BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
********
Huỳnh Thị Thu Hiền
PHÂN TÍCH
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU
CỦA CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Bùi Văn Trịnh
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Số liệu được nêu
trong luận văn là trung thực và có trích nguồn.
Người thực hiện
Huỳnh Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
2.1.1 Sơ lược về các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
............................................................................................................................ 27
2.1.2 Thực trạng hoạt động tín dụng của các chi nhánh NHTM trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Long....................................................................................... 28
2.2 Phân tích thực trạng nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Long .......................................................................................... 32
2.2.1 Phân tích chung tình hình nợ xấu.......................................... 32
2.2.2 Phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu của các
chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long thời gian qua............................ 36
2.3 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các chi nhánh
NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long .............................................................. 39
2.3.1 Phân tích thông tin cơ bản của khách hàng doanh nghiệp qua
mẫu khảo sát ....................................................................................................... 39
2.3.2 Kiểm định tính phù hợp của mô hình .................................... 47
2.3.3 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu .................... 48
Kết luận chương 2 .................................................................................. 54
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh
NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long .............................................................. 55
3.1 Định hướng quản lý nợ xấu tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Long .................................................................................................. 55
3.2 Một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh NHTM
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long ............................................................................ 57
3.2.1 Các giải pháp liên quan đến lãi suất....................................... 57
3.2.2 Các giải pháp liên quan đến số tiền vay................................. 58
3.2.3 Các giải pháp liên quan đến giá trị tài sản đảm bảo tiền vay.
............................................................................................................................ 58
3.2.4 Các giải pháp liên quan đến kinh nghiệm kinh doanh của người
quản lý doanh nghiệp ......................................................................................... 59
đồng đô la Mỹ
AMC
Công ty quản lý tài sản
CIC
Trung tâm thông tin tín dụng
AEG
Nhóm chuyên gia tư vấn
BCBS
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng
IAS
Chuẩn mực kế toán quốc tế
IMF
Quỹ tiền tệ thế giới
HĐQT
Hội đồng quản trị
Tình hình huy động vốn của các NHTM trên địa
bàn
Tình hình cho vay của các NHTM trên địa bàn
28
33
Bảng 2.5
Tình hình nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của các NHTM
trên địa bàn
Tình hình nợ xấu theo các tiêu chí
Bảng 2.6
Tình hình lãi suất tiền vay doanh nghiệp phải trả
39
Bảng 2.7
Tình hình số tiền vay của khách hàng vay được
40
Bảng 2.8
Tình hình giá trị tài sản đảm bảo tiền vay
Bảng 2.14
Kiểm định tính phù hợp tổng quát của mô hình
47
Bảng 2.15
Mức độ chính xác của dự báo
48
Bảng 2.16
Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nợ
xấu
49
Bảng 2.3
Bảng 2.4
30
34
43
PHẦN MỞ ĐẦU
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nợ
xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” để nghiên cứu
trong thời gian làm luận văn thạc sĩ.
2. MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu là xác định những nhân tố và tìm ra
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến nợ xấu tại các chi nhánh NHTM trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Long trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
trong thời gian tới.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện mục tiêu chung như trên thì đề tài có 3 mục tiêu cụ thể
như sau:
- Đánh giá thực trạng nợ xấu, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến tình
hình nợ xấu tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long trong thời
gian qua.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của những nhân tố đến tình hình nợ xấu
tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh
NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi về không gian
Thông tin sử dụng trong đề tài là số liệu được nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh
Long. Đối tượng nghiên cứu là các chi nhánh NHTM và doanh nghiệp có vay
vốn đang hoạt động trên địa bàn.
3.2 Phạm vi về thời gian
Các số liệu đề tài sử dụng là từ năm 2007 đến năm 2011.
đang vay vốn tại các ngân hàng theo địa bàn huyện, thành phố trong tỉnh Vĩnh
Long. Để đảm bảo cho việc chọn mẫu mang tính ngẫu nhiên, phân tầng tác giả
đã chia tổng thể các doanh nghiệp trên địa bàn theo 3 địa bàn đã được chọn
trước. Sau đó, tác giả căn cứ vào tỷ lệ doanh nghiệp ở từng địa bàn để chọn ra
số mẫu tương ứng, công việc chọn mẫu được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 1: Doanh nghiệp đƣợc khảo sát theo địa bàn
Địa bàn
Thành phố Vĩnh Long
Tổng thể (doanh
nghiệp)
495
59,28
Mẫu (doanh
nghiệp)
77
Tỷ lệ (%)
Huyện Long Hồ
211
25,27
33
Huyện Mang Thít
- Đối với mục tiêu 1 sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích.
- Đối với mục tiêu 2 sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Logistic
nhị nguyên để phân tích.
- Đối với mục tiêu 3 diễn dịch kết quả phân tích ở mục tiêu 1 và 2 để
làm căn cứ đề xuất giải pháp.
5. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
các từ viết tắt thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của NHTM;
Chương 2: Phân tích thực trạng nợ xấu và những nhân tố ảnh hưởng
đến nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh
NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
6. CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
(1) Phạm Phú Nhân (2011), Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng của
NHTM, tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 10/2011, trang 29-31.
Tác giả đã mã hóa 34 nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng tại
NHTM đưa ra ban đầu trong phiếu điều tra. Qua phân tích các nhân tố
Explore Factor Analysis (EFA) và kiểm định Cronbach Alpha, tác giả tổng
hợp các nhân tố chính và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng rủi ro tín dụng tại
các NHTM gồm có 5 nhân tố chính: áp lực chỉ tiêu; quy định quản lý tài sản
tại địa phương; khách hàng chưa hợp tác và phê duyệt, kiểm soát thiếu chặt
chẽ; ảnh hưởng môi trường kinh tế vĩ mô; chính sách cho vay thiếu khoa học.
(2) Võ Thị Hồng Nhung (2012), Phân tích những nhân tố ảnh hưởng
đến rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn thành phố Cần Thơ, luận văn
thạc sĩ kinh tế.
Luận văn nghiên cứu tổng quan về NHTM và rủi ro tín dụng. Tác giả
1
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU CỦA NHTM
1.1 CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU CỦA NHTM
Hoạt động của các NHTM có nhiều loại nghiệp vụ khác nhau, trong đó
có các nghiệp vụ chủ yếu như sau:
1.1.1 Nghiệp vụ tài sản có
Với nguồn vốn có được, ngân hàng sử dụng cho các hoạt động sau:
thiết lập dự trữ, cấp tín dụng, đầu tư tài chính, sử dụng vốn cho các mục đích
khác.
Trong đó cấp tín dụng bao gồm các nghiệp vụ cho vay (ngắn, trung và
dài hạn); chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá; cho thuê tài chính; bảo
lãnh, bao thanh toán,…
1.1.2 Nghiệp vụ tài sản nợ
Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng .
Các nguồ n vố n của NHTM bao gồ m : vốn điều lệ và các quỹ , vốn huy động,
nguồn vốn đi vay, nguồn vốn khác.
1.1.3 Nghiệp vụ trung gian
Đây là các dịch vụ mà khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận
được các khoản hoa hồng và lệ phí như: dịch vụ ngân quy,̃ dịch vụ ủy thác.
Trong các hoạt động nghiệp vụ của NHTM thì hoạt động cho vay luôn
giữ vai trò quan trọng trong việc mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các
NHTM trong thời gian qua. Tuy nhiên hoạt động này cũng tiềm ẩn rất nhiều
rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, làm cho nợ xấu của các ngân hàng có nguy
cơ tăng cao nếu công tác quản trị rủi ro không được các ngân hàng quan tâm
đúng mức.
3
điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ
đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ như
giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ
quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002). BCBS đặc
biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai”
(expected loss) khi đánh giá một khoản vay. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu
sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu
người đi vay không trả được nợ. Tuy nhiên, một vài quốc gia báo cáo nợ xấu
bao gồm các khoản nợ quá hạn 31 ngày quá hạn, hoặc báo cáo các khoản nợ
quá hạn 61 ngày được tính vào danh mục nợ xấu (Bloem & Gorter, 2004).
Chính vì mốc thời gian quá hạn 90 ngày là một tiêu chí khá phổ biến nhưng
không phải thống nhất hoàn toàn, việc đánh giá và so sánh số liệu nợ xấu giữa
các quốc gia cần phải hết sức thận trọng và được kiểm tra kỹ lưỡng các quy
định cụ thể định tính và định lượng ở từng quốc gia.
Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các
khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu
(nonperforming). Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (đoạn 58 - 70) được
khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng
cần có bằng chứng khách quan (objective evidence) để xếp một khoản vay có
dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được
ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra.
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng cũng đề cập đến các khoản vay bị
giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay
là không thể. Giá trị tổn thất gây ra sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá
trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo
cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ
ví dụ khi suy thoái kinh tế hoặc khi công nghệ thông tin có sự thay đổi mạnh.
Thêm vào đó, trong định nghĩa của IMF, phần thứ hai của nợ xấu sẽ không
5
được tính là nợ tốt kể cả khi thay thế nó bằng một khoản nợ mới
(Angkloomkliew và cộng sự, 2009).
Riêng tại Việt Nam, nợ xấu được quy định như sau:
- “Nợ ngân hàng” bao gồm các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và
cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy
tờ có giá khác; các khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác.
- “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi
đã quá hạn.
- “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dưới
tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Các tổ chức tín dụng được
yêu cầu phân loại nợ theo phương pháp định lượng, trong đó các khoản nợ
xấu nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên; các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu; các khoản nợ được miễn hoặc
giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín
dụng. Các khoản nợ được phân loại nợ theo phương pháp định tính và nợ xấu
thuộc nhóm 3, 4, 5 bao gồm các khoản nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), bao gồm
nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn; nợ
nghi ngờ (nhóm 4), bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao; và
nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) bao gồm nợ được đánh giá là không còn
khả năng thu hồi, mất vốn.
Như vậy khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các NHTM Việt Nam và
thông lệ quốc tế, có thể thấy về mặt định lượng thời gian trả nợ quá hạn từ 91
ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tương
đồng. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn nợ xấu thì yếu tố định tính xem
năng trả nợ của khách hàng.
Bên cạnh các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động
kinh doanh có hiệu quả. Cũng còn có không ít các doanh nghiệp có tình hình
tài chính không tốt, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, vay nợ chiếm tỷ
7
trọng cao trong tổng nguồn vốn và khả năng dự báo thị trường yếu vẫn được
ngân hàng cho vay, thậm chí được vay với số tiền rất lớn. (Trần Chí Chinh,
2012)
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch. Quy mô
nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, cơ cấu tài chính thiếu cân đối là đặc điểm
chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Công tác quản lý tài chính kế
toán còn tùy tiện, thiếu đồng bộ, mang tính đối phó, làm cho thông tin ngân
hàng có được không chính xác, chỉ mang tính chất hình thức. Do đó, khi cán
bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số
liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và sai lệch quá
nhiều, rủi ro xảy ra là lẽ đương nhiên. (Nguyễn Đăng Dờn, 2012)
- Đạo đức, uy tín, năng lực quản trị, sản xuất kinh doanh và kinh
nghiệm của ngƣời vay
Đây là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến khả năng hoàn
trả nợ vay. Điều này liên quan đến việc sử dụng vốn vay, tổ chức quản lý
phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm tạo nguồn trả nợ cho ngân
hàng. Với những khách hàng thiếu thiện chí, trình độ, năng lực quản trị kém,
kinh nghiệm non yếu dễ dẫn đến việc sử dụng vốn sai mục đích, gây thất
thoát vốn và thường dây dưa trong việc trả nợ cho ngân hàng.
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án
kinh doanh cụ thể, khả thi, nếu không kiểm tra, phân tích xem, có thể bị rủi
ro. Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng
năng thẩm định, cho vay, thu nợ và quản lý rủi ro cũng sẽ làm quá tải và tăng
nguy cơ xảy ra rủi ro đạo đức ở cán bộ làm công tác tín dụng.
- Năng lực của cán bộ tín dụng còn yếu và rủi ro đạo đức của cán
bộ ngân hàng
Nếu cán bộ tín dụng không có được năng lực dự báo, phân tích ngành,
phân tích tài chính, phát hiện và xử lý các khoản vay có vấn đề thì sẽ dẫn đến
9
việc ra quyết định cho vay mang tính cảm tính, được đưa ra trên cơ sở thông
tin không được cân nhắc đầy đủ hoặc phiến diện như chỉ dựa vào tài sản thế
chấp hay bản thân phương án kinh doanh mà bỏ qua năng lực tài chính của
doanh nghiệp, sẽ dẫn đến rủi ro.
Bộ phận tín dụng là nơi trực tiếp thẩm định dự án vay vốn và khả năng
trả nợ của khách hàng cũng như trực tiếp kiểm tra khách hàng, tài sản thế
chấp, giám sát giải ngân, kiểm tra sử dụng vốn vay, là đầu mối tiếp xúc với
khách hàng nên nếu đạo đức nghề nghiệp không tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng món vay và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng.
- Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng
Việc định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng không
chỉ làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn không khuyến khích khách hàng
cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định đầu tư, làm thiếu hụt nguồn bù đắp rủi ro của
ngân hàng và làm tăng mức độ rủi ro từ cả hai phía ngân hàng và khách hàng.
Chính sách lãi suất không khoa học đã để ngân hàng ở hai thái cực: (1) cho vay
dễ dãi với lãi suất thấp, không đủ nguồn bù đắp rủi ro mà phải từ 7 đến 10 năm
sau mới bộc lộ, (2) đến khi hết nguồn thì yêu cầu lãi suất cho vay cao cộng với
nhiều điều kiện khắt khe dẫn đến mất dự án có độ an toàn và chấp nhận khách
hàng có độ rủi ro cao.
- Thiếu giám sát, quản lý sau khi cho vay và không đa dạng hoá
nhân lực sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn và gián tiếp tăng nguy cơ
rủi ro đạo đức ở cán bộ tín dụng.
- Sự hợp tác giữa các NHTM không chặt chẽ, vai trò của Trung
tâm thông tin tín dụng (CIC) chƣa thực sự hiệu quả
Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách
hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài
chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn
11
tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân
hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì
rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào.
Hiện nay CIC thuộc NHNN Việt Nam là tổ chức duy nhất thực hiện
việc thu thập và lưu trữ thông tin các khách hàng có quan hệ tín dụng với hệ
thống ngân hàng Việt Nam. Nhưng thực tế, các thông tin do CIC cung cấp có
độ cập nhật không cao và còn thiếu rất nhiều các chỉ tiêu quan trọng liên quan
đến khách hàng như lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng, khả năng tài
chính hiện tại của khách hàng, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ điều hành
doanh nghiệp được cấp tín dụng… (Trần Chí Chinh, 2012)
1.2.2.3 Nhóm nhân tố khách quan
- Chu kỳ kinh tế
Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, các ngành nói chung đều kinh doanh
thuận lợi hơn, tỷ lệ thu hồi nợ vì thế tăng đồng thời dư nợ đối với nền kinh tế
tăng làm giảm tỷ lệ các khoản nợ xấu. Nhưng trong thời kỳ suy giảm, các
ngành kinh doanh sản phẩm tiêu dùng bền vững, hàng cao cấp, các ngành
dịch vụ như du lịch, văn phòng, các ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây
dựng, đặc biệt kinh doanh bất động sản,... sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các
ngành hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhiên liệu,... Các món vay,
khá cao và đưa ra tại thời điểm thị trường bất động sản đang gặp khó khăn. Vì
vậy, việc giảm tỷ trọng dư nợ cho vay theo quy định này là điều rất khó,
không những cho các ngân hàng mà còn cả các doanh nghiệp kinh doanh
trong lĩnh vực bất động sản. Nếu quy định này được đưa ra tại thời điểm khi
mới xuất hiện một số ngân hàng bắt đầu tập trung cho vay đối với lĩnh vực
phi sản xuất thì sẽ có tính định hướng cho các NHTM tốt hơn. (Trần Chí
Chinh, 2012)