ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ BÍCH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NUÔI TẠI
TRẠI LỢN NGUYỄN XUÂN DŨNG XÃ KHÁNH THƢỢNG
HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
: Chính quy
: Chăn nuôi Thú y
: Chăn nuôi Thú y
: 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ BÍCH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NUÔI TẠI
sống và sự nghiệp sau này.
Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng
của bản thân. Tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo, cô giáo
trong khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS. Phùng
Đức Hoàn, cùng với sự giúp đỡ của các kỹ sư, công nhân viên tại Trang trại
lợn Nguyễn Xuân Dũng xã Khánh Thượng - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội
đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các
thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của
thầy giáo hướng dẫn TS. Phùng Đức Hoàn đã trực tiếp hướng dẫn để tôi
hoàn thành khóa luận này.
Do trình độ bản thân có hạn nên bản khóa luận của tôi không tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi kính mong các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
đóng góp ý kiến để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Bích
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”. Giai đoạn
thực tập chuyên đề rất quan trọng đối với mỗi sinh viên củng cố và hệ thống
lại toàn bộ những kiến thức đã học, củng cố tay nghề. Đồng thời, tạo cho
mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng lực
Bảng 4.8. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi ................................. 43
Bảng 4.9. Chi phí thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi .................................. 44
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Khối lượng lợn con qua các kỳ cân................................................. 39
Hình 4.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm.................... 41
Hình 4.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm .................. 42
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
D
: Duroc
L
: Landrace
Nxb
: Nhà xuất bản
STT
: Số thứ tự
2.1.2.2. Chu kỳ động dục .................................................................................. 8
2.1.2.3. Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai................................ 11
2.1.3. Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái ....................................... 13
2.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của lợn nái ...................................... 14
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng của lợn con theo mẹ .......................................... 15
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 19
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 19
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 21
vii
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 22
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 22
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 22
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22
3.3.1. Công tác phục vụ sản xuất .................................................................... 22
3.3.2. Chuyên đề nghiên cứu ........................................................................... 22
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 22
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 23
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 23
3.4.3. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu ........................................................ 23
3.4.3.1. Các chỉ tiêu về sinh lí sinh dục .......................................................... 23
3.4.3.2. Các chỉ tiêu về số lượng ..................................................................... 24
3.4.4. Phương pháp xử lý ................................................................................ 25
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 28
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................... 28
4.1.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất ..................................................... 28
4.1.1.1. Công tác chăn nuôi ............................................................................. 28
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì nền nông nghiệp nước
ta đã và đang phát triển không ngừng. Bên cạnh ngành trồng trọt thì ngành
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng chiếm một vị trí quan
trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân
ngày càng được cải thiện, nhu cầu về thịt lợn của người tiêu dùng ngày một
nâng cao không chỉ về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng. Vì vậy, để có
đàn lợn giống và lợn thịt tốt, thích nghi rộng rãi, đạt chất lượng thịt xẻ cao,
được thị trường chấp nhận thì việc nhập các giống lợn ngoại, góp phần nâng
cao chất lượng đàn là một việc làm cấp bách của ngành chăn nuôi.
Để giải quyết vấn đề này, nước ta đang nhập một số giống lợn ngoại
năng suất cao như: Yorkshine, Landrace, Duroc… phong trào chăn nuôi lợn
ngoại đang phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn thực phẩm
có tỷ lệ nạc cao. Ngoài việc chăn nuôi lợn tại các hộ gia đình, đã hình thành
nhiều trang trại chăn nuôi lợn có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Các dòng và giống
lợn lai cao sản đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao năng
suất và tỷ lệ thịt nạc.
Như vậy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu sử dụng giống lợn ngoại để
sản xuất thịt lợn với khía cạnh sản xuất an toàn, sạch bệnh, có tỷ lệ nạc cao
phù hợp với nhu cầu thực tiễn của người tiêu dùng đặt ra hiện nay. Được sự
đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi
thực tập, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của
giống lợn nuôi tại trang trại lợn Nguyễn Xuân Dũng xã Khánh Thượng huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội”.
2
nhất thế giới.
Về sau công tác chọn lọc giống lợn Landrace ngày càng được tiến hành
chặt chẽ và đã tạo cho giống lợn Landrace ngày càng có nhiều đặc điểm quý
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Vào năm 1934, Bộ nông nghiệp Mỹ đã nhập 30 con lợn giống Landrace
của Đan Mạch về phục vụ công tác nghiên cứu giống lợn. Việc nhập giống
lợn này của chính phủ Mỹ đã là tiền đề cho việc tạo ra các giống lợn mới sau
này. Việc tạo ra giống lợn Landrace của Mỹ tiến hành với sự pha trộn thêm
1/16 đến 1/64 máu của giống lợn Poand China. Đến năm 1954, một đợt tiếp
theo nhập 38 lợn đực và cái giống lợn Landrace của Na Uy, Đan Mạch vào
Thụy Điển để làm tươi máu cho giống lợn Landrace Mỹ. Từ việc chọn lọc và
nhân giống này giống lợn Landrace Mỹ được cải tiến tốt hơn rất nhiều.
4
Mỗi một nước khi nhập giống lợn Landrace để phối tạo ra các dạng
giống lợn Landrace phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nước mình như
lợn Landrace của Bỉ có phần mông rất phát triển, lợn Landrace của Nhật thì dài
mình. Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba vào năm 1970. Trong các năm
1975 đến 1986 nhập Landrace từ Bỉ và Nhật (Trần Đình Miên, 1975) [14].
* Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Landrace có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa) màu lông
trắng tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to,
dài rủ xuống che cả mắt, bốn chân hơi yếu. Lưng vồng lên, mặt lưng bằng
phẳng, mông phát triển, tròn. Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú. Lợn Landrace là
giống lợn hướng nạc (Đặng Vũ Bình, 2000) [4] .
* Đặc điểm sinh trưởng:
Lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao. Tốc độ sinh trưởng nhanh,
tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối lượng
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục.
Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối.
Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có
phản xạ sinh tinh. Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành
thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày),
ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000) [11].
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cộng sự (2001)[22], cho biết
lợn Landrace thành thục về tính là 213,1 ngày.
Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống,
chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…
- Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội
thuần. Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt
50 - 55kg. Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7
6
tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg. Còn đối với lợn nội tuổi thành
thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi. Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt
Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày (Nguyễn Thiện và cộng sự,
1995) [18].
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992)[12],chỉ rõ. Chế độ dinh
dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái. Thường
những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm
hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi
trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188, 5 ngày
(6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự
thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234, 8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối
lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị
động dục lần đầu.
* Sự thành thục về thể vóc:
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể
chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc
thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính. Thành thục về tính được
đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên.
Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong
giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt. Vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,
nên chất lượng đời con kém. Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương
chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ. Điều này ảnh hưởng đến năng
suất sinh sản của lợn nái sau này. Do đó không nên cho phối giống quá sớm.
Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên
cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 110kg mới nên cho phối (Nguyễn Đức Hùng và cộng sự, 2003) [10].
8
2.1.2.2. Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ
thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có
hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn
bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng.
Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt
là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức
năng sinh lý. Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ
nên gọi là chu kỳ tính. Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục
về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu (Nguyễn Tấn
Anh, 1995) [1].
* Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày):
Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng
dần dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường. Các phản xạ về hưng
phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó
ăn uống. Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron.
Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn,
làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng
tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại.
* Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục. Thời kỳ này con vật
hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý
bình thường. Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bào bắt đầu
phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng toàn bộ cơ quan sinh
dục dần dần xuất hiện nhưng biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo.
Nếu lợn không có chửa, tử cung sinh sản ra hormone Prostaglandin làm
cho tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa. Tuyến yên lại được
giải phóng và lại sinh sản ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới.
10
Chu kỳ động dục của lợn nái thường từ 18 - 22 ngày, thời gian động
dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giống
trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất.
Đối với lợn Landrace thời điểm phối thích hợp vào cuối ngày thứ 3 đầu
ngày thứ 4 tính từ lợn ngày lợn bắt đầu động dục..
- Đối với lợn hậu bị nên cho phối giống sớm hơn lợn nái từ 6 - 8 giờ.
Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là lợn
đã có chửa. Có thể phân biệt lợn có chửa hay không qua một số biểu hiện bên
ngoài. Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngày
thể mới.
Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi. Tiếp theo
tới phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử. Trong
giai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng.
Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình
thành. Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các
tuyến nội mạc tử cung. Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy
chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng. Sau 7
- 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa có tác dụng
bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi. Màng niệu được hình
thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình trao
đổi chất.
Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai
chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn.
Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi
chỉ nặng 1 - 2 gam. Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu
là cực kỳ quan trọng. Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như:
tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh...) đều ảnh hưởng tới phôi thai, dễ
12
dẫn đến sảy thai. Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu,
lên men, mốc...) cũng gây hậu quả tương tự. Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối
với nái chửa trong 3 tuần đầu sau thụ tinh.
* Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày).
Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra
mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới. Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ
quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam.
* Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày).
đảm bảo cho cả nái mẹ và đàn con.
2.1.3. Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có nhiều chỉ tiêu song chỉ
tiêu số lượng lợn con đẻ ra/lứa, số con nuôi sống đến khi cai sữa là chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái. Các chỉ tiêu này
có liên quan mật thiết đến các chỉ tiêu khác như: tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa,
khoảng cách lứa đẻ, thời gian chờ phối…
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1280 - 72, TCVN 1282 - 79) thì có
4 chỉ tiêu giám định lợn nái sinh sản như sau:
- Số con đẻ ra còn sống (không tính những con có khối lượng dưới 0,2
kg lợn nội và 0,5 kg đối với lợn ngoại và lợn lai máu ngoại).
- Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi.
- Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi.
- Tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa thứ 2 trở đi.
Sức sinh sản của lợn nái là một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phẩm
giống. Khả năng sinh sản được biểu hiện qua những chỉ tiêu như: số con đẻ
ra/lứa, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ còi cọc, dị hình... khả năng sinh
sản cũng liên quan đến việc thành thục sớm hay muộn, thời gian mang thai.
Sinh sản là đặc trưng của tính di truyền ở mỗi phẩm giống gia súc (theo Trần
Đình Miên, 1975) [14].
14
Thông thường người ta đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái bằng
cách tính số con đẻ ra và số con sống trong một lứa, khối lượng sơ sinh, khối
lượng cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, độ đồng đều của các con trong lứa. Ngoài ra
cũng phải đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ. Do lợn nái không có bể sữa
do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể
tính lượng sữa bằng phương pháp gián tiếp thông qua khối lượng đàn con.
Theo Nguyễn Các (1996)[5], lợn con từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa
(tách mẹ) có nhiều đặc điểm sinh lý đặc trưng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc
nuôi dưỡng tốt. Nếu khi chăn nuôi, người chăn nuôi không nắm vững các đặc
điểm sinh lý của lợn con sẽ không nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn
đến sinh trưởng chậm, lợn không khỏe và chất lượng con giống kém.
Trong giai đoạn này, lợn con có những đặc điểm sinh lý đặc trưng
mà chúng ta cần quan tâm để có chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp
cho chúng.
- Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh:
Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể
trọng tăng dần theo tuổi.
Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, khối lượng của lợn con tăng từ 10 đến 12
lần. So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn
gấp nhiều lần. Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên
nhanh chóng. Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các
thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng. Hàm lượng sắt
trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 187 g % nhưng đến ngày thứ 20 giảm xuống
còn 40,58 g % sau đó tăng dần đến 60 ngày tuổi thì đạt bằng lúc mới đẻ ra. Một
đặc điểm quan trọng nhất của lợn con theo mẹ là: Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ
khi mới đẻ ra tới ngày thứ 15. Tại thời điểm này sản lượng sữa cao nhất và ổn
định cho tới ngày thứ 20 và sau đó giảm dần cho tới ngày thứ 60 là ở mức thấp
nhất. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, trong khi đó sữa mẹ sau