đóng vai trò thụ
động, nhưng để làm rõ những thông tin cần có người quan sát có thể tạo ra
các hoạt động phụ trợ để trẻ tham gia.
- Quan sát chủ động: người quan sát tạo ra các tình huống, tổ chức các
hoạt động cho trẻ tham gia nhằm mục đích lấy được các thông tin cụ thể, chi
tiết đáp ứng mục tiêu quan sát.
6.2. Phương pháp phỏng vấn
Chuẩn bị phỏng vấn: Xác định mục đích/mục tiêu phỏng vấn. Các câu
hỏi cần thiết để xác định được mục tiêu phỏng vấn là: Tại sao cần có cuộc
phỏng vấn này? Vì sao lại phỏng vấn người này/nhóm người này? Muốn đạt
được điều gì sau phỏng vấn?
Lựa chọn và thu thập thông tin về người được phỏng vấn. Thông qua
các kênh thông tin khác nhau:Thực tế tiếp xúc hàng ngày, các nguồn tư liệu;
tin đồn. Những người quen biết, bạn bè..Lựa chọn nội dung và các phương
Kết hợp lời nói với cử chỉ, điệu bộ cho phù hợp với tình huống. Chú ý đến
vấn đề về giới trong cuộc phỏng vấn.
Kỹ năng phỏng vấn cần thiết: Những câu hỏi đầu tiên nên về những
điều mà trẻ đã được học, đã được trải nghiệm, trẻ có thể trả lời một cách
tương đối dễ dàng (học tập dựa trên kinh nghiệm). Biết sử dụng những câu
hỏi tích cực và tránh đặt câu hỏi tiêu cực đối với trẻ. Cho trẻ thời gian suy
nghĩ đồng thời tạo cơ hội cho trẻ để có câu trả lời. Sử dụng các mô hình, tranh
vẽ, hình ảnh để giúp trẻ trả lời và kiểm tra được sự hiểu biết của trẻ. Sử dụng
cùng một câu hỏi trong những hoàn cảnh hoặc nội dung khác nhau. Sử dụng
câu hỏi diễn tiến (phỏng vấn sâu). Dừng việc tiếp tục hỏi khi trẻ không trả lời
được câu hỏi hay trẻ đã mệt.
Sử dụng phương pháp quan sát kết hợp với hồi tưởng, ghi chép, quay
phim, chụp ảnh để lưu và tổng hợp lại các thông tin liên quan phục vụ cho
công việc của đề tài.
6.3. Phương pháp công tác xã hôi nhóm
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
12
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
Công tác xã hội nhóm là là một phương pháp của công tác xã hội nhằm
xây dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm trong nhóm, nguồn
lực giữa các thành viên củng cố, tăng cường các chức năng xã hội, khả năng
giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoat nhóm
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
1.1.1.2 .Trẻ khuyết tật và phân loại trẻ khuyết tật
1.1.1.3 .Trẻ khuyết tật trí tuệ
1.1.1.4. Phương pháp Công tác xã hội và Công tác xã hội nhóm
1.1.1.5. Nhân viên công tác xã hội
1.1.1.6. Kỹ năng xã hội
1.1.1.7. Kỹ năng xã hội cho trẻ khuyết tật trí tuệ
1.1.2. Các lí thuyết liên quan
1.1.2.1. Thuyết hệ thống
1.1.2.2. Thuyết động năng tâm lý
1.1.2.3. Thuyết học tập xã hội
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng về trẻ khuyết tật tại Việt Nam
1.2.2. Công tác hỗ trợ trẻ khuyết tật tại Việt Nam
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO KỸ
NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM
2.1. Khái quát chung về làng Hữu Nghị Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành
2.1.2. Cơ cấu tổ chức tại Làng Hữu Nghị Việt Nam
2.1.3. Mục tiêu, chức năng của làng Hữu Nghị Việt Nam
2.1.3.1. Mục tiêu
2.1.3.2. Chức năng chính
2.1.4. Các đối tượng xã hội được chăm sóc tại Làng Hữu Nghị
2.3.2.2. Những vấn đề còn tồn tại
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO
TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM
3.1. Quy trình vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc
nâng cao kỹ năng xã hội cho trẻ khuyết tật tại Làng Hữu Nghị Việt Nam
3.1.1. Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
3.1.2. Giai đoạn khởi động và tiến hành hoạt động
3.1.3. Giai đoạn hoạt động tập trung
3.1.4. Giai đoạn kết thúc và lượng giá hoạt động
3.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao kỹ năng
xã hội cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại làng Hữu Nghị Việt Nam
3.2.1. Vai trò khảo sát, đánh giá kỹ năng xã hội
3.2.2. Vai trò tập hợp thu hút sự tham gia
3.2.3. Vai trò quản lý, giám sát
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
15
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI.
1.1. Cơ sở lí luận
Ngoài ra trong các quy phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các
khái niệm “người thành niên”, “người chưa thành niên”. Như vậy vấn đề đặt
ra là phân biệt giữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em”.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
16
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
Theo pháp luật Việt Nam:
- Người thành niên: là người trên 18 tuổi.
- Người chưa thành niên: là người dưới 18 tuổi.
Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ
em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến
18 tuổi.
1.1.1.2. Trẻ khuyết tật và phân loại trẻ khuyết tật
Những thuật ngữ "tàn tật", "khiếm khuyết","khuyết tật","có tật", "tật
nguyền"... thường được dùng với những mục đích khác nhau, trong những
trường hợp khác nhau và hay bị nhầm lẫn.Trong giáo dục, ta nên dùng thuật
ngữ nào và ý nghĩa như thế nào là thích hợp nhất ?.
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì phân loại khuyết
tật không phải là phân loại con người, mà là phân loại những đặc điểm sức
khoẻ cùng với những hạn chế trong hoạt động của cá thể cộng trong môi
trường sống của họ.
Phân loại khuyết tật căn cứ vào 3 yếu tố cơ bản:
+ Không có khả năng chữa trị.
Những trẻ thuộc loại này thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập
và nhận thức thế giới xung quanh. Cho nên dạng này thường gọi là trẻ có khó
khăn về học.
- Khuyết tật vận động: những cơ quan vận động bị tổn thương do
những khuyết tật khác nhau (chấn thương, hậu quả của một số bệnh) gây nên
những khó khăn khi di chuyển, hoạt động cầm nắm, đứng, ngồi... Phần lớn trẻ
khuyết tật vận động có năng lực trí tuệ phát triển bình thường.
- Khuyết tật ngôn ngữ: biểu hiện rất đưa dạng, từ nói ngọng, nói lắp đến
không nói được, mất tiếng nói,.. dẫn đến hậu quả trẻ có khó khăn về giao tiếp.
Ngoài ra còn có các dạng khuyết tật khác có thể có ở trẻ em như hành
vi xa lạ, trẻ mắc những bệnh mãn tính như động kinh, bệnh về tim,... gây cho
trẻ những khó khăn về học tập.
1.1.1.3. Trẻ khuyết tật trí tuệ
Vấn đề trẻ khuyết tật trí tuệ đã được nghiên cứu từ lâu và cũng đồng
nghĩa với nó là có nhiều định nghĩa khái niệm cũng như nhiều quan điểm
khác nhau. Sau đây là một số quan điểm như sau:
Trước năm 1959, chậm phát triển trí tuệ được gọi là trí thông minh
dưới mức trung bình (Subaverage intelligence). Điểm IQ (Intelligence
quotient) hơn 2 độ lệch chuẩn thấp hơn so với trung bình thì được xem là độ
lệch có ý nghĩa so với trí tuệ trung bình. IQ =70 thì được xem như là điểm
giới hạn đối với chậm phát triển tâm thần.
Năm 1959, hành vi đáp ứng được thêm vào như một tiêu chuẩn chẩn
đoán. Nếu một người có đáp ứng thích nghi đầy đủ với môi trường thì tại sao
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
18
Lớp: K59- Công tác xã hội
Những khái niệm về khuyết tật trí tuệ được sử dụng rộng rãi nhất là
theo DSM- IV và AAMR năm 1992: Trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về
kỹ năng thích ứng và khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
19
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
Định nghĩa được nhiều người quan tâm là: Chậm phát triển trí tuệ là
giảm khả năng về nhận thức, hiểu biết. Giảm sút trí nhớ, chậm chạp hay khó
khăn về việc học tập. Chậm phát triển về nội tâm. Khó khăn trong việc diễn
đạt xúc cảm (Nguyễn Văn Thành).
PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ TRÍ TUỆ THEO DSM-IV.
- Khuyết tật tí tuệ nhẹ: chỉ số trí tuệ từ 50-55 đến 70.
- Khuyết tật trí tuệ trung bình : chỉ số trí tuệ từ 35-40 đến 50-55.
- Khuyết tật trí tuệ nặng : chỉ số trí tuệ từ 20-25 đến 35-40.
- Khuyết tật trí tuệ rất nặng: chỉ số trí tuệ dưới 20 hoặc 25.
Việc phân loại mức độ khuyết tật giúp chúng ta có cơ sở để doán biết
và kỳ vọng về mức độ hành vi của đứa trẻ, biết được điều kiện thể chất và đặc
biệt là biết mức độ, hình thức chăm sóc cần thiết cho đứa trè
Từ những phân tích trên chúng ta có thể có được cái nhìn toàn diện
nhất về khái niệm trẻ khuyết tật trí tuệ như sau:Trẻ khuyết tật trí tuệ là trẻ có
khiếm khuyết của sự phát triển của vỏ não, khiến trẻ có những nhận thức dưới
năng lực thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện
thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy”.
Một định nghĩa khác về Công tác xã hội
được định nghĩa trong
“Foundation of Social Work practice” – Cơ sở thực hành Công tác xã hội: “
Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua
những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở độ phù hợp trong xã hội”.
Năm 2004, Liên đoàn Công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế họp ở
Canada đã thảo luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: “ Công tác xã hội là
hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội bằng sự tham
gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội ( vấn đề nảy sinh trong các
mối quan hệ xã hội ) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm
năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Công tác xã hội đã giúp cho
con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp
cho mọi người dân”.
Công tác xã hội trải qua quá trình vận động, phát triển trên phương diện
lý thuyết khoa học và thông qua sự hoạt động thực tiễn đã hình thành cho
mình một hệ thống các phương pháp tác nghiệp nhằm mang lại hiệu quả bền
vững, sự thay đổi tích cực cho đối tượng được can thiệp, hỗ trợ giúp đỡ.
Trong đó, các phương pháp mang tính chuyên nghiệp và được coi là các
phương pháp đặc trưng của Công tác xã hội là: phươg pháp Công tác xã hội
cá nhân, phương pháp Công tác xã hội nhóm,phương pháp Công tác xã hội tổ
chức và phát triển cộng đồng.
Công tác xã hội với cá nhân: là quá trình và là một phương pháp tác
động đến cá nhân có vấn đề xã hội (bị mất hoặc yếu về chức năng xã hội),
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
21
hoạt động thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm có thể khái quát các chức năng chủ
yếu của Công tác xã hội bao gồm:
+ Công tác xã hội trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội, hỗ trợ giải
quyết các vấn đề gặp phải của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng bằng
phương pháp tác ngiệp chuyên nghiệp.
+ Công tác xã hội huy động, liên kết và phát huy nguồn lực trợ giúp đối
tượng có hoàn cảnh khó khăn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
22
Lớp: K59- Công tác xã hội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Đỗ Nghiêm Thanh Phương
+ Công tác xã hội nghiên cứu, dự báo và phòng ngừa nhằm hạn chế sự
phát sinh, gia tăng các vấn đề xã hội và đối tượng có vấn đề xã hội.
Từ những chức năng cơ bản trên cho thấy Công tác xã hội có vai trò và
ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội. Hoạt động của Công tác xã hội nhằm
mang lại lợi ích, hạnh phúc cho con người. Công tác xã hội trực tiếp can
thiệp, hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội mà cá nhân, nhóm, cộng đồng gặp
phải, do đó Công tác xã hội làm giảm bớt sự căng thẳng, bất ổn của xã hội,
hạn chế hậu quả do các vấn đề xã hội và sự căng thẳng xã hội gây nên góp
phần quan trọng trong tạo lập và duy trì công bằng, tiến bộ xã hội.
Theo các tác giả Toseland và Rivas ( 1998 ) có nhiều cách tiếp cận về
Công tác xã hội nhóm và mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và ứng dụng
thực hành cụ thể. Vì vậy, các tác giả này đã đưa ra một định nghĩa bao quát
nghĩa như sau:
“ Công tác xã hội nhóm trước hết phải được coi là phương pháp can
thiệp của công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các
thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động
tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung,
tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của
nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên
nhằm giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội
nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều
phối của người trưởng nhóm và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân
viên xã hội.” [10; 31].
Trong giáo trình Công tác xã hội nhóm của Thạc sĩ. Nguyễn Duy Nhiên
, Công tác xã hội nhóm được định nghĩa:
“Phương pháp công tác xã hội nhóm là phương pháp công tác xã hội
nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa
các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải
quyết vấn đề, thoả mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi
cá nhân hoà nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi hành vi và khả năng đương
đầu với các nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra
vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực”.[16;59].
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về công tác xã hội nhóm,
nhưng đều có điểm chung thống nhất là sử dụng phương pháp công tác xã hội
nhóm, tiến trình sinh hoạt nhóm để tạo dựng, duy trì và tăng cường sự tương
tác giữa các thành viên của nhóm nhằm thay đổi thái độ, hành vi cá nhân một
cách tích cực, nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của mỗi
thành viên và của nhóm.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
24
các định nghĩa cũng có nhiều cách khác nhau. Có quan điểm cho rằng, kỹ
năng xã hội là năng lực giao tiếp, thuyết phục và tương tác với các thành viên
khác trong xã hội mà không tạo ra xung đột bất hòa.
Kỹ năng xã hội cũng được định nghĩa là tập hợp các kỹ năng con người
sử dụng để tương tác và giao tiếp với người khác. Mỗi con người khi sinh ra
đều có được sống trong những nền văn hóa khác nhau với những phong tục
tập quán khác nhau và những chuẩn mực khác nhau, nó quyết định cách thức
cư xử như nào là thành công.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mùi
25
Lớp: K59- Công tác xã hội