BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020
PHAN THÀNH CÔNG
HÀ NỘI - 2006
1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục .......................................................................................................1
Danh mục các bảng.....................................................................................4
Danh mục các hình vẽ ................................................................................5
PHẦN MỞ ĐẦU. .......................................................................................6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP VÀ CƠ SỞ LÝ
THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC ...................................................................9
1.1 Tổng quan về công nghiệp. ....................................................................9
1.1.1 Khái niệm ngành công nghiệp.......................................................9
1.1.2 Phân loại sản xuất công nghiệp......................................................9
1.1.3 Vị trí, vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế...........................11
1.2 Cơ sở lý thuyết chung về chiến lược .....................................................13
1.2.1. Khái niệm và vai trò của chiến lược. ............................................13
1.2.1.1 Khái niệm chiến lược. ..........................................................13
2.2.6 Lao động công nghiệp ..................................................................67
2.2.7 Tình hình đầu tư cho công nghiệp ................................................69
2.2.8 Trình độ công nghệ của công nghiệp Bà Rịa Vũng Tàu...............71
2.2.9 Tình hình phát triển các khu, cụm công nghiệp............................73
2.2.10 Đánh giá tổng quan tình hình phát triển công nghiệp trên địa bàn
tỉnh ..............................................................................................75
2.3 Nhận định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với công nghiệp
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. ........................................................................76
2.3.1 Những điểm mạnh (S) ...................................................................76
2.3.2 Những điểm yếu (W) ....................................................................77
2.3.3 Những cơ hội (O) ..........................................................................78
2.3.4 Những thách thức (T) ...................................................................79
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP BÀ RỊA VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP THỰC HIỆN. ..................................................................................80
3.1. Xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp Bà Rịa Vũng Tàu
đến năm 2020 .......................................................................................80
3.1.1. Mục tiêu. ......................................................................................80
3.1.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế cả nước......................................80
3.1.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh . .......................80
3.1.1.3 Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp Việt Nam. ..............83
3.1.1.4 Dự báo tác động của thị trường đối với công nghiệp Bà Rịa
Vũng Tàu . ..........................................................................84
3.1.1.5 Mục tiêu phát triển công nghiệp Bà Rịa Vũng Tàu. ............86
Phan Thành Công – Cao học Quản trị kinh doanh 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
KẾT LUẬN ................................................................................................110
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................112
Phan Thành Công – Cao học Quản trị kinh doanh 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bà Rịa Vũng Tàu là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích tự
nhiên là 1.975 km2, dân số năm 2005 khoảng 934 ngàn người, mật độ
473người/km2. Xét về quy mô diện tích và dân số thì đây là một tỉnh nhỏ,
nhưng xét về kinh tế thì Bà Rịa Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam, là Vùng kinh tế phát triển năng động nhất của cả nước. Năm 2005, GDP
của tỉnh đạt 40.185 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 44,2 triệu
đồng. Trong 64 tỉnh thành trong cả nước Bà Rịa Vũng Tàu xếp thứ ba về quy
mô GDP (sau Thành phố Hồ Chí Minh, và Hà Nội), và thứ nhất về GDP bình
quân đầu người.
Ngành công nghiệp Bà Rịa Vũng Tàu ban đầu được hình thành từ các
cơ sở sửa chữa tàu thuyền, chế biến hải sản sơ cấp xây dựng từ những năm
đầu của thập niên 60. Sự phát triển công nghiệp được đánh dấu vào thời điểm
những năm cuối của thập kỷ 80 với sự ra đời và phát triển của công nghiệp
khai thác dầu khí và thực sự phát triển mang tính bùng phát trong giai đoạn
1996-2000 và 2001-2005. Đến nay nền công nghiệp Bà Rịa Vũng Tàu đã có
một cơ cấu tương đối đầy đủ với sự có mặt của nhiều ngành công nghiệp như:
Năng lượng, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, phân NPK, gạch men,
đề mang tính chất chuyên ngành.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp, trong đó
có phương pháp phân tích và so sánh với các báo cáo đáng tin cậy của những
cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh cũng như các báo cáo của các viện
nghiên cứu, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược, những giải pháp và
những kiến nghị.
5. Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngành công nghiệp.
- Đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
trong thời gian qua.
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
8
- Xác định điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của
ngành công nghiệp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Xây dựng chiến lược và đề ra các giải pháp, kiến nghị để phát triển
công nghiệp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong thời gian tới.
6. Kết cấu của luận văn:
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về công nghiệp và cơ sở lý thuyết về chiến
lược.
- Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Bà
Rịa Vũng Tàu.
- Chương 3: Xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp Bà Rịa Vũng
+ Sản xuất hàng hóa.
1.1.2. Phân loại sản xuất công nghiệp:
Theo hệ thống phân ngành của Tổng cục Thống kê thì ngành công
nghiệp gồm ba ngành gộp lớn:
+ Công nghiệp khai khoáng;
+ Công nghiệp chế tác;
+ Công nghiệp sản xuất và cung cấp điện, nước.
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
10
Khi nghiên cứu các mối liên kết công nghiệp, người ta đưa ra các khái
niệm về công nghiệp thượng nguồn (Upstream) và hạ nguồn (Downstream).
Các ngành công nghiệp thượng nguồn là những ngành công nghiệp tạo
nguyên liệu và sản phẩm trung gian, đòi hỏi vốn đầu tư cao và công nghệ cơ
bản, công nghệ cao. Các ngành công nghiệp hạ nguồn là những ngành công
nghiệp sản xuất ra sản phẩm cuối cùng cho tiêu dùng, thường có thể đòi hỏi
đầu tư ít, sử dụng nhiều lao động, có thể có quy mô sản xuất vừa và nhỏ….
Những ngành công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn có mối liên kết dọc rất
chặt chẽ. Theo một chuyên ngành nhất định có thể có một hình thức tổ chức
khép kín trong một quốc gia từ công nghiệp thượng nguồn đến hạ nguồn, hay
thực hiện một giai đoạn nào đó theo sự phân công lao động quốc tế thông qua
chế độ thương mại hay hợp đồng gia công [1, tr217].
Một cách tương tự, trong nghiên cứu các quan hệ công nghiệp, ngành
công nghiệp cũng được phân chia theo các khu vực công nghiệp nặng (Heavy
Industry) và công nghiệp nhẹ (Light Industry). Theo cách phân loại trước đây
+ Công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn;
+ Công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.
1.1.3. Vị trí, vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế:
1.1.3.1. Vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế:
Trong lịch sử phát triển của nhiều nước trên thế giới, công nghiệp hóa
là biện pháp cốt lõi để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một
nền kinh tế hiện đại, có công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát
triển. Tính tất yếu của giai đoạn công nghiệp hóa trong sự phát triển của nhiều
quốc gia đã được thừa nhận một cách phổ biến.
Theo một quan niệm tương đối thông dụng và phù hợp với điều kiện
nước ta, công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi về căn bản, toàn diện
phương thức sản xuất và dịch vụ kinh tế – xã hội từ sử dụng sức lao động thủ
công là chính sang sử dụng rộng rãi sức lao động gắn liền với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ để tạo ra một năng suất lao động mới,
trình độ văn minh xã hội cao.
Mức độ công nghiệp hóa của một nước chẳng những thể hiện ở tỷ trọng
cao của sản xuất công nghiệp, số lượng lao động công nghiệp so với nông
nghiệp, mà đặc biệt là thể hiện ở tính phổ cập các quy trình theo nguyên tắc
công nghiệp được áp dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội.
Đó là quá trình của nhiều nước công nghiệp phát triển đã trải qua và các nước
đang phát triển đang vươn tới.
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
12
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
13
là nơi tiêu thụ các sản phẩm từ một số ngành kinh tế kỹ thuật khác. Thứ hai,
công nghiệp phát triển tạo nhiều cơ hội việc làm cho đông đảo nhân dân. Thứ
ba, sự phát triển của nó làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt xã hội của một quốc
gia. Thứ tư, với một chiến lược phát triển công nghiệp hợp lý chú trọng nhiều
tới sự phát triển bền vững của một quốc gia, sự phát triển công nghiệp góp
phần làm giảm bớt sự khác biệt giữa các khu vực dân cư.
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC:
1.2.1. Khái niệm và vai trò của chiến lược:
1.2.1.1. Khái niệm chiến lược:
* Sự ra đời và phát triển lý thuyết về chiến lược kinh doanh:
Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự thời xa xưa
với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh.
Trong quân sự cũng có nhiều quan niệm về chiến lược, theo từ điển Larouse
“Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng”. Theo thời
gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển sang các lĩnh vực
khoa học khác như: chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường.
Trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, chiến lược phát triển muộn hơn
vào nửa đầu thế kỷ XX. Đến những năm 1950 xuất hiện một số các chủ
trương, ý tưởng hoạch định chiến lược trong các doanh nghiệp chủ yếu dựa
trên cơ sở phân tích các tiềm lực tài nguyên. Vào giai đoạn này môi trường
kinh doanh của doanh nghiệp đã chứng kiến những biến đổi mới.
- Sự phát triển nhanh chóng của một xã hội tiêu dùng, cung vượt xa
cầu. Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn, họ trở nên khó tính hơn,
Các nhà công nghiệp Nhật Bản sớm nhận thức được điều đó, vào cuối
những năm 1950 họ đã chú ý đến marketing, các giải pháp con người và tài
chính đắp lại những đổi thay của môi trường kinh doanh nên họ vẫn duy trì
được nhịp độ tăng trưởng đều đặn, trong khi đó nhiều công ty phương Tây đã
rơi vào đình đốn trong sự say sưa với quản lý nội bộ, hoàn thiện quy trình,
thao tác, tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động... những điều mà trước
đây đã từng dẫn họ đến thành công.
Trong điều kiện đó, quản lý chiến lược đã xuất hiện như một cứu cánh
trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Quản lý chiến lược là quản lý hành vi
ứng xử của doanh nghiệp với môi trường, xuất hiện trong điều kiện có cạnh
tranh. Nhiều tác giả cho rằng không có đối thủ cạnh tranh thì không có chiến
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
15
lược. Mục đích của quản lý chiến lược là nhằm tạo ra ưu thế trước đối thủ
cạnh tranh. Quản lý chiến lược là một nội dung quan trọng của quản trị doanh
nghiệp nói chung, là biện pháp đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh
nghiệp.
Ở nước ta khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị
trường các doanh nghiệp và các cơ quan đã bắt đầu có hoạt động quản lý
chiến lược và đến nay quản lý chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của nhà quản lý nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng.
* Các khái niệm về chiến lược kinh doanh:
Tuỳ theo từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về
chiến lược kinh doanh.
:
Plan
Mưu lược
:
Ploy
Mô thức, dạng thức
:
Pattern
Vị thế
:
Position
Triển vọng
:
Perspective
+ Chiến lược là kế hoạch hay một chương trình hành động được xây
dựng một cách có ý thức.
Chiến lược kinh doanh phản ảnh các hoạt động của đơn vị kinh doanh
bao gồm quá trình đặt ra các mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử
dụng để đạt được mục tiêu đó.
* Các loại chiến lược kinh doanh:
- Căn cứ vào phạm vi của chiến lược kinh doanh:
+ Chiến lược chung (chiến lược công ty): Chiến lược chung thường đề
cập tới những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài.
Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
+ Chiến lược bộ phận: Đây là chiến lược cấp hai. Thông thường trong
doanh nghiệp, loại chiến lược bộ phận này gồm: chiến lược sản xuất, chiến
lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược marketing,
chiến lược nghiên cứu phát triển.
Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một
chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của một doanh nghiệp.
- Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược kinh doanh: được chia làm 4
loại:
+ Loại thứ nhất: Chiến lược tập trung vào nhân tố then chốt. Tư tưởng
chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là không dàn trải các nguồn lực
mà cần tập trung cho những hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đối
với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Loại thứ hai: Chiến lược kinh doanh dựa trên xu thế tương đối, bắt
đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so
với các đối thủ cạnh tranh, thông qua sự phân tích đó tìm ra những điểm
mạnh, điểm yếu của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh.
+ Loại thứ ba: Chiến lược sáng tạo tấn công. Trong loại chiến lược này,
chiến lược kinh doanh được xây dựng bằng cách nhìn thẳng vào những vấn đề
phổ biến, tưởng như khó làm khác được, đặt câu hỏi tại sao lại phải làm như
vậy? Xét lại những vấn đề trước đây để tìm ra những khám phá mới làm cơ
sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình.
- Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: “Quản trị chiến lược là một
bộ những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn
của một công ty”. Cách tiếp cận này cho phép các nhà quản trị xác định chính
xác hơn các mục tiêu của tổ chức, đó là nền tảng của quản trị đồng thời cũng
cho phép quản trị sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của tổ chức.
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
19
- Cách tiếp cận các hành động: “Quản trị chiến lược là tiến hành sự
xem xét môi trường hiện tại và tương lai, tạo ra những mục tiêu của tổ chức,
ra quyết định, thực thi những quyết định và kiểm soát việc thực hiện quyết
định, nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai”.
Từ các cách tiếp cận trên chúng ta có thể có khái niệm: Quản trị chiến
lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai,
hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực
hiện các quyết định để đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại
cũng như tương lai nhằm tăng thế lực cho doanh nghiệp [4, tr15].
Một chiến lược khi được hoạch định có hai nhiệm vụ quan trọng và hai
nhiệm vụ đó quan hệ mật thiết với nhau là việc hình thành chiến lược và thực
hiện chiến lược. Hai nhiệm vụ này được cụ thể hóa qua ba giai đoạn tạo thành
một chu trình khép kín, đó là:
+ Giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lược: Là quá trình phân tích
hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp.
+ Giai đoạn triển khai chiến lược: là quá trình triển khai những mục
tiêu chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp. Đây là giai đoạn phức tạp và
tương lai. Mặc dù các quá trình kế hoạch hóa không loại trừ việc các nhà quản
trị dự kiến hoặc dự báo trước các điều kiện môi trường trong tương lai, song
các quá trình đó không chú trọng đến tương lai. Trong khi đó, quá trình quản
lý chiến lược buộc nhà quản lý phân tích và dự báo các điều kiện môi trường
trong tương lai gần cũng như tương lai xa. Nhờ thấy rõ điều kiện môi trường
tương lai mà nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng
hết các cơ hội đó và giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường.
- Thứ ba: Là nhờ có quá trình quản trị chiến lược, doanh nghiệp sẽ gắn
liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan. Do sự biến động
và tính phức tạp trong môi trường ngày càng gia tăng, doanh nghiệp càng cần
phải cố gắng chiếm được vị thế chủ động hoặc thụ động tấn công. Quyết định
chủ động là sự cố gắng dự báo điều kiện môi trường và sau đó tác động hoặc
làm thay đổi các điều kiện dự báo sao cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề
ra. Quyết định thụ động tấn công là dự báo các điều kiện môi trường trong
tương lai và thông qua biện pháp hành động nhằm tối ưu hóa vị thế của doanh
nghiệp trong môi trường đó bằng cách tránh những vấn đề đã thấy trước và
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
21
chuẩn bị tốt hơn để thực hiện bằng được cơ hội tiềm tàng. Các doanh nghiệp
không vận dụng quản trị chiến lược thường thông qua các quyết định phản
ứng thụ động, trong đó chỉ sau khi môi trường thay đổi mới thông qua hành
động. Tuy các quyết định phản ứng thụ động nhiều khi cũng mang lại hiệu
quả, nhưng quản lý chiến lược với trọng tâm là vấn đề môi trường giúp doanh
nghiệp chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thay đổi trong môi trường là
tiêu sửa đổi. Quản trị chiến lược tin tưởng là kế hoạch ban đầu của họ nhất
thiết phải được thực hiện mà không đếm xỉa đến các thông tin bổ sung.
- Thứ ba: Là giới hạn sai sót trong việc dự báo môi trường dài hạn đôi
khi có thể rất lớn. Khó khăn này không làm giảm sự cần thiết phải dự báo
trước. Thực ra việc đánh giá triển vọng dài hạn không nhất thiết phải chính
xác đảm bảo cho công ty không phải đưa ra những thay đổi thái quá mà vẫn
thích nghi được với những diễn biến môi trường một cách ít đỗ vỡ hơn.
- Thứ tư: Là một số doanh nghiệp dường như vẫn ở giai đoạn kế hoạch
hóa và chú ý quá ít đến vấn đề thực hiện. Hiện tượng này khiến một số nhà
quản trị nghi ngờ về tính hữu ích của quá trình quản trị chiến lược. Thế
nhưng, vấn đề không phải tại quản trị chiến lược mà là tại người vận dụng nó.
Hiển nhiên, các doanh nghiệp cần phải “đề ra kế hoạch để mà thực hiện” nếu
bất kỳ dạng kế hoạch hóa nào có khả năng mang lại hiệu quả.
Mặc dù những nhược điểm nói trên khiến một số công ty không vận
dụng quá trình quản trị chiến lược, nhưng những vấn đề tiềm tàng nhìn chung
là có thể khắc phục được nếu biết vận dụng quá trình quản trị chiến lược một
cách đúng đắn. Những ưu điểm của việc vận dụng quá trình chiến lược rõ
ràng là có giá trị lớn hơn nhiều so với nhược điểm.
* Những lầm lẫn trong quản trị chiến lược cần tránh:
- Thứ nhất: Quản trị chiến lược không cố ý sao chép tương lai. Những
kế hoạch không được theo đuổi những tương lai xa vời.
- Thứ hai: Quản trị chiến lược không chỉ đơn giản tiên đoán doanh số
và rồi ấn định những gì phải làm để đạt được điều đó.
- Thứ ba: Quản trị chiến lược không thể đơn giản như là một bộ những
thể thức hay sơ đồ mạch nối tiếp.
1.2.2. Quy trình hoạch định chiến lược:
1.2.2.1. Phân tích môi trường hoạt động:
Các yếu tố môi trường có một tác động to lớn vì chúng ảnh hưởng đến
toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình quản trị chiến lược. Chiến lược được
trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh,
người mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và doanh nghiệp (sản
phẩm) thay thế. Ảnh hưởng chung các yếu tố này thường là một sự thực phải
chấp nhận đối với tất cả các doanh nghiệp, để đề ra được một chiến lược
thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó. Sự hiểu biết các yếu tố
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
24
này giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan
đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải.
1.2.2.2. Phân tích các nguồn lực:
Tất cả các tổ chức đều có những điểm mạnh và yếu trong các lĩnh vực
kinh doanh. Những điểm mạnh và yếu tố bên trong cùng với những cơ hội và
nguy cơ bên ngoài và nhiệm vụ rõ ràng là những điểm cơ bản cần quan tâm
khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược. Các mục tiêu và chiến lược được xây
dựng nhằm lợi dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên
trong - những yếu tố mà nhà quản trị có thể kiểm soát được.
Trong một doanh nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên
trong nó, phải cố gắng phân tích một cách kỹ lưỡng các yếu tố nội bộ đó
nhằm xác định rõ các ưu điểm và nhược điểm của mình. Trên cơ sở đó đưa ra
các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm để đạt được
lợi thế tối đa. Các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm các lĩnh vực chức năng như:
nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tài chính kế toán,
marketing và nề nếp tổ chức chung.
Chỉ qua phân tích nội bộ của doanh nghiệp cũng thấy rằng sự sống còn
5. Sản phẩm, dịch vụ thay thế
Môi trường nội bộ
1. Nguồn nhân lực
2. Nguồn lực vật chất
- Nguồn vốn
- Nhà xưởng, máy móc, thiết bị
- Nguồn thông tin
.........
3. Nguồn lực vô hình
- Triết lý kinh doanh
- Cơ cấu tổ chức
- Uy tín
- Văn hoá tổ chức bền vững
.........
Hình 1.1: Các bộ phận của môi trường vĩ mô và vi mô.
Phan Thành Công - Cao học QTKD 2004-2006
Đại học Bách Khoa Hà Nội
26
1.2.2.3. Xác định mục tiêu:
Thuật ngữ “Mục tiêu” được dùng để chỉ các tiêu đích hoặc kết quả cụ
thể mà doanh nghiệp phấn đấu đạt được. Tuy mục tiêu được suy ra trực tiếp
từ chức năng nhiệm vụ, chúng cần phải cụ thể rõ ràng hơn. Thí dụ, nếu trong
nội dung chức năng nhiệm vụ có đề ra mệnh đề tổng quát, trong đó hướng các