Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí quốc gia về chương trình xây dựng nông thôn mới so với chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH

Họ và tên tác giả luận văn: LÊ VĂN THẮNGTÊN

ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí Quốc gia về chương trình xây
dựngnông thôn mới so với chất lượng cuộc sống của dân
cư nông thôn:Trường hợpxã Đông Thạnh,huyện Châu
Thành, tỉnh Hậu Giang
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh –Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ và tên tác giả luận văn: LÊ VĂN THẮNGTÊNĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí Quốc gia về chương trình xây dựngnông thôn mới so
với chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn:Trường hợpxã Đông Thạnh,huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
Chuyên Ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402

LUẬNVĂN THÁC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCTS: NGUYỄN HOÀNG BẢO
Tp. Hồ Chí Minh –Năm 2015



iiiTÓM TẮT
Luận văn “Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí quốc gia về chương trình xây dựng nông
thôn mới so với chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn: Trường hợpxã Đông
Thạnh,huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang”nhằm phân tích, đánh giá mức độ đáp
ứng củađịa phương đối với 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn. Nghiên
cứu được thực hiện tại xã Đông Thạnh, một xã điểm xây dựng nông thôn mới của
tỉnh Hậu Giang. Từ kết quả đạt đượcđề xuất một số giải pháp phù hợp hơn trong
việc xây dựng nông thôn mới đối với huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.Nghiên
cứu được tiến hành qua 2 bước: Bước 1 nghiên cứu sơ bộ, bước 2 nghiên cứu
chính thức.Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính. Kỹ
thuật thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện ra
các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, là căn cứ quan trọng để đưa
raphươnghướng nghiên cứu. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương
pháp định lượng: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình nông thôn trên địa
bàn nghiên cứubằng phương pháp chọn mẫu ngẩu nhiênvà kích thước mẫu hợp lệlà
120 mẫu, dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê mô tả và so sánh.Kết
quả nghiên cứu cho thấy, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn
được cải thiện khi xây dựng đạt 19 tiêu chí quốc gia trong Bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới theo qui định của nhà nước. Tuy nhiên đời sống của người dân nông
thôn còn nhiều khó khăn, mứcthu nhập chưa bằng mức sinhhoạt bình quân tối
thiểu. Nhiều tiêu chí còn bất cập chưa phù hợpyêu cầu thực tế của địa phương. Kết
quả cứucòn xác định được nhu cầu hưởng thụ của người dân khi xây dựng đạt các
tiêu chí nông thôn mới như: Nhu cầu hưởngthụ về văn hóa, y tế.Kết quả nghiên
cứu này đưa ra giải pháp cũng như đề xuất kiến nghị cho chính quyền địa
phươngvà tham khảo trong việc chung tay xây dựng nông thôn mới, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự xã hội ở trên địa bàn huyện ChâuThành, tỉnh Hậu Giang.


2.3 Khái niệm về chất lượng cuộc sống.................................................................7
2.4 Một số nhân tố tác động đối với chất lượng cuộc sống....................................9
2.5 Phát triển nông thôn ở một số nước Châu Á..................................................10
2.5.1 Phát triển nông thôn ở Nhật Bản............................................................10
2.5.2 Phát triển nông nghiệp ở Đài Loan........................................................11
2.5.3. Phát triển nông nghiệp ở Hàn Quốc......................................................12
v2.6 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam............................................................13
2.6.1 Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới ..................................................13
2.6.2 Mục tiêu của xây dựng nông thôn mới....................................................14
2.6.3 Chức năng nông thôn mới.......................................................................14
2.6.4 Khó khăn –thách thức trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.......15
2.6.5 Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam..........................16
2.6.6Kết luận...................................................................................................18
CHƯƠNG 3.........................................................................................................21
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ -XÃ HỘI ĐỊA BÀN NGHIÊN
CỨU.............................................................................................................................
.213.1 Tổng quan về địa bàn nghiên
cứu...................................................................21
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện kinh tế -xã hội huyện Châu Thành và xã Đông
Thạnh....................................................................................................................21
3.1.2 Thực trạng về tình hình nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Châu
Thành..........................................................................................................24
3.1.3Tóm tắt chương 3....................................................................................26
CHƯƠNG 4.........................................................................................................27
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................................................27
4.1.Quy trình nghiên cứu......................................................................................27


4.2 Khung phân tích.............................................................................................28
4.3 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu..............................................................31

5.3.19 Mức độ đáp ứng nhu cầu về an ninh trật tự..........................................53
5.4 Giải pháp xây dựng nông thôn mới huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang......54
5.4.1 Điểm mạnh..............................................................................................54
5.4.2 Điểm yếu..................................................................................................55
5.4.3 Cơ hội......................................................................................................56
5.4.4 Thách thức...............................................................................................57
5.4.5 Một số giải pháp về xây dựng nông thôn mới huyện Châu Thành.........58
5.6 Mô phỏng phương án xây dựng nông thôn mới huyện Châu Thành đến năm
2020......................................................................................................................59
CHƯƠNG 6.........................................................................................................62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................62
6.1 Kết luận...........................................................................................................62
6.2 Đóng góp của luận văn...................................................................................62
6.3 Kiến nghị........................................................................................................63
Đối với người dân:................................................................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................65
PHỤ LỤC............................................................................................................68


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Nội dung chương mở đầu sẽ giới thiệu tổng quan về lý donghiên cứu; mục tiêu
nghiên cứu; câu hỏinghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; phương pháp
nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn củađề tài nghiên cứu.1.1 Đặt vấn đề và lý do
nghiên cứu“Nông nghiệp-nông dân-nông thôn” là 3 mấu chốt quan trọng trong
chínhsách “tam nông”. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
(X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn” có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế -xã
hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn,

thí điểm hoàn thành Bộ tiêu chíquốc giavề nông thôn mới, cụ thể là xã Đông
Thạnh.Tuy xã đã hoàn thành 19 tiêu chíquốcgia về xây dựng nông thôn mới nhưng
đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, chất
lượng cuộc sống của người dânchưa được cải thiện, nhiều tiêu chí thực hiện còn
bất cập chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Nhận thức được tính
cấp bách của vấn đề này, tôi đã chọn đề tài “Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí quốc gia
về chương trình xây dựng nông thôn mới so với chất lượng cuộc sống của dân cư
nông thôn:Trường hợpxã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang” để
nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp.1.2 Mục tiêu nghiên cứu1.2.1 Mục tiêu tổng
quátNhằm góp phần giúp cho địa phương thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng
và Chính phủ về vấn đề “nông nghiệp, nông dân và nông thôn” và xây dựng nông
thôn mới.1.2.2Mục tiêu cụ thểĐánh giá thực trạng các tiêu chí nông thôn mới trên
địa bàn xã Đông Thạnh,huyện Châu Thành.Xác định mức độ đáp ứng bộ tiêu chí
quốc gia về chương trình xây dựng nông thôn mới xã Đông Thạnh, huyện Châu
Thành.Đề xuấtcác giải pháp phù hợp trongquá trình xây dựng xã nông thôn mới,
nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm phổ biến cho các vùng tương tự.
31.3 Câu hỏinghiên cứuThực trạng xây dựng nông thôn mới ở xã Đông
Thạnh, huyện Châu Thành hiện nay ra sao?Mức độ đáp ứng của 19tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới đối với xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành ra sao?Đời
sốngvật chất và tinh thầncủa người dân nông thôn xã Đông Thạnh, huyện Châu
Thành, tỉnh Hậu Giang có đượctốt hơn.Saukhi thực hiện đạt 19 tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới?1.4Đối tượng và phạm vi nghiên cứu1.4.1 Đối tượng nghiên
cứuNhững cán bộ trong ban chỉ đạo, ban quản lý xã, ban phát triển ấp thực hiện
chương trìnhmục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của xã Đông Thạnh,
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, các cán bộ phụ trách các lĩnh vực cón liên
quan đến nội dung tiêu chí và những người dân am hiểu tình hình địa phương ở các
ấp được chọn để khảo sát. 1.4.2 Phạmvi nghiên cứuĐề tài chọn xã Đông Thạnh,
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang vì đây là một trong những xã được tỉnh chọn
làm xã điểm trong xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn
mới.1.5 Phương pháp nghiên cứuĐề tài nghiên cứu thực hiện qua 2 bước:Bước

sẽ trình bàykhung phân tíchvà phương pháp nghiên cứu.Chương 5: Kết
qủanghiên cứuTrình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ, phân tích thống kê mô tả và so
sánh dữ liệu nghiên cứu. Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí quốc gia về chương trình xây
dựng nông thôn mới so với chất lượng cuộc sống dân cư nông thôn xã Đông
Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
5Chương 6: Kết luận và kiến nghịĐánh giá tổng quan toàn bộ kết qủanghiên cứu,
từ đó đưa ra một số giải pháp có tính chất gợi ý, khuyến nghị khithực hiện 19 tiêu
chí quốc gia về chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Châu Thành, tỉnh
Hậu Giang sao cho các tiêu chíđáp ứng tốt hơn, phù hợpthực tế ở địa phương,chất
lượng cuộc sống của dân cưnông thôn được nâng lên.Đồng thời, nêu lênnhững hạn


chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.1.8Tóm
tắtChương 1Vấn đề xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớnphù hợp cho
việc phát triển kinh tế nông thônViệt Namđược phần lớn người dân nông thôn
nhiệt tình hưởng ứng và tham gia thực hiện. Thu hút sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu tuy rằngxây dựng nông thôn mới có sự khác nhau ởmỗi quốc gia về cơ
chế chínhsách, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ dân trí... Nhưng có mục
tiêu chung nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thầndân cư nông thôn. Người
dân được hưởng thụ nhiều hơn, có cảnhquanmôi trường được tốt hơn, tình hình an
ninh chính trị, trậttự an toàn xã hội ở vùng nông thôn được ổnđịnh và giữ vững.Vì
vậy Chương 1 đã đưa ra lý do nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cần được
thực hiện là “Mức độ đáp ứng 19 tiêu chí Quốc gia về chương trình xây dựng nông
thôn mới so với chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn: Trường hợp huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang”.Chương 1 đã nêu ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi
nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứucũng như ý nghĩa và bố cục luận văn đã
được trình bày ở cuối chương


6CHƯƠNG 2CƠ SỞ LÝ THUYẾTChương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm

mong muốn công nghiệp hóa dựa trên rút trích thặng dư từ nông nghiệp, Với cách
hiểu này, mục tiêu phát triển nông thôn của hầu hếtcácquốc gialà khuyến khích
nông nghiệp của nông trại qui mô nhỏ.2.3 Khái niệm về chất lượng cuộc sốngTheo
TS. Hồ Bá Thâm ( 2015), khái niệm chất lượng cuộc sống. Hoạt động của con
người có hai mặt: Hoạtđộng trên lĩnh vực xã hội như lao động sản xuất, hoạt động
chính trụ, xã hội, giáo dục, văn hóa và hoạt động cá nhân phục vụ cuộc sống cá


nhân như: ăn, ngủ, đi lại, quan hệ gia đình, bè bạn, vui chơi, thể hiện
quyền tự do cá nhân...Lĩnh vực thứ hai này là thuộc về phạm trù cuộc sống.Sống
là một quá trình làm nảy sinh nhu cầu và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân trong quan
hệ với cộng đồng. Sống cũng là quá trình xác lập giá trị sống và kỹ năng sống.
Nhưng mức độ thỏa mãn về lượng và về chất là khác nhau. Theo Bách khoa toàn
thư mở Wikipedia: Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị
tinh thần. Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc
sống cho con người là một nỗ lực của các nhà nước (chính phủ), xã hội và cả cộng
đồng quốc tế. Thuật ngữ chất lượng cuộc sống được sử dụng trong một loạt các
ngữ cảnh bao gồm các lĩnh vực phát triển quốc tế, y tế, sức khỏe và thậm chí là về
mặt chính trị.Chất lượng cuộc sống không nên nhằm lẫn với khái niệm về mức
sống, mà tiêu chí là chủ yếu dựa vào thu nhập. Thay vào đó, chỉ số tiêu chuẩn về
chất lượng của cuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sự giàu có và việc làm,
mà còn là môi trường xã hội, môi trường sống, sức khỏe (về chất thể) và tinh thần,
giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư.Chất lượng cuộc sống cũng không nên
nhầm với chất lượng cuộc sống, một khái niệm chỉ về các chỉ số sức khỏe của con
người. Ngoài ra chất lượng cuộc sống thường xuyên liên quan đến những khái
niệm trừu tượng và đậm màu sắc chính trị như tự do, dân chủ, nhân quyền, dân
quyền. Ngoài ra nó cũng liên quan đến chỉ số hạnh phúc, tuy nhiên, vì hạnh phúc là
yếu tố mang tính chất chủ quan và khó để đo lường, thống kê, người ta không thể
cân đong đo điếm được và không nhất thiết phải là sự giàu có, tăng thu nhập mới là
sự hạnh phúc, thoải mái và mức sống khôngnên được coi là một thước đo duy

khỏe, y tế và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng choy tế), và một số
tiêu chí khác như chỉ số calo bình quân đầu người –phản ánh tình trạng no đủ và
chất lượng bữa ăn đầu người, điều kiện sử dụng điện sinh hoạt, sử dụng nước sinh
hoạt (nước sạch, nước lọc, nước máy, nước ngầm, nước giếng...) là vấn đề cơ bản
và cấp thiết của con người, điều kiện về nhà ở, chỗ ở của con người (bao gồm diện
tích nhà ở và chất lượng nhà ở), ngoài ra còn có các công trình công cộng, xã hội
khác như công viên, nhà vệ sinh công cộng,
9nhà ở xã hội... và các công trình phúc lợi công cộng khác phục vụ cho cuộc sống
vật chất và tinh thần của con người.Theo Liên Hiệp Quốc: Có lẽ biện pháp quốc tế
được sử dụng phổ biến nhất để đo lường chất lượng cuộc sống là các chỉ số phát
triển con người (HDI), với các nội dung cơ bản về tuổi thọ, giáodục và mức sống
như là một nổ lực để nâng cao cuộc sống có cho các cá nhân trong một xã hội nhất
định. HDI được sử dụng bởi Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc trong
báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đây là một tiêu chí tổng hợp
phảnánh chất lượng cuộc sống.Trong khi đó, WHO đã đưa ra tiêu chí chất lượng
cuộc sống, mức độ hạnh phúc gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đo một số tiêu chí
với ba nhóm là: 1. Mức độ sảng khoái về chất gồm: Sức khỏe, tinh thần, ăn, uống,
ngủ, nghỉ, đi lại (giao thông, vận tải), thuốc men (Y tế, chăm sóc sức khỏe); 2. Mức
độ sảng khoái về tâm thần: yếu tố tâm lý, yếu tố tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo); 3.
Mức độ sảng khoái về xã hội gồm: các mối quan hệ xã hội kể cả quan hệ tình dục,
môi trường sống (bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa,
chính trị... và môi trường thiên nhiên).2.4 Một số nhân tố tác động đối với chất
lượng cuộc sốngNhững nhân tố chung tác động đến chất lượng cuộc sống thể hiện
ra một hệ thống các nhân tố cụ thể, có thể quan sát được. Theo chúng tôi đó là: 1.


Việc làm, năng suất lao động, thu nhập; 2. Phương tiện đi lại, hạ tầng giao thông,
thái độ ý thức của người vận hành phương tiện giao thông; 3. Sức khỏe, dịch vụ
chữa bệnh, nơi nằm chưa bệnh, thuốc men, thái độ củabệnh viện, khả năng tự chăm
sóc của bệnh nhân, gia đình; 4. Dịch vụ học tập, phương tiện học hành, thái độ và

nông thôn, chính phủ Nhật Bản đã nắm vai trò chủ đạo, mạnh dạng đầu tư xây
dựng cơ sở hạtầng nông thôn, xây dựng đường đưa điện, nước, điện thoại... đến
từng nhà dân, cải thiện môi trường, miễn phí hoàn toàn giáo dục sơ đẳng, tạo dựng


cơ sở để thành thị và nông thôn tác động tốt với nhau, phát triển cân bằng bền
vững. Ngày nay đời sống vùng nông thôn ở Nhật Bản không khác gì nhiều so với
thành thị.-Khi bắt đầu công nghiệp hóa, 80% số nhà máy lớn được xây dựng ở
nông thôn. Công nghiệp Nhật Bản luôn ưu tiên phục vụ phát triển nông nghiệp mà
nhất là sản xuất vật tư và máy móc cho nông nghiệp và xen nông nghiệp –nông
thôn là thị trường lớn để tích lũy cho công nghiệp. Nhờ đó, nông nghiệp Nhật Bản
được cơ giới thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ, có đủ phân và thuốc để thâm
canh. Cũng chính nhờ phục vụ tốt cho nông nghiệp nên ngành cơ khí chế tạo máy
nông nghiệp Nhật Bản có thể xuất khẩu máy móc nông nghiệp cho các nước đang
phát triển.
112.5.2 Phát triển nông nghiệp ở Đài LoanVào những năm 50 của thế kỷ
trước, Đài Loan đã dồn sức phát triển nông nghiệp, tự cung cấp đủ lương thực
và có dư. Sau khi vấn đề lương thực được bảo đảm, từ năm 1963 trở đi Đài Loan
bắt đầu tập trung phát triển công nghiệp nhẹ. Sự tập trung phát triển công nghiệp
giai đoạn này dẫn đến sự mất cân bằng, thiếu bền vững, một số nơi của Đài Loan
có dấu hiệu xem thường duy trì phát triển nông nghiệp. Đến năm 1969, sản xuất
nông nghiệp trở nên xuống dốc, kéo theo sự giảm sút, phá sản trong sản xuất công
nghiệp. Điều này khiến chính phủ Đài Loan bắt buộc phải điều chỉnh chính sách,
tức chuyển từ phương châm “nông nghiệp hỗ trợ công nghiệp” sang “công
nghiệp hỗ trợ nông nghiệp”. Đài Loan đã đưa ra chính sách cụ thể là từ năm 1974,
bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, thực hành chính sách thu mua
đảm bảo giá cả đối với các nông sản phẩm như lúa, gạo,tăng cường đầu tư vào các
hạng mục công trình công cộng nông thôn, bao gồm thủy lợi, rừng chắn gió, đường
và nước máy; mở rộng cơ giới hóa nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp;
tăng cường nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, phát triển nông nghiệp công nghệ

đó là những giá trị xuyên xuốt quá trình phát triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn
Quốc nói chung được công nhận đã góp công lớn đưa tổng sản phẩm quốc dân
bìnhquân từ 85 USD lên 20.000 USD sau 30 năm phát triển.Phong trào NTM ở
Hàn Quốc trải qua 5 giai đoạn:1. Giai đoạn cải thiện điều kiện cư trú của nông dân
(1971-1973). Trọng điểm của thời kỳ này là cải thiện điều kiện ăn ở của người dân,
Chính phủ hỗ trợ cho nông dân các vật tư xây dựng như xi măng, cốt thép...địa
phương tự xây dựng.2. Giai đoạn nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân
(1974-1976). Ở giai đoạn này, phong trào NTM bắt đầu mở rộng theo hướng đô thị
hóa, tập trung xây mới và sửa chữa các côngtrình công cộng như nhà họp, công
trình nước máy, khuyến khích xây mới nhà ở và phát triển kinh doanh đa dạng,
tăng cường giáo dục nông thôn mới nhờ lực lượng chỉ đạo viên, cán bộ Chính phủ,
người phục trách đoàn thể xã hội.3. Giai đoạn đi sâu vào sản xuất nông thôn, hạn
chế tác động của Chính phủ (1977-1980). Phát triển các ngành nuôi trồng, chế biến
nông sản phẩm và nông nghiệp đặc sản phát triển nhanh chóng, Chính phủ tiếp tục
cung cấp nguyên liệu xây dựng để mở ra các khu khai thác công nông và các công
trình văn hóa nông thôn...4. Hoàn thiện và mở rộng phong trào NTM (1981-1988).
Lúc này, Chính phủ điều chỉnh các chính sách và biện pháp thực hiện phong trào
NTM, khuyến khích người nông dân tự chủ triển khai xây dựng hiện đại hóa nông
thôn. Trong giai đoạn này, Chính phủ xây dựng và hoàn thiện tổ chức của phong
trào NTM trên toàn quốc, định ra kế hoạch phát triển và làm tốt việc cung cấp tài


chính, vật lực và hỗ trợ về kỹ thuật để phát triển NTM, phối hợp tốt các công tác:
đào tạo, thông tin, tuyên truyền...
135. Sau 1988 đến nay, thông qua phong trào NTM, Hàn Quốc đã hoàn tất phát
triển hạ tầng cơ sở ở nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị,
nâng cao trình độ tổ chức của nông dân, cuộc sống của người nông dân đạt đến
mức khá giả, nông thôn đã bắt kịp tiến trình hiện đại hóa của cả nước Hàn
Quốc.Bài học rút ra từ Hàn Quốc-Chính phủ nắm vai trò chủ đạo trong tiến trình
phát triển nông thôn ở Hàn Quốc. Chính phủ lấy vật chất và chính sách để kích


chưa am hiểu về NTM là gì. Phần lớn cán bộ, công chức thực hiện chương trình
NTM là kiêm nhiệm thiếu chuyên nghiệp.
16-Năng lực sản xuất của người nông dân còn thấp và cần được nâng cao, bên cạnh
đó sản xuất nông nghiệp cũng là hoạt động kinh doanh đầy rủi ro gây ra bởi thiên
tai, dịch bệnh, thị trường. Do vậy, nên tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ, xác
định nhu cầu của người nông dân và khả năng thực sự hiện nay của họ dựa trên sự
đối thoại và các nghiên cứu.2.6.5Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt
NamTheo Nguyễn Đăng Khoa (2013), xây dựng nông thôn mới cần tập trung vào 4
nhómvấn đề lớn:-Thứ nhất, trong việc nhận thức xây dựng nông thôn mới, đây là
vấn đề liên quan tới cộng đồng, cần tăng cường truyên truyền vận động thuyết
phục và làm rõ vai trò chủ thể của người nông dân. Xây dựng nông thôn mới là
một phong trào, một quá trình dài hạn. Phải thống nhất phương châm "Người dân
làm, Nhà nước hỗ trợ” thay cho khẩu hiệu “Nhà nước Nhân dân cùng làm”.-Thứ
hai, cần phải quan tâm đến cấp cơ sở một cách quyết liệt; quan tâm động viên
khích lệ các phong trào thi đua, tập trung phát triển sản xuất, thu hút sự đầu tư của
các doanh nghiệp.-Thứ ba, trong việc ban hành cơ chế, chính sách, cần phải


khuyến khích chính sách địa phương trồng lúa.-Thứ tư, cần rút ra bài học kinh
nghiệm, đó làlấy xây dựng là tiền đề và luôn đặt lợi ích của người dân là mục tiêu
cao nhất.
Ngoài ra việctriển khai Nghị quyết Trung ương 7, khóa X về nông
nghiệp -nông dân -nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới, giai đoạn 2010-2020 do Chính phủ xâydựng đến tất cả các xã trên phạm vi
toàn quốc, theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa
phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy
chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do
chính cộng đồng người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ
chức thực hiện. Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình
mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác

thể của người nông dân (bao gồm cả vị thế chính trị, kinh tế). Đây là nhóm dân số
đông nhất nước ta hiện nay, là giai cấp đã cùng với giai cấp công nhân Việt Nam đi
suốt chiều dài lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nông thôn là khu vực rộng
lớn nhất, đa dạng dân cư, đa dạng văn hóa truyền thống,nên cần có cách tổ chức
vận động phù hợp. Cần quyết định lựachọn một cách khoa học, sát thực tế với từng
địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên làm trước; trong đó, kiên trì quy
hoạch và bổ sung quy hoạch lại nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới
và phải đi trước một bước. Từ quy hoạch tổng thể, phân khu chức năng đến quy
hoạch chi tiết, tôn trọng quá trình tích lũy nhiều đời quy hoạch làng quê Việt Nam;
hạn chế tối đa gây xáo trộn, tốn kém, gây tâm lý không tốt, không thiết thực khi
quy hoạch. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về xây dựng nông
thôn mới, cần tập trung giải quyết tốt việc quy hoạch xây dựng các điểm dân cư
nông thôn, bao gồm cải tạo các làng cũ, xây dựng làng mới, quy hoạch tổng thể xã,
thị trấn, xây dựng các thị tứ; quản lý xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn, giải
quyết các vấn đề chính sách xã hội, duy trì trật tự, an ninh và xây dựng nếp sống
văn hóa.Nâng cao về vai trò của cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị -xã hội
trong việc xây dựng nông thôn mới, Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn
mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Phải khẳng định điều này vì chăm lo đời
sống toàn dân, phát triển kinh tế -xã hội, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh là chủ trương xuyên suốt trong quà trình lãnh đạo
của Đảng. Mục tiêunày càng được làm rõ hơn qua mỗi thời kỳ Đại hội toàn quốc
của Đảng, thể hiện qua những cương lĩnh, chủ trương, chính sách. Do đó, có thể
nói, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 20102020 cần toàn xã hội tập trung một cáchcó hệ thống về quyết tâm và nguồn lực, đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ,
sự chung tay góp sức của các cá nhân, tổ chức để cùng tạo ra sự phát triển mới,
góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.2.6.6Kết luận2.6.6.1
Mặt làm đượcCông tác tuyên truyền, vận động được cả hện thống chính trị từ trung
ương đến địa phương phát động bằng nhiều phong tràothiết thực, tạo nhiều luồn
sinh khí mới cho nông dân, phong trào thi đua đã phát huy hiệu qủa nhiều mô hình
mới, cách làm hay: Phong trào“toàn dân đoàn kết xây dựng khudân cư gắn với xây

trông chờ vào sựđầu tư của trên, thiếu sự năng động, sáng tạo. Việc xây dựng đế án
phát triển sản xuất nâng cao thu nhập của người dân ở một số xã chưa quan tâm
đúng mức.Hướng dẫn của một số sở ngành ở địa phương chưa thật cụ thể, rõ ràng,
một mặtdo trung ương chưa có hoặc hướng dẫn chung chung, một mặtchưa đầu tư
nghiên cứu kỹ gắn vớiđiều kiện thực tế ở địa phương, dẫn đến trong triển khai thực
hiện ở một số địa phương cònlúng túng, đề ra kế hoạch chưa sát với từng nội dung
tiêu chí.Bên cạnh đó bộ máy giúp việcBan Chỉ đạo các cấp đều chưa có cán bộ
chuyên trách nên công tác tham mưukhôngđược phát huy tốt, các sở ngành địa
phương chưa phâncông cán bộ tham mưu cho lãnh đạo ngành phụ trách các tiêu
chí, cho nên chế độ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status