Tài liệu Luận văn: “Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong việc xây dựng và phát huy nguồn nhân lực cho ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam” doc - Pdf 10


1

Luận văn:
“Vận dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng trong việc xây dựng và phát huy nguồn
nhân lực cho ngành kiểm toán độc lập tại Việt
Nam” 2
PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, tháng 12 năm 2006, nước ta chính thức gia nhập WTO.
Sau sự kiện này, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn dịch vụ tài chính, kế toán, kiểm toán,
bảo hiểm… cho các đối tác nước ngoài. Điều này dẫn đến một yêu cầu thực tế bức
thiết là thông tin về thị trường tài chính Việt Nam phải được minh bạch và có độ tin
cậy cao. Do đó, sự bùng nổ về cầu đối với lĩnh vực kiểm toán sẽ là điều tất yếu. Công
tác kiểm toán sẽ là một trong những chìa khóa tăng cường sự minh bạch cũng như
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong hoạt động kiểm toán, nguồn
lực con người được coi như là yếu tố quyết định đối với chất lượng dịch vụ cung cấp.
Tuy nhiên điều kiện thực tế Việt Nam cho thấy: nguồn nhân lực phục vụ cho ngành
kiểm toán còn đang rất thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng, do đó mà chất lượng
dịch vụ kiểm toán cũng còn nhiều hạn chế. Vì vậy việc xây dựng và phát huy đầy đủ
sức mạnh nguồn nhân lực cho ngành kiểm toán trở thành một vấn đề bức thiết của
nền kinh tế hiện nay.
Với những kiến thức về phương pháp luận triết học đã lĩnh hội được từ các bài
giảng triết học, em xin mạn phép chọn đề tài “Vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng trong việc xây dựng và phát huy nguồn nhân lực cho ngành kiểm

kiểm toán độc lập Việt Nam phải phát huy mọi nguồn lực của mình, trong đó nguồn
lực con người là then chốt và quyết định. Kiểm toán vốn là ngành lao động phức tạp
đòi hỏi hàm lượng chất xám và tư duy cao nên để xây dựng kỹ thuật, phương pháp,
quy trình kiểm toán hiệu quả, yêu cầu quan trọng hơn hết là phải nuôi dưỡng được
nguồn nhân lực hùng hậu có trình độ cao nhằm đảm bảo yêu cầu cung cấp dịch vụ,
tránh tình trạng “tự thua trên sân nhà”. Nền kinh tế đặt ra yêu cầu khách quan đối với
nguồn nhân lực kiểm toán là phải đủ về số lượng, cao về chất lượng và trình độ
chuyên môn cũng như giàu về kinh nghiệm thực hành.
2. Thực trạng nguồn nhân lực kiểm toán
Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của ngành kiểm toán cho thấy nguồn nhân
lực của ngành vẫn còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng

4
Về số lượng, nhân lực ngành kiểm toán đang ở tình trạng thiếu hụt trầm trọng.
Hiện nay, cả nước chỉ có gần 1.000 kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề. Con số
này quá ít ỏi trước sự bùng nổ của nhu cầu kiểm toán. Hơn nữa, tiêu chuẩn để được
cấp chứng chỉ hành nghề kiểm toán là rất cao như phải có bằng đại học chuyên
ngành, rồi 5 năm kinh nghiệm và phải trải qua 8 môn thi rất khó khăn Do vậy tính
đến nay số lượng kiểm toán viên chuyên nghiệp ở Việt Nam còn rất thấp so với yêu
cầu của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, số lượng nhân lực của ngành luôn biến động xáo trộn vì đây là
một trong những nghề luôn phải đối mặt với những thách thức pháp lý. Áp lực công
việc, đặc biệt trong mùa kiểm toán, làm cho các kiểm toán viên căng thẳng quá mức
thường xuyên, khiến họ dễ dàng bỏ nghề hoặc chuyển sang các lĩnh vực khác. Một số
kiểm toán viên sau khi đã có chứng chỉ kiểm toán quốc tế lại chuyển công tác hay
định cư ở nước ngoài. Tình trạng chảy máu chất xám thường xuyên diễn ra trong
ngành làm cho nguồn nhân lực về kiểm toán lại càng trở nên thiếu hụt hơn so với yêu
cầu của nền kinh tế.
Về chất lượng, số lượng kiểm toán viên đạt trình độ chuẩn Việt Nam và quốc tế
còn rất thấp. Theo Hiệp hội kế toán công chứng Anh (ACCA), hiện Việt Nam chỉ có gần

3. Một số nguyên nhân của tình hình trên
Như đã trình bày, yêu cầu khách quan của nền kinh tế đặt ra cho lao động
ngành kiểm toán càng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Song với tình hình
thực tế hiện nay thì nhân lực của ngành mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ
những yêu cầu đó. Thực trạng này có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
- Kiểm toán độc lập tại Việt Nam mới ra đời trong kinh tế thị trường còn rất
non trẻ và chưa hề có một cơ sở gì làm nền tảng mà hoàn toàn phải tự thân vận động.
Do đó mà vấn đề đầu tư vào nguồn nhân lực cũng còn nhiều hạn chế
- Thời kỳ mới chuyển đổi sang kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những quan
điểm chưa đúng về vai trò của kiểm toán độc lập. Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn

6
còn tư tưởng “chuộng” kiểm toán và thanh tra Nhà nước. Vì thế lao động trong ngành
kiểm toán độc lập vẫn chưa được đánh giá đúng mức
- Khung pháp lý chưa hoàn chỉnh. Mặc dù trong thời gian gần đây, hệ thống
các văn bản pháp luật về kiểm toán, kế toán đã được đổi mới và ban hành khá đầy đủ,
bao gồm Luật Kế toán, các nghị định, các chuẩn mực kế toán, kiểm toán dần phù hợp
với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn một khoảng cách khá xa so với thế
giới. Các văn bản vẫn mang nặng tính chất hành chính và chưa tạo ra được sự đồng
bộ, thống nhất cũng như chưa xây dựng được chính sách bồi dưỡng đào tạo và đãi
ngộ thỏa đáng cho kiểm toán viên để giữ chân họ lại trước yêu cầu và áp lực công
việc quá cao.
- Một điểm cần lưu ý là các doanh nghiệp Việt Nam nói chung vẫn chưa nhận
thức đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của công việc kiểm toán. Một số chắc phải đến
khi vấp ngã mới thấy tầm quan trọng của kiểm toán, kế toán. Đơn cử như việc thị
trường chứng khoán vừa qua đã nóng lên. Một sốdoanh nghiệp đổ xô đầu tư vào
nhưng cũng chẳng mấy ai quan tâm các số liệu, báo cáo sổ sách kiểm toán ra sao
Nguồn nhân lực Việt Nam nói chung và nhân lực ngành kinh tế nói riêng, vốn
được đánh giá là dồi dào, cần cù, thông minh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định
về điều kiện khách quan chủ quan của đất nước trong thời kỳ đổi mới nên việc huy

ra kết quả đó; mới chỉ nhìn thấy hiện thực mà chưa đánh giá được đúng đắn khả năng
và tiềm lực trong tương lai…Đôi khi xem xét theo kiểu bình quân, cào bằng vai trò
của nguồn nhân lực với các yếu tố khác. Kết quả là các giải pháp đề ra không thực sự
hữu hiệu đối với việc phát huy sức mạnh nguồn nhân lực.
Khi đánh giá vai trò kiểm toán nói chung, kiểm toán độc lập nói riêng, đặc biệt
là nguồn nhân lực kiểm toán còn phiến diện, cục bộ, mới chỉ nhìn đến một mặt một
góc độ nhất định chứ chưa xét đến tất cả các mối liên hệ tác động qua lại giữa kiểm
toán độc lập với các doanh nghiệp và quan hệ giữa hỗ trợ giữa kiểm toán nhà nước và
kiểm toán độc lập. Vẫn còn coi trọng kiểm toán nhà nước và chưa có đánh giá đúng

8
đắn về vai trò to lớn của kiểm toán độc lập với sự an ninh và lành mạnh của nền tài
chính quốc gia. Do đó nguồn nhân lực mới chỉ được ưu tiên cho khu vực kiểm toán
nhà nước còn kiểm toán độc lập thì vẫn rất yếu ớt vì chưa được đầu tư nhiều. Điều
này làm hạn chế số lượng và chất lượng nhân lực ngành kiểm toán độc lập.
Trong giai đoạn trước đây có những lúc chưa nhìn nhận đầy đủ về vai tò nguồn
lực con người, chưa coi đó là một nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia, mà chỉ coi
trọng các nguồn lực vật chất, nên chưa phát huy được sức mạnh và vai trò to lớn của
nguồn lực con người. Từ sau quá trình đổi mới, nhận thức đã có sự biến chuyển theo
chiều hướng tích cực, đã nhận ra được con người là một nguồn lực quý báu của quốc
gia để xây dựng và phát triển đất nước vốn đi lên từ một điểm khởi đầu thấp kém.
Tuy vậy vẫn có những nhận thức chưa đầy đủ và toàn diện về nguồn lực con người,
cho rằng con người là nguồn lực sẵn có nên chỉ nhấn mạnh đến việc sử dụng và khai
thác mà không chú trọng đúng mức đến việc bồi dưỡng và phát triển lâu dài, do vậy
mà công tác giáo dục đào tạo chuyên môn cho ngành này còn nhiều hạn chế. Giáo
viên chuyên ngành còn thiếu nhiều và tài liệu vẫn còn hạn chế.
Vẫn còn tình trạng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực kiểm toán vẫn
chưa coi trọng coi sự phát triển nhiều mặt và phát triển toàn diện nguồn lực con
người, không coi chất lượng cuộc sống hay hạnh phúc của của con người là mục tiêu
cao nhất cần hướng đến. Do đó trong công tác điều hành nguồn lao động, điều kiện

bị chậm hẳn so với thế giới, chất lượng và số lượng kiểm toán viên cũng còn khoảng
cách rất xa mới đáp ứng kịp nhu cầu thị trường. Hơn nữa các biện pháp để huy động
và phát triển nguồn nhân lực vẫn chưa thực sự có hiệu quả do chưa dự đoán được xu
hướng phát triển, chưa thấy được những mâu thuẫn và động lực cũng như cách thức
phát triển của các loại hình doanh nghiệp kiểm toán. Do đó một số biện pháp đưa ra
mới chỉ mang tính tình thế chứ chưa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Ví dụ như việc các
công ty giữ chân nhân viên bằng cách tăng lương hiện nay và chính sách ràng buộc
nhân viên. Nhìn bề ngoài thì có vẻ như lương tăng lên vùn vụt mỗi năm, song thực tế

10

thì đi đôi với tỷ lệ 20%-30% tăng lương là tỷ lệ 200%-300% áp lực công việc và yêu
cầu về trình độ. Việc quy định các ràng buộc khắt khe trong hợp đồng lao động và
trong quản lý càng làm cho nhân viên thấy bị “kiểm soát quá chặt”. Do vậy mà vẫn
chưa thể giữ chân được kiểm toán viên, nhất là khi các ngành nghề khác lại nở rộ sôi
động như hiện nay
4. Bỏ ngoài nhận thức nguyên tắc lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn trong
chỉ đạo hoạt động
Đánh giá về nguồn nhân lực mà không căn cứ vào các yếu tố lịch sử không
gian thời gian cụ thể thì sẽ không thu được nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí, tác
dụng, ưu nhược điểm của từng giai đoạn phát triển nguồn nhân lực ngành kiểm toán
trong tiến trình phát triển chung của nền kinh tế. Không căn cứ vào điều kiện cụ thể
của nước ta (xuất phát điểm trong ngành kiểm toán dường như từ con số không, thực
trạng nền kinh tế còn rất thấp kém) thì có thể sẽ không thấy khả năng và tiềm lực to
lớn của nguồn nhân lực, và có thể sẽ đưa ra các giải pháp không phù hợp với điều
kiện thực tế và không khả thi, hoặc đưa ra các giải pháp chung chung không trọng
điểm không cơ bản, không đưa ra được giải pháp “đột phá”. Không căn cứ vào hoàn
chản thực tế sẽ không thể đưa ra chiến lược đào tạo hợp lý, sẽ không thể xây dựng
được chính sách phù hợp, việc truyền đạt học tập kỹ thuật và quy trình của nước
ngoài không được điều chỉnh theo tình hình thực tế của Việt Nam cũng sẽ trở nên

nhau trong chỉnh thể sự vật và với các sự vật khác. Qua đó phải nắm được các mặt,
các mối liên hệ chủ yếu, bản chất của sự vật hiện tượng, tránh nhận thức sai lệch
xuyên tạc bản chất sự vật hiện tượng. Như vậy, nguyên tắc này cho phép chúng ta
tính đến mọi khả năng phát triển của ngành kiểm toán và mọi yêu cầu đối với nguồn
nhân lực. Nguyên tắc này còn yêu cầu phải xem xét vấn đề nhân lực kiểm toán trong
mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế để tìm ra hướng đi đúng. Quá trình
xem xét toàn diện này không phải là bình quân dàn đều mà có trọng tâm trọng điểm
nhằm rút ra những vấn đề cơ bản trọng điểm nhất chi phối nguồn nhân lực hiện nay là
vấn đề về chất lượng. Từ quan điểm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ra cách

12

nhìn đồng bộ trong hoạt động thực tiễn và từ đó đề ra hệ thống các giải pháp đồng bộ
và có trọng điểm để giải quyết những yêu cầu đặt ra.
1.3. Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Phát triển là sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Trong nhận thức, nguyên tắc phát triển yêu cầu
phải đặt hiện tượng cần nghiên cứu trong trạng thái vận động biến đổi để vừa thấy
được trạng thái hiện tại vừa thấy được khuynh hướng tương lai của nó, nhằm làm rõ
khuynh hướng biến đổi và các hình thức biểu hiện cụ thể cũng như chỉ rõ nguồn gốc
động lực sự phát triển đó là những mâu thuẫn nào. Nghiên cứu thực trạng nguồn lực
ngành kiểm toán độc lập Việt Nam, chúng ta cần đặt trong quá trình vận động liên tục
của nó để dự đoán xu hướng và yêu cầu phát triển của nó trong tình hình mới khi đã
gia nhập WTO. Đồng thời chúng ta cũng cần phát hiện các nhân tố, các quy luật chi
phối sự phát triển đó và nguồn gốc động lực của sự phát triển biến đổi đó là gì, từ đó
có biện pháp giải quyết hữu hiệu vấn đề nhân lực kiểm toán trong từng giai đoạn cụ
thể.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong hoạt động thực tiễn phải biết nhạy cảm với cái
mới, ủng hộ tạo điều kiện cho cái mới cái tiến bộ ra đời trên cơ sở kế thừa và phát
huy những nội lực vốn có trong nguồn nhân lực

trong tình hình mới, phát huy tính sáng tạo của sinh viên học viên, nâng cao khả năng
thực hành trước khi đi làm. Phải tạo lập được môi trường giáo dục đào tạo lành mạnh,
trong sạch, tránh tình trạng chạy đua theo thành tích mà bỏ quên mất chât lượng thực
tế của sản phẩm đào tạo. Bên cạnh đó cần có những kế hoạch liên kết với các tổ chức
nghề nghiệp trong nước và quốc tế tổ chức các chương trình học chuyên sâu, các buổi
cập nhật kiến thức cho kiểm toán viên, giúp cho kiểm toán viên nắm bắt kịp thời các
quy định mới liên quan đến hoạt động của ngành tại Việt Nam.
Sửa đổi quy chế thi chứng chỉ kiểm toán viên trong tình hình mới nhằm thực
hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên. Đây là yêu cầu hết sức
cần thiết do đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế thế giới đang phát triển
 Hoàn thiện khung chính sách pháp lý

14

Có thể thấy rằng khung hành lang pháp lý cho kiểm toán độc lập tại Việt Nam
vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Chúng ta chưa có Luật kiểm toán độc lập làm cơ sở cho
các hoạt động kiểm toán. Hơn nữa hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện
nay vẫn chưa đồng bộ, chúng ta còn phải dựa nhiều vào hệ thống Chuẩn mực kiểm
toán Quốc tế, vốn còn rất khác biệt so với Việt Nam. Do vậy, để tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động của kiểm toán độc lập, Nhà nước nên thực hiện:
- Xây dựng và ban hành khung pháp lý hoàn chỉnh cho sự hoạt động của kiểm
toán độc lập, đặc biệt là Luật kiểm toán độc lập và hệ thống Chuẩn mực kiểm toán,
trên cơ sở dựa vào cả Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế và điều kiện cụ thể tại Việt Nam
- Tăng cường tổ chức các lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ cho kiểm toán viên.
- Cần thắt chặt điều kiện thành lập công ty kiểm toán nếu không có thể làm
giảm sút chất lượng kiểm toán và thậm chí có thể gây những hiện tượng cạnh tranh
không lành mạnh trong ngành nghề.
 Tăng cường hiệu quả công tác quản lý nguồn nhân lực
Tăng cường công tác quản lý kiểm toán viên, chấm dứt tình trạng cho thuê
chứng chỉ kiểm toán viên, hoặc một kiểm toán viên đăng ký hành nghề cho nhiều

toàn và sức khoẻ, tương quan lao động… nhằm giữ chân được những lao động có
trình độ cao.
 Công tác tuyên truyền, định hướng
Cần tuyên truyền cho học sinh, sinh viên thấy được tầm quan trọng cũng như
cơ hội của nghề kiểm toán, kế toán. Từ đó, chúng ta sẽ có thể đào tạo ra những kiểm
toán viên, kế toán viên hành nghề đủ đáp ứng cho như cầu phát triển kinh tế đất nước
Tóm lại, để giải quyết bài toán nguồn nhân lực khan hiếm trong lĩnh vực kiểm
toán độc lập cần phải căn cứ vào các nguyên tắc phương pháp luận khoa học vàđưa ra
được giải pháp đồng bộ. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần tăng cường hoàn
thiện các văn bản pháp luật. Cần nâng cao chất lượng đào tạo trong nước bằng cách
tìm những người giỏi về chuyên môn nhưng cũng giàu kinh nghiệm thực tế để giảng
dạy. Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho các tổ chức nước ngoài vào đầu tư hoặc phối hợp
đào tạo, truyền đạt những trình độ, kinh nghiệm quốc tế cho nguồn nhân lực.

16

MỤC LỤC

I. PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ 1
II. LUẬN CHỨNG LÝ DO NÊU VẤN ĐỀ 2
1. Đòi hỏi khách quan của nền kinh tế 3
2. Thực trạng nguồn nhân lực kiểm toán 3
3. Một số nguyên nhân của tình hình trên 5
III. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SAI LẦM TRONG ĐỊNH HƯỚNG GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ 7
1. Nhìn nhận và giải quyết vấn đề chưa toàn diện 7
2. Phương pháp giải quyết chưa xuất phát từ thực tế khách quan 9
3. Nhận thức và xây dựng phương pháp giải quyết chưa đảm bảo nguyên tắc phát
triển 9
4. Bỏ ngoài nhận thức nguyên tắc lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn trong chỉ đạo hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status